Cô rót một tách trà đầy và cầm nó trong tay tận hưởng hơi ấm. Từ bếp cô có thể nhìn thấy lưng của Pietro Zini, ông ta đang nói chuyện điện thoại ở lối vào, nhưng cô không nghe thấy gì cả.
Cô đã thuyết phục được Shalber chờ mình ở nhà khách của Interpol, sẽ là khôn ngoan hơn nếu một mình cô tới gặp ông cảnh sát già. Ông ta dù gì cũng là một đồng nghiệp trong ngành và sẽ không để sập bẫy như Federico Noni. Ông ta sẽ đưa ra một đống câu hỏi vì nghĩ rằng không có bất cứ cuộc điều tra chính thức nào đang được tiến hành. Hơn nữa, cảnh sát không ưa gì mấy tay Interpol. Xuất hiện ở cửa nhà, cô chỉ đơn giản nói với ông ta rằng ở Milan mình đang phụ trách một vụ án tương tự như vụ của Figaro. Ông cảnh sát già đã tin cô.
Trong lúc chờ đợi cuộc điện thoại kết thúc, Sandra ngó qua đống hồ sơ Zini đã đưa cô. Nó là bản sao của hồ sơ chính thức về Nicola Costa. Cô không thắc mắc vì sao ông ta lại có nó, nhưnng ông ta vẫn muốn đính chính rằng khi còn trong Sở Cảnh sát, ông ta có thói quen giữ bản sao của những giấy tờ.
“Cô sẽ không biết bao giờ và ở đâu có thể nảy ra ý tưởng phá án,” ông ta đã nói vậy để biện minh. “Vì thế lúc nào trong tay cũng phải có mọi thứ.”
Lật qua những trang tài liệu, Sandra nhận ra rằng Zini là một người rất tỉ mỉ. Có rất nhiều ghi chú, nhưng những biên bản cuối cùng lại khá qua loa. Cứ như thể ông ta muốn đẩy nhanh thời gian khi biết mình đang dần mù lòa. Trong một số tình huống quan trọng như liên quan đến việc xử lý lời khai của Costa, cũng chỉ thấy một sự đại khái tương tự. Chứng cứ xác đáng không đủ và thiếu lời khai nhận tội, hệ thống chứng cứ có thể sụp đổ như một lâu đài bằng giấy.
Bỏ qua đống biên bản, cô chuyển nhanh sang báo cáo kết luận. Có ảnh của đội điều tra hiện trường chụp lại những hiện trường vụ án khác nhau. Đầu tiên là các vụ tấn công xảy ra trước vụ giết người. Ba nạn nhân bị tấn công bất ngờ trong lúc ở một mình tại tư gia của họ. Tất cả đều xảy ra vào thời điểm xế chiều. Tên điên loạn đã dùng kéo đâm họ vào nhiều chỗ trên cơ thể. Những vết thương đều không sâu đến mức gây tử vong và chủ yếu tập trung vào ngực, chân và vùng kín.
Theo báo cáo của các bác sĩ tâm thần, kẻ tấn công đã ngụy trang một vụ xâm hại tình dục. Mục đích chính của tên điên loạn không phải là để đạt cực khoái như vẫn thường xảy ra với một số kẻ bạo dâm chỉ tìm thấy khoái lạc khi hành hạ bạn tình. Figaro có một mục đích khác: Làm cho những người phụ nữ ấy không còn hấp dẫn với những gã đàn ông khác.
Nếu tao không có được bọn mi thì cũng chẳng thằng nào có được.
Đó là thông điệp mà những vết thương gửi gắm. Và hành vi này hoàn toàn tương thích với nhân cách của Costa. Vì mắc chứng hở hàm ếch, hắn thường bị phụ nữ xa lánh. Vì thế hắn không cưỡng dâm nạn nhân. Trong quan hệ thể xác bằng vũ lực, hắn sẽ cảm nhận được sự ghê tởm của họ, và như vậy với hắn kinh nghiệm về việc bị hắt hủi lại tái diễn. Kéo – trái lại – là một sự thỏa hiệp tuyệt vời. Chúng cho phép hắn vui thú nhưng cùng lúc giữ được khoảng cách an toàn với những người phụ nữ cả đời kinh sợ hắn. Khoái cảm nam tính được thay thế bằng sự thỏa mãn khi nhìn thấy họ đau đớn.
