Nhà tù Regina Coeli* ngày xưa là một tu viện. Nó được xây vào nửa sau thế kỷ mười bảy. Từ năm 1881 nó được chuyển thành một trại giam. Nhưng nó vẫn giữ tên gọi theo mục đích ban đầu, để tỏ lòng tôn kính Đức mẹ.
Công trình có thể chứa khoảng chín trăm tù nhân, được chia thành nhiều khu vực tùy theo tội danh của họ. Ở khu số 8 tập trung những kẻ mắc chứng rối loạn nhân cách ranh giới. Đó là những người sống bình thường trong nhiều năm, làm việc, xây dựng quan hệ, đôi khi lập gia đình, thế rồi đột nhiên phạm một tội ác man rợ mà không thể gán cho một động cơ hiển nhiên và rõ ràng, đặt ra những nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của họ. Họ không mang những dấu hiệu cụ thể của một bệnh tâm thần, sự bất bình thường của họ chỉ hé lộ qua hành vi tội ác và không phải là kết quả của những biểu hiện tâm lý bệnh hoạn: Trong những trường hợp này, chỉ có giết người là bệnh hoạn. Trong khi chờ đợi tòa án kết luận về khả năng lý trí và ý chí của họ, những con người này được đối xử khác so với những cư dân còn lại trong trại.
Từ hơn một năm nay, khu số 8 là nhà của Nicola Costa, bí danh Figaro.
Sau cuộc kiểm tra theo quy định, Marcus bước qua cánh cổng tới một hành lang dài được ngăn bằng những chấn song sắt đang từ từ mở lối vào khu trung tâm của trại giam như thể một con đường đưa dần xuống địa ngục.
Vì dịp này anh mặc áo thầy tu. Anh không quen với cái cổ trắng cứ thít vào họng, cũng chẳng thích cái áo dài cứ bay qua bay lại khi bước đi. Với anh, người chưa bao giờ mặc nó, bộ y phục thầy tu đó chỉ để ngụy trang.
Ít giờ trước, sau khi biết kẻ tấn công hàng loạt hiện đang an toàn sau song sắt, anh cùng Clemente đã bày mưu để gặp hắn. Nicola Costa đang đợi thẩm phán quyết định xem hắn sẽ phải tiếp tục lãnh án trong tù hay chuyển tới bệnh viện tâm thần. Trong lúc đó, hắn đã bắt đầu con đường cải tà quy chính. Sáng nào hắn cũng nhờ quản giáo đưa tới nhà thờ bên trong trại. Hắn xưng tội và tham gia buổi lễ một mình. Nhưng hôm đó, không rõ vì lý do gì cha xứ được Giáo triều triệu tập khẩn cấp. Anh phải suy nghĩ mất một lúc để hiểu ra đó là một sự nhầm lẫn. Clemente đã khéo léo sắp đặt mọi thứ và xin phép cho Marcus được tạm thời thay thế ông ta, vì thế anh tới Regina Coeli mà không gặp phiền phức gì.
Dĩ nhiên việc đó khá nguy hiểm cho bí mật của họ, nhưng bức tranh được tìm thấy trên phòng gác mái của Jeremiah Smith có lẽ đã hé lộ một hiện thực khác. Có khả năng vụ án Figaro vẫn chưa thực sự khép lại. Marcus ở đó để điều tra.
Sau khi đã bỏ lại sau lưng hành lang dài bằng đá, anh bước vào trong một căn phòng bát giác được mở rộng lên phía trên và trên đó có ba tầng đặt buồng giam. Ban công bị chắn bởi những lưới kim loại cao đến sát trần, để ngăn chặn tù nhân có ý định tự tử bằng cách gieo mình xuống dưới.
Một quản ngục dẫn Marcus tới nhà thờ nhỏ và để anh lại một mình chuẩn bị cho nghi lễ tôn giáo. Một trong những nghĩa vụ của giáo sĩ là làm lễ ban thánh thể: những linh mục được yêu cầu thực hiện nghi lễ này hàng ngày. Marcus thuộc vào nhóm những người hoạt động trong một bộ đặc biệt nên được miễn nhiệm vụ này. Sau sự việc xảy ra ở Praha, anh đã tiến hành một số buổi lễ dưới sự hướng dẫn của Clemente để làm quen lại với nghi lễ. Vì thế anh đã sẵn sàng.
Anh không có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về kẻ mà anh sắp gặp, nhất là trạng thái tâm lý của hắn ta. Nhưng định nghĩa nhân cách ranh giới đã thể hiện khá phù hợp ý tưởng về sự tồn tại một khoảng cách mong manh giữa con người và cái ác. Đôi khi, ranh giới này rất mềm dẻo, nó cho phép những cuộc thâm nhập chóng vánh vào miền tối mà luôn đảm bảo khả năng được triệu hồi. Nếu cố kéo, có lúc rào cản đó sẽ bị phá vỡ, để lộ một lối đi nguy hiểm mà một số cá nhân nhất định có thể đi qua một cách dễ dàng. Họ có thể trông rất bình thường, nhưng chỉ cần một bước sang phía bên kia là họ có khả năng biến hình thành thứ tàn độc, không thể ngờ tới.