Nhưng nếu Nicola Costa không phải là Figaro, như Shalber dự đoán, vậy thì phải xem xét lại toàn bộ hồ sơ tâm lý của bị cáo.
Sandra chuyển qua xem hình ảnh trong vụ án mạng của Giorgia Noni. Trên thi thể là những dấu vết y hệt như những gì tên điên loạn để lại trên người những nạn nhân khác. Nhưng lần này hắn gây thương tích để giết người.
Tên sát nhân đã đột nhập vào nhà nạn nhân như những lần trước đây. Chỉ có điều lần này có sự hiện diện của một người thứ ba, Federico. Theo những gì cậu ta kể lại, hắn đã chạy trốn qua lối cửa hậu ngay sau khi nghe thấy tiếng còi hiệu xe cảnh sát.
Dấu chân của Figaro lúc trốn chạy đã in trên nền đất trong khu vườn.
Cảnh sát chụp ảnh hiện trường đã ghi lại những lớp đầu tiên dấu giày để lại. Không hiểu tại sao nhưng Sanda lại chợt nghĩ tới cuộc gặp của David với cô gái lạ mặt chạy bộ trên bãi biển.
Những sự trùng hợp, cô nghĩ.
Bản năng mách bảo, chồng cô đã lần theo những vết chân trên cát để khám phá xem đó là ai. Bỗng nhiên, cô thấy hành động đó hàm chứa một ý nghĩa. Cho dù cô vẫn chưa biết đó là gì. Đang lúc mải miết với suy tư ấy, Zini đã kết thúc cuộc gọi và trở lại phòng bếp.
“Nếu muốn, cô có thể mang nó đi,” ông ta ám chỉ đống hồ sơ. “Tôi không cần nó nữa”
“Cảm ơn. Giờ có lẽ tôi nên đi.”
Ông cảnh sát ngồi trước mặt cô, chống hai tay lên bàn. “Cô chờ chút. Tôi không hay có khách đến thăm nên muốn nói dăm ba câu chuyện.”
Trước khi có cú điện thoại, Zini hình như chỉ muốn thoát khỏi cô càng nhanh càng tốt. Giờ ông ta lại yêu cầu cô ở lại. Không có vẻ là một cử chỉ lịch sự thông thường, nhưng cô vẫn quyết định theo lời ông ta để xem ông ta đang có ý định gì.
Và gã Shalber quỷ quyệt sẽ phải chờ đợi thêm chút nữa. “Được thôi, tôi sẽ ở lại.” Zini làm cô nhớ tới thanh tra De Michelis, cô cảm thấy có thể tin tưởng được người đàn ông có đôi tay to lớn khiến ông chẳng khác nào một cái cây.
“Trà ngon chứ?”
“Vâng, ngon.”
Ông cảnh sát mù rót thêm một tách, dù nước trong bình trà không còn được ấm nữa. “Tôi vẫn thường làm việc này với vợ. Những ngày Chủ nhật, khi chúng tôi trở về từ buổi lễ nhà thờ, cô ấy pha trà và chúng tôi ngồi ở đây trò chuyện. Đó là buổi hẹn hò của chúng tôi.” Ông mỉm cười. “Tôi nghĩ là trong hai mươi năm chung sống, chúng tôi chưa bao giờ bỏ lỡ buổi nào.”
“Hai người thường nói về chuyện gì?”
“Về tất cả, chúng tôi không có một chủ đề cụ thể nào. Cái hay nằm ở chỗ đó: biết là mình có thể chia sẻ mọi điều với nhau. Đôi khi chúng tôi thảo luận, cười nói hay chìm vào những ký ức. Vì không được may mắn có khả năng sinh con, chúng tôi biết mình phải đương đầu với một kẻ thù đáng sợ mỗi ngày. Sự yên lặng thật tàn nhẫn. Nếu cô không học cách để xua đuổi nó, nó sẽ len lỏi vào những khe hở trong mối quan hệ, lấp đầy những vết nứt và làm chúng mở rộng ra. Cùng với thời gian, nó tạo ra một khoảng cách và cô không hề nhận ra.”
“Tôi vừa mất chồng cách đây không lâu.” Lời nói tuột khỏi cô một cách tự phát, không cần suy nghĩ. “Chúng tôi mới cưới được ba năm.”
“Tôi rất tiếc, tôi biết chuyện này khó khăn ra sao. Dù thế nào tôi vẫn thấy mình may mắn. Susy đã ra đi đột ngột, như bà ấy mong muốn”
“Tôi còn nhớ lúc họ đến báo tin David chết.” Sandra không muốn nghĩ tới việc ấy. “Còn ông biết tin đó thế nào?”
“Một sáng nọ tôi đã cố đánh thức bà ấy.” Zini không nói gì thêm, thế là quá đủ. “Nghe có vẻ ích kỷ, nhưng một căn bệnh là lợi thế cho những ai còn phải sống. Nó giúp cô chuẩn bị tâm lý cho những việc tồi tệ hơn. Đằng này như vậy thì…”
Sandra hiểu ông ta định nói gì. Sự trống rỗng bất thình lình, việc không thể đảo ngược, nhu cầu được nói chuyện, được trao đổi không thể được thỏa mãn ít ra trước khi mọi chuyện khép lại vĩnh viễn. Nỗ lực điên rồ của việc làm ngơ như không có chuyện gì xảy ra. “Zini, ông tin vào Chúa chứ?”
“Cô đang định hỏi tôi điều gì vậy?”
“Điều tôi nói,” Sandra nhắc lại. “Ông đi lễ nhà thờ, vậy ông là người theo đạo. Ông không trách Ngài về chuyện đã xảy ra?”
“Tin vào Chúa không có nghĩa bắt buộc phải yêu Ngài.”
“Tôi không hiểu ý ông.”
“Mối quan hệ của chúng ta với Ngài chỉ được xây dựng trên niềm hy vọng rằng có thứ gì đó tồn tại sau cái chết. Nhưng nếu không có một cuộc sống vĩnh hằng, cô vẫn kính yêu vị Chúa trời đã tạo ra mình? Nếu không có sự đền đáp mà họ đã hứa, cô có còn khả năng quỳ gối và ca tụng Chúa?”
“Ông thì sao?”
“Tôi tin vào sự tồn tại của Đấng tạo hóa, nhưng không tin vào cuộc sống ở thế giới bên kia. Vì thế tôi tự cho phép mình ghét Ngài”. Zini bật ra một tràng cười vừa rộn ràng vừa cay đắng. “Thành phố này đầy những nhà thờ. Chúng thể hiện nỗ lực của con người cũng như sự thất bại của họ khi chống chọi với những sự việc không thể tránh khỏi. Nhưng mỗi con người lại che giấu một bí mật, một truyền thuyết. Nhà thờ tôi yêu thích là nhà thờ Sacro Cuore del Suffragio*. Rất ít người biết rằng ở đó có bảo tàng của những linh hồn trong Luyện ngục*”. Giọng của Zini bỗng trầm xuống. Ông rướn người về phía cô như để thổ lộ một điều hệ trọng.“Vào năm 1897, ít năm sau khi nhà thờ được xây dựng, đã xảy ra một vụ hỏa hoạn. Khi ngọn lửa được khống chế, một vài con chiên đã phát hiện ra trên tường của điện thờ xuất hiện một mặt người do bụi than vẽ nên. Ngay lập tức người ta phao tin rằng đó là hình ảnh của một linh hồn trong Luyện ngục. Sự việc không thể lý giải nổi đã tác động đến trí tưởng tượng của cha Vittore Jounet và thúc đẩy ông lần tìm những dấu vết khác của những người chết đang lang thang trong tội lỗi giữa thế giới này và cố gắng một cách tuyệt vọng để lên Thiên đàng. Điều mà ông ấy tìm thấy được lưu giữ trong bảo tàng đó. Là một cảnh sát chụp ảnh hiện trường, cô nên ghé qua đó, nó có liên hệ rất gần với cô. Cô có biết ông ấy đã khám phá ra điều gì không?”
“Ông làm ơn nói cho tôi biết.”
“Nếu một linh hồn phải tìm cách liên lạc với chúng ta, họ sẽ không dùng âm thanh, mà là ánh sáng.”
Sandra nghĩ tới những tấm ảnh David để lại trong chiếc Leica, và chợt thấy rùng mình.
Không thấy cô bình luận gì cả, Zini xin lỗi. “Tôi không muốn làm cô hoảng sợ, thứ lỗi cho tôi.”
“Không có gì đâu. Tôi nên đến đó, ông có lý.”
Viên cảnh sát già đột nhiên trở nên nghiêm nghị. “Vậy thì cô nên khẩn trương lên. Bảo tàng chỉ mở một tiếng mỗi ngày, sau khi kết thúc bài cầu nguyện buổi chiều.”