Theo các bác sĩ tâm thần, Nicola Costa thuộc vào loại khó giải mã này.
Marcus quay lưng về phía những hàng ghế trống trơn, chuẩn bị bàn thánh. Anh nghe thấy tiếng leng keng của chiếc còng số tám trói cổ tay hắn. Costa bước vào nhà thờ với dáng vẻ vụng về, theo sau là hai người quản ngục.
Hắn mặc quần jean và áo sơ mi trắng, cài khuy đến tận cổ. Hắn nhẵn nhụi và trọc lốc, ngoại trừ vài nhúm tóc nhô lên đâu đó trên đầu tạo cho hắn một dáng vẻ kỳ quặc. Nhưng cái đập vào mắt bắt cứ ai nhìn hắn là chứng sứt môi lồ lộ, làm môi hắn gợn sóng và tạo ra nụ cười lệch trái.
Tên phạm nhân lê bước tới một trong những hàng ghế. Những quản ngục đỡ hai cánh tay để hắn ngồi xuống, rồi họ đi ra ngoài đứng. Họ sẽ ở đó canh cửa để không xâm phạm sự riêng tư của những giây phút ấy.
Marcus chờ giây lát, rồi quay lại đọc thấy sự ngỡ ngàng trong ánh mắt của Nicola Costa.
“Cha xứ đâu?” Hắn hỏi, vẻ mất phương hướng.
“Ông ấy không được khỏe.”
Costa gật đầu và không nói thêm gì nữa. Hắn siết tràng hạt mân côi trong tay, miệng lẩm bẩm một câu kinh khó hiểu. Thi thoảng hắn buộc phải lấy từ trong túi áo sơ mi một chiếc khăn giấy để thấm nước miếng từ khe môi chảy ra.
“Trước khi làm lễ, anh có muốn xưng tội không?”
“Với linh mục trước tôi đang tiến hành một loại hành trình tâm linh. Tôi kể cho ông ấy nghe về những nỗi sợ của tôi, những hoài nghi và ông ấy dùng Kinh Phúc Âm trả lời tôi. Có lẽ tốt hơn tôi nên chờ ông ấy trở lại.”
Hắn thỏ thẻ như một con cừu non, Marcus nhận thấy điều đó. Hoặc hắn đang diễn rất tốt vai diễn của mình.
“Xin lỗi, tôi nghĩ là anh thích,” anh nói và lại quay lưng lại.
“Gì cơ?” Costa hoang mang hỏi.
“Thú nhận tội lỗi của mình.”
Câu nói rõ ràng làm hắn bất ngờ. “Chuyện gì vậy? Tôi không hiểu.”
“Không có gì, anh cứ bình tâm.”
Hắn có vẻ bình tĩnh và lại bắt đầu cầu nguyện. Marcus đeo dây stola để bắt đầu làm lễ.
“Tôi nghĩ rằng một kẻ như anh sẽ không bao giờ nhỏ lệ vì những nạn nhân của mình. Dị tật đó quả là rất nực cười.”
Những lời lẽ đó như một cú trời giáng với Costa, nhưng hắn cố nhẫn nhịn. “Tôi cứ tưởng linh mục là những người lịch thiệp.”
Marcus tiến lại gần đến nỗi chỉ cách mặt tên phạm nhân có ít centimet. “Đằng nào thì tôi cũng biết mọi chuyện đã diễn ra như thế nào,” anh thì thầm với hắn.
Khuôn mặt của Costa trở thành một cái mặt nạ sáp. Nụ cười giả tạo lạc điệu với ánh mắt bướng bỉnh của hắn. “Tôi đã thú nhận mọi tội ác của mình và tôi sẵn sàng trả giá. Tôi không mong đợi sự ghi nhận, tôi biết mình đã làm điều tồi tệ. Nhưng ít ra tôi cũng cần một chút tôn trọng.”
“Phải rồi,” Marcus mỉa mai tán đồng. “Anh đã khai nhận rất đầy đủ và chi tiết về việc tấn công và sát hại Giorgia Noni.” Anh nói như thể không mấy tin tưởng vào lời chứng mà thông thường nó đủ để giải quyết bất cứ vụ án nào. “Nhưng trước án mạng đó chẳng ai trong số những nạn nhân bị tấn công có thể cung cấp dù chỉ một chi tiết về anh.”
“Tôi dùng mũ trùm đầu.” Costa cắn câu, hắn thấy cần phải tăng sức nặng cho giả thuyết về việc mình có tội. “Hơn nữa anh trai của Giorgia Noni đã nhận ra tôi.”
“Anh ta nhận ra mỗi giọng nói của anh thôi,” Marcus sẵn sàng đáp trả.
“Anh ta nói rằng tên tấn công bị khuyết tật trong giọng nói.”
“Anh ta bị sốc.”
“Không phải, đó là do tôi…” Costa bỏ lửng câu nói.
Marcus truy kích hắn: “Tôi cái gì cơ? Anh muốn nói tới cái môi sứt?”
“Phải,” hắn trả lời rất khó nhọc. Hắn chắc hẳn không thích thú gì khi ai đó nhắc đến dị tật của mình theo kiểu bảo thủ và khinh miệt như thế.