Qua giọng nói của Zini, Sandra hiểu rằng đó không chỉ là một lời khuyên đơn thuần.
Nước trào ra từ những nắp cống, xem ra cái bụng của thành phố không đủ sức để chứa nó nữa. Ba ngày mưa xối xả đã đặt hệ thống thoát nước vào một thử thách khó khăn. Nhưng nó đã kết thúc.
Và giờ gió đã tới.
Gió nổi lên mà không cần báo trước, và bắt đầu quét qua những con phố trong trung tâm. Dữ dội và ầm ào, gió đã xâm chiếm Roma, các con hẻm và quảng trường của nó.
Sandra đang tìm đường giữa đám đông vô hình như thể một đội quân bóng ma đang vây hãm cô. Gió muốn ép cô đổi hướng, nhưng cô vẫn tiếp tục mà không hề nao núng. Cô thấy điện thoại rung trong túi xách đang giữ chặt bên sườn. Cô cuống cuồng tìm nó. Cùng lúc cô nghĩ ra một cái cớ để nói với Shalber, chắc chắn chính ông ta là người gọi. Không hề dễ dàng để thuyết phục ông ta ở lại nhà khách vậy nên cô có thể mường tượng ra ông ta sẽ phản đối như thế nào việc cô không về ngay tức khắc để thông báo kết quả cuộc đối thoại với Zini. Nhưng cô đã chuẩn bị sẵn một cái cớ.
Cuối cùng cô đã tóm được cái điện thoại trong đống lộn xộn những thứ đồ cô mang theo và nhìn màn hình. Cô đã lầm, đó là De Michelis.
“Vega, tiếng ầm ĩ đó là gì thế?”
“Ông đợi một chút.” Sandra tách mình khỏi cơn cuồng phong, trốn vào trong một cánh cổng để nghe tiếp điện thoại. “Giờ ông nghe được rồi chứ?”
“Tốt hơn rồi, cảm ơn cô. Cô thế nào?”
“Có nhiều tiến triển thú vị.” Cô bỏ qua chi tiết sáng hôm đó có kẻ đã nhắm bắn mình. “Giờ tôi không thể nói gì nhiều nhưng tôi đang sắp xếp các mảnh ghép. David đã khám phá ra thứ gì đó rất nghiêm trọng ở thành phố Roma này.”
“Đừng làm tôi thấy áy náy. Khi nào cô về Milan?”
“Tôi cần một vài ngày nữa, có thể nhiều hơn.”
“Tôi sẽ giúp cô gia hạn giấy phép.”
“Cảm ơn thanh tra, ông đúng là một người bạn. Thế ông có tin gì mới cho tôi không?”
“Thomas Shalber.”
“Vậy là ông đã có thông tin.”
“Dĩ nhiên. Tôi đã nói chuyện với một người quen cũ làm việc cho Interpol nhưng giờ đã nghỉ hưu. Cô biết đấy, họ khá hoài nghi khi có người hỏi về đồng nghiệp. Tôi không thể nói thẳng ra, vì vậy tôi đã mời ông ta ăn trưa để ông ta không biết ý định của mình. Nói tóm lại, chuyện khá dài dòng.”
De Michelis có một thói quen xấu là lạc lối trong những chi tiết. Sandra hối thúc ông: “Ông đã khám phá ra điều gì?”
“Ông bạn tôi không quen anh ta trực tiếp nhưng khi còn làm cho Interpol có nghe nói gã Shalber này là một tay cứng rắn. Anh ta không có nhiều bạn, là kiểu người làm việc độc lập và cấp trên không thích điều này. Tuy nhiên anh ta là một cảnh sát làm việc hiệu quả. Cứng đầu, xấu tính, nhưng tất cả đều phải thừa nhận anh ta chính trực. Anh ta không nương tay với bất kỳ ai, hai năm trước anh ta tiến hành một cuộc điều tra nội bộ về vài vụ tham nhũng. Không phải nói chắc cô cũng hình dung ra anh ta mang tiếng xấu đến thế nào, nhưng anh ta đã tóm được một nhóm đồng nghiệp ăn hối lộ của bọn buôn lậu ma túy. Anh ta quả là một hiệp sĩ liêm chính!”
Định nghĩa mỉa mai và cố ý phóng đại của De Michelis làm cô suy nghĩ. Một cảnh sát như ông ta thì liên quan gì đến những linh mục ân giải? Quả thực, lý lịch cá nhân của Shalber cho thấy ông ta có vẻ hứng thú hơn với những trường hợp thấy rõ sự bất công. Tại sao ông ta lại nổi đóa với những linh mục thực hiện nhiệm vụ tích cực và xét cho cùng, họ chẳng làm hại đến ai?
“Thanh tra, ông nghĩ sao về Shalber?”
“Từ những gì tôi được biết, anh ta có vẻ là một kẻ phá đám bướng bỉnh. Nhưng tôi nghĩ anh ta là người đáng tin cậy.”
Những lời nói của De Michelis làm Sandra yên lòng. “Cảm ơn ông, tôi sẽ lưu tâm tới điều đó.”
“Nếu cô còn cần tôi giúp gì, cứ gọi cho tôi nhé.”
Cô ấn phím kết thúc cuộc điện thoại và hào hứng trở lại lội ngược dòng sông vô hình của gió.
Lúc đuổi khéo cô ra khỏi nhà, Pietro Zini đã gửi cho cô một lời nhắn nhủ mơ hồ. Chuyến viếng thăm bảo tàng linh hồn của Luyện ngục là việc không thể trì hoãn. Sandra không biết mình mong đợi gì ở nơi đó nhưng cô chắc chắn hiểu rất rõ lời nói của ông cảnh sát khiếm thị.
Có thứ gì đó, và cô cần phải thấy nó. Ngay lập tức.
Chỉ trong ít phút, cô đã tới trước cửa nhà thờ Sacro Cuore del Suffragio. Phong cách Tân Gothic gợi cô nhớ ngay tới Nhà thờ lớn của Milan, cho dù công trình được xây dựng vào cuối thế kỷ thứ mười chín. Ở bên trong người ta đang cử hành Lễ Thắp Nến Hiệp Nhất, với lời kinh rửa tội kết thúc bài cầu nguyện buổi chiều. Không có nhiều người. Gió đập vào những cánh cửa, len lỏi trong một vài khe hở và rú rít tung hoành giữa những gian thờ.
Sandra tìm thấy chỉ dẫn tới bảo tàng linh hồn của Luyện ngục và đi theo.
Cô sớm phát hiện ra rằng đó là một bộ sưu tập những di vật lạ lùng – ít nhất là chục cái , chen chúc trong một cái tủ trưng bày duy nhất nằm ở hành lang lối đi dẫn tới nơi để đồ thánh. Chỉ có vậy. Những đồ vật còn nguyên dấu vết của vụ hỏa hoạn. Trong số đó có một quyển sách cầu nguyện cũ đang mở ở trang có in dấu năm ngón tay mà người ta cho là của một người chết. Hoặc những dấu vết mà linh hồn bất hạnh của một nữ tu sĩ quá cố đã để lại trên một chiếc vỏ gối vào năm 1864. Hay những dấu vết trên áo choàng và áo sơ mi của một viện mẫu* đã đón tiếp linh hồn của một thầy tu vào năm 1731.
Khi cảm thấy sức nặng của một bàn tay đặt lên lưng mình, Sandra không hề sợ hãi. Trái lại, cô đã hiểu được lý do tại sao Pietro Zini chỉ cô tới đó. Quay người lại, cô trông thấy anh ta.
“Tại sao cô lại đi tìm tôi?” người đàn ông có vết sẹo trên thái dương hỏi.
“Tôi là một cảnh sát,” cô trả lời mau lẹ.
“Không chỉ vì lý do này. Không có cuộc điều tra chính thức nào cả, cô đang làm việc riêng. Tôi hiểu ra điều này sau cuộc gặp của chúng ta ở nhà thờ Thánh Luigi dei Francesi. Tối hôm qua cô đã muốn tóm tôi, cô muốn bắn tôi.”
Sandra không đáp lại, rõ ràng là anh ta có lý. “Anh thật sự là một linh mục,” cô khẳng định.
“Phải, tôi là linh mục,” người đó xác nhận.
“Chồng tôi là David Leoni, cái tên này có gợi cho anh điều gì không?”
Anh ta có vẻ suy nghĩ. “Không.”
“Anh ấy là một phóng viên ảnh. Anh ấy bị chết vài tháng trước đây do ngã từ một tòa nhà xuống. Anh ấy đã bị giết.”