“Vẫn là câu chuyện đó, phải không Nicola? Anh chẳng thay đổi gì từ bé đến giờ. Bọn bạn cùng học gọi anh thế nào? Chúng có đặt biệt danh cho anh đúng không?”
Costa di chuyển trên băng ghế làm phát ra một âm thanh như một tiếng cười. “Mặt thỏ,” hắn ta khoái trá trả lời. “Không hay ho cho lắm, đáng lẽ bọn chúng có thể nỗ lực hơn.”
“Anh có lý, Figaro hay hơn,” Marcus khiêu khích.
Hắn ta bực tức, lấy khăn lau miệng liên tục. “Ông muốn gì ở tôi?”
“Tôi sẽ không thể tha thứ cho anh vì những tội lỗi không phải của anh, Costa.”
“Tôi muốn đi.” Hắn ta quay lại để gọi những người quản ngục.
Nhưng Marcus lại áp sát, đặt một tay lên vai hắn và nhìn thẳng vào mắt hắn. “Nếu lúc nào bọn họ cũng gọi anh là quỷ thì rất dễ quen với ý tưởng đó. Và rồi theo năm tháng anh hiểu rằng, xét cho cùng, đó là thứ duy nhất khiến anh thực sự đặc biệt: Anh không còn là kẻ vô dụng nữa. Khuôn mặt anh ở trên khắp các trang báo. Khi anh ngồi trong phòng xử án mọi người chăm chăm nhìn vào anh. Một bên là không làm cho ai thích, còn bên kia là làm cho họ hoảng sợ. Anh đã quen với sự thờ ơ và khinh miệt của mọi người, nhưng giờ họ buộc phải nhìn thấy anh. Họ không chuyển hướng sang phía bên kia vì họ cần chứng kiến điều mà họ thấy ghê sợ nhất. Không phải anh, mà là trở thành người giống như anh. Và càng quan sát anh, họ càng cảm thấy khác biệt. Anh trở thành bằng chứng ngoại phạm để họ tin rằng mình là những kẻ tốt hơn. Xét cho cùng, về điểm này những con quỷ trở nên có ích.”
Marcus lấy ra từ trong túi áo thầy tu bức tranh anh tìm thấy trên căn phòng gác mái. Anh cẩn thận vuốt phẳng nó trên lưng ghế, rồi đưa ra trước mặt Nicola Costa. Cậu bé và cô bé đang tươi cười giữa thiên nhiên xanh tươi. Cô bé mặc bộ váy đầy vết máu còn cậu bé cầm kéo trong tay.
“Ai vẽ nó vậy?” Tên phạm nhân hỏi.
“Figaro thật.”
“Chỉ có một Figaro là tôi thôi.”
“Không, anh là kẻ mắc chứng nghiện nói dối. Anh xưng tội chỉ để làm cho sự tồn tại nhạt nhẽo của mình có ý nghĩa. Anh cũng giỏi đấy, vì đã thuộc từng chi tiết. Ý tưởng cải đạo cũng rất hay, nó làm anh có vẻ đáng tin hơn. Và tôi nghĩ rằng cảnh sát cũng rất vui khi có thể đóng lại một vụ án có nguy cơ tan tành trong tay họ: Ba người phụ nữ bị tấn công, một người bị sát hại và không có thủ phạm nào.”
“Vậy ông giải thích thế nào về việc sau khi tôi bị bắt không có thêm những nạn nhân khác?” Costa tự tin đưa ra một điểm then chốt có lợi cho mình.
Marcus đã lường trước sự phản pháo đó. “Mới một năm trôi qua, chỉ là vấn đề thời gian, hắn sẽ tiếp tục gây án. Cho đến giờ hắn vẫn thấy thoải mái vì anh đang ở trong này. Tôi cược rằng hắn đã nghĩ đến việc dừng tay nhưng sẽ không kiềm chế được lâu đâu.”
Nicola Costa khịt mũi trong khi không ngừng đảo mắt nhìn khắp giáo đường. “Tôi không biết ông là ai, linh mục. Cũng chẳng rõ vì sao hôm nay ông tới đây. Nhưng sẽ không có ai tin ông đâu.”
“Thú nhận đi. Anh không đủ dũng khí cần có để trở thành một con quái vật. Anh đang lợi dụng công sức của kẻ khác.”
Costa có vẻ như sắp mất bình tĩnh. “Ai nói với ông điều này? Vì sao tôi lại không thể là đứa trẻ trong bức tranh đó?”
Marcus tiến lại gần hắn: “Nhìn nụ cười của mình đi rồi anh sẽ hiểu.”
Nicola Costa cúi xuống nhìn bức vẽ trên giấy tập và không thấy bất cứ dị tật nào trên gương mặt cậu bé.
“Điều này chẳng có ý nghĩa gì hết,” hắn nói liền một hơi.
“Tôi biết,” Marcus đáp. “Nhưng với tôi thế là đủ.”
← Regina Coeli (Nữ Hoàng Thiên Chúa): tên một loại kinh ca tụng Đức mẹ Maria.