“Điều này thì có liên quan gì tới tôi?”
“Anh ấy đang điều tra về những linh mục ân giải, anh ấy đã chụp hình anh tại một hiện trường vụ án.”
Nghe thấy cô nhắc tới giáo đoàn ân giải, vị linh mục choáng váng. “Và anh ta bị giết chỉ vì việc này?”
“Tôi không biết.” Sandra ngừng lại. “Chính anh là người đã gọi điện cho Zini khi nãy. Tại sao anh muốn gặp lại tôi?”
“Để bảo cô dừng lại.”
“Tôi không thể. Tôi phải khám phá ra lý do vì sao David bị chết và tìm ra kẻ sát nhân. Anh có thể giúp tôi không?”
Người đàn ông rời cặp mắt màu xanh da trời buồn bã khỏi cô và chăm chú nhìn tủ trưng bày, vào di vật của một phiến gỗ ở trên có khắc hình một cây thánh giá. “Thôi được. Nhưng cô phải hủy tấm ảnh chụp tôi. Và tất cả những gì chồng cô đã khám phá ra về giáo đoàn ân giải.”
“Tôi sẽ làm ngay khi có được câu trả lời.”
“Còn ai khác biết về chúng tôi không?”
“Không,” cô nói dối. Cô không đủ dũng khí để nói với anh ta về Shalber và Interpol. Cô lo ngại rằng nếu biết bí mật của mình bị đe dọa, linh mục ân giải đó sẽ biến mất vĩnh viễn.
“Làm thế nào cô biết được tôi đang điều tra về Figaro?”
“Cảnh sát biết thông tin, họ đã đặt máy nghe trộm khi các anh bàn về vụ đó”. Cô hy vọng người đàn ông sẽ hài lòng với lời nói dối ấy. “Yên tâm đi, họ không biết mình đang dính dáng tới ai đâu.”
“Nhưng cô thì biết.”
“Tôi biết cách tìm ra các anh. David đã chỉ tôi.”
Người đàn ông gật gù. “Tôi thấy không còn việc gì nữa.”
“Làm thế nào tôi lần ra dấu vết của anh?”
“Tôi sẽ tới tìm cô.”
Anh quay lưng và chuẩn bị cất bước. Nhưng Sandra giữ anh lại: “Sao tôi biết được là anh không lừa tôi? Làm thế nào tôi có thể tin anh nếu tôi không biết anh là ai và anh đang làm gì?”
“Cô chỉ đang tò mò. Và những kẻ tò mò thường phạm tội kiêu căng.”
“Tôi chỉ đang cố hiểu,” Sandra biện minh.
Vị linh mục lại gần mặt tủ kính đang lưu giữ những món đồ không chắc có thể là di vật. “Những đồ vật này thể hiện sự mê tín. Nỗ lực của con người đi dò xét trong một không gian không thuộc về họ. Tất cả đều muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra với họ và khi nào thời gian của họ sẽ kết thúc. Nhưng họ lại không nhận ra rằng mọi câu trả lời họ có được đều mang tới một sự ngờ vực mới. Vì vậy, cho dù tôi có giải thích về việc mình làm, cô cũng sẽ không thấy thỏa mãn.”
“Vậy thì nói cho tôi biết tại sao anh làm việc đó…”
Vị linh mục ân giải im lặng vài giây. “Có một nơi mà ở đó, thế giới ánh sáng tiếp xúc với thế giới bóng tối. Và ở đó, xảy ra mọi việc: trong vùng đất nhá nhem mọi thứ tan loãng ra, lẫn lộn, mơ hồ. Chúng tôi là những người canh gác có nhiệm vụ bảo vệ biên giới đó. Nhưng thi thoảng cũng có thứ lọt được qua.” Anh quay lại nhìn Sandra. “Tôi phải tống khứ nó trở lại bóng tối.”
“Tôi có thể hỗ trợ anh trong vụ Figaro,” cô nói theo bản năng. Và cô thấy vị linh mục nán lại chờ đợi. Vậy là cố lấy trong túi tập hồ sơ về vụ án mà Zini đã đưa cho cô đặt vào tay anh. “Tôi không biết liệu thứ này có ích hay không, nhưng tôi tin đã khám phá ra điều gì đó về vụ án mạng của Giorgia Noni.”
“Làm ơn hãy nói cho tôi biết.”
Thái độ lịch thiệp của vị linh mục ân giải làm cô bất ngờ. “Federico Noni là nhân chứng cuối cùng của sự việc. Theo như lời khai của anh ta, kẻ sát nhân chỉ dừng tấn công cô em gái khi nghe thấy còi hiệu của xe cảnh sát. Chỉ lúc đó hắn mới bỏ chạy.” Sandra mở tập hồ sơ và đưa cho anh xem một tấm ảnh. “Đây là dấu chân Figaro để lại lúc chạy trốn, nó in trên nền đất trong vườn sau khi hắn băng qua lối cửa hậu.”
Vị linh mục giương mắt để nhìn rõ hơn hình ảnh dấu giày trên luống cây. “Có gì bất thường ư?”
“Federico Noni và cô em gái Giorgia là nạn nhân của một loạt những thảm kịch. Họ đã bị mẹ bỏ rơi, rồi trở thành trẻ mồ côi khi ông bố qua đời, đến vụ tai nạn của người anh, bác sĩ cho rằng anh ta sẽ có thể đi lại được nhưng điều đó không tới và cuối cùng là án mạng của cô em. Quá nhiều thảm kịch.”
“Những dấu giày thì có liên quan gì?”
“David rất thích kể những mẩu chuyện. Anh ấy bị hấp dẫn bởi những sự trùng hợp, hay đồng hiện như Jung đã định nghĩa. Anh ấy tin vào điều đó đến nỗi, một lần nọ, sau một loạt những rủi ro khó có thể tin nổi đã đưa anh ấy tới một bãi biển, anh ấy bắt đầu lần theo những dấu chân của một cô gái chạy bộ để lại trên cát. Anh ấy nghĩ rằng ở cuối con đường đó mình sẽ tìm ra ý nghĩa của những việc tiêu cực đã xảy đến với mình và rằng cô gái đó có thể sẽ là người phụ nữ của đời mình.”
“Rất lãng mạn.”
Anh không mỉa mai, mà nói thực lòng. Sandra cảm nhận được điều đó qua cách anh nhìn cô, vì thế cô tiếp tục câu chuyện. “David chỉ lầm đúng chi tiết cuối. Còn lại đều đúng.”
“Ý cô là gì?”
“Nếu gần đây tôi không nghĩ lại câu chuyện đó, có lẽ tôi sẽ không thể cho anh câu trả lời mà anh rất quan tâm… Giống như mọi cảnh sát, tôi hay ngờ vực những sự trùng hợp. Vì thế, khi David kể mẩu chuyện đó, tôi đã cố phá nó bằng mọi cách, với những câu hỏi kiểu cảnh sát như: Làm thế nào anh chắc chắn rằng đó là dấu chân của một cô gái? Hay là: Làm sao anh biết cô ta đang chạy bộ? Và anh ấy đã trả lời tôi rằng những bước chân đó quá bé để có thể là của nam giới, hoặc ít ra anh ấy đã hy vọng thế… và rằng những dấu chân có phần đầu lún sâu hơn phần gót, vì vậy cô ấy đang chạy.”
Lời khẳng định cuối cùng đủ sức đánh thức điều gì đó trong tâm trí của vị linh mục, đúng như những gì Sandra trông đợi. Anh ta nhìn lại tấm ảnh khu vườn.
Những dấu chân có vẻ lún sâu ở phần gót. “Không phải hắn ta đang chạy trốn… Hắn ta đang đi bộ.”
Cả anh cũng đã tìm ra câu trả lời. Giờ thì Sandra chắc chắn mình đã không nhầm. “Chỉ có hai khả năng. Hoặc Federico Noni đã nói dối việc tên sát nhân chạy trốn khi cảnh sát tới…”
“… hoặc ai đó, sau án mạng, có đủ thời gian để chuẩn bị hiện trường vụ án cho cảnh sát.”
“Những dấu chân đó được cố tình để lại và điều này chỉ có một ý nghĩa duy nhất.”
“… Figaro chưa bao giờ ra khỏi ngôi nhà đó.”
← Tiếng Ý: Kinh Cầu Thánh Tâm Chúa (cho những linh hồn trong Luyện ngục).
← Theo Công giáo, đây là nơi những linh hồn người chết thanh tẩy tội lỗi trước khi lên Thiên đàng.
← Người đứng đầu một đan viện (hay tu viện) nữ của Giáo hội Công giáo Roma.