Tòa Án Linh Hồn

Lượt đọc: 2887 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8 giờ 01 phút

Marcus ngồi ở một trong những chiếc bàn dài tại nhà ăn của Caritas*. Trên tường có các cây thập tự và poster viết những lời răn của Chúa. Một mùi hương của nước dùng và hành phi ngào ngạt lan tỏa khắp phòng ăn. Vào giờ đó buổi sáng, những người vô gia cư thường lui tới đây đã rời đi và nhà bếp bắt đầu sửa soạn bữa trưa. Thông thường, để lấy bữa sáng, người ta xếp hàng từ lúc 5 giờ. Đến khoảng 7 giờ họ lại ra đường, chỉ trừ những lúc trời mưa hay trời lạnh có người sẽ nán lại đôi chút. Marcus biết rằng rất nhiều người trong số họ – chắc chắn không phải số đông – không còn có thể sống trong không gian kín và từ chối bất cứ chỗ ở nào, nhà trọ của giáo xứ hay nhà ở công cộng, dù chỉ một đêm. Đó chủ yếu là những người ở lâu năm trong tù hoặc trong các viện tâm thần. Tình cảnh mất tự do tạm thời làm họ mất phương hướng. Và giờ họ không còn biết mình từ đâu tới và nơi đâu mới là nhà.

Don* Michele Fuente đón tiếp họ với một nụ cười thánh thiện, ông đang phân phát những bữa ăn nóng hổi và hơi ấm tình người. Marcus quan sát ông trong lúc ông bảo bạn những cộng sự của mình để sắp xếp mọi thứ chu toàn cho đám người khốn khổ mới sẽ âm thầm đổ về trong vòng vài giờ nữa. So với vị linh mục và sứ mệnh đã được ấn định, anh thấy mình là một thầy tu không hoàn chỉnh. Rất nhiều thứ đã biến mất khỏi trí nhớ của anh và cả con tim của anh.

Khi xong việc, Don Michele tới ngồi đối diện anh.“Cha Clemente đã thông báo cho tôi về chuyến thăm của anh nhưng chỉ nói rằng anh cũng là một linh mục và tôi không nên hỏi tên anh.”

“Nếu ông không thấy phiền.”

“Tôi không thấy phiền đâu,” vị thầy tu xác nhận. Ông ta đậm người, đôi gò má căng và thường xuyên ửng đỏ, chiếc áo thầy tu lấm tấm vụn thức ăn và vết dầu mỡ. Ông khoảng năm mươi tuổi, bàn tay nhỏ, tóc bù xù. Người đàn ông đeo một cặp kính gọng đen và tròn, một chiếc đồng hồ bằng nhựa trên cổ tay mà ông ta liên tục ngó, chân đi giày thể thao Nike đã móp.

“Ba năm trước, ông đã nghe một lời xưng tội,” Marcus nói. Đó không phải là một câu hỏi.

“Vâng, từ đó tôi còn nghe nhiều lời xưng tội khác nữa.”

“Nhưng chắc ông còn nhớ lời xưng tội đó. Không phải ngày nào cũng được nghe một mong ước tự vẫn.”

Don Michele không lấy làm ngạc nhiên, nhưng mọi sự thân thiện trên gương mặt ông ta biến mất. “Như thường lệ, tôi chép lại lời của người xưng tội và tôi chuyển chúng cho giáo đoàn ân giải. Tôi không thể giải nó, tội lỗi mà ông ta kể với tôi thật kinh khủng.”

“Tôi đã đọc báo cáo, nhưng tôi muốn nghe lại từ chính ông.”

“Tại sao?” Câu hỏi ẩn chứa cả một lời cầu khẩn, vị thầy tu cảm thấy không thoải mái khi trở lại đề tài này.

“Với tôi việc lấy lại ấn tượng nguyên bản là rất quan trọng. Tôi cần nắm được tất cả những sắc thái của cuộc đối thoại đó.”

Don Michele có vẻ đã xuôi. “Lúc đó là 23 giờ, chúng tôi đang đóng cửa. Tôi nhớ đã để ý thấy người đàn ông đó dừng lại phía bên kia đường. Ông ta ở đó cả tối, rồi tôi hiểu rằng ông ta đang lấy can đảm để bước vào. Khi vị khách cuối cùng rời khỏi nhà ăn, ông ta đã quyết định. Ông ta đi thẳng tới chỗ tôi, yêu cầu được xưng tội với tôi. Tôi chưa bao giờ gặp ông ta. Ông ta mặc một chiếc áo choàng dày và đội mũ trong suốt thời gian đó, như thể rất vội. Và cuộc đối thoại của chúng tôi cũng diễn ra chóng vánh. Ông ta không tìm kiếm sự cảm thông cũng chẳng cần sự thấu hiểu, ông ta chỉ muốn giải thoát một gánh nặng.”

“Chính xác là ông ta đã nói gì với ông?”

Vị thầy tu gãi gãi bộ râu muối tiêu không được chăm chút, mọc từng cụm trên mặt. “Tôi hiểu ngay rằng ông ta có ý định hoàn thành một việc gì đó rất nghiêm trọng. Căng thẳng hiện lên trong những cử chỉ của ông ta, trong giọng nói của ông ta, cho thấy ông ta có ý định nghiêm túc. Ông ta biết việc mình sắp làm là không thể tha thứ được, nhưng ông ta tới để được hóa giải tội lỗi vẫn còn chưa phạm phải.” Ông ngừng lại.“Ông ta không cầu xin sự tha thứ cho cuộc sống ông ta muốn rũ bỏ, mà trái lại cho sinh mạng ông ta đã cướp đi.”

Don Michele Fuente là một linh mục đường phố, thường xuyên tiếp xúc với những điều tồi tệ của thế giới. Nhưng Marcus không chỉ trích sự khốn khổ của ông. Xét cho cùng, ông đã nghe lời thú nhận của một tội lỗi chí tử. “Ông ta đã giết ai và vì sao?”

Vị thầy tu tháo cặp kính và bắt đầu lấy áo lau nó. “Ông ta không nói. Khi tôi hỏi, ông ta lảng tránh. Kiếm cớ giữ bí mật đó, ông ta bao biện rằng tốt hơn tôi không nên biết, nếu không tôi sẽ gặp nguy hiểm. Ông ta chỉ muốn được giải tội. Khi tôi thông báo rằng vì tội lỗi của ông ta nghiêm trọng, một linh mục bình thường không thể hóa giải được, ông ta đã rất thất vọng. Ông ta cảm ơn tôi và bỏ đi mà không nói thêm lời nào.”

Cho dù bản báo cáo khá sơ sài, khó nắm bắt và chẳng có manh mối, nhưng nó là tất cả những gì Marcus có. Trong kho dữ liệu của giáo đoàn ân giải, lời xưng tội của những kẻ giết người được xếp vào một khu tương ứng. Lần đầu tiên khi anh đặt chân tới, Clemente chỉ yêu cầu anh đúng một việc: “Đừng quên rằng điều anh sẽ đọc không phải là biên bản được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của cảnh sát mà ở đó tính khách quan là một loại rào cản bảo vệ. Trong trường hợp của chúng ta, quan điểm về những gì đã xảy ra là chủ quan, vì người kể lại luôn là kẻ sát nhân. Đôi khi anh có thể thấy như mình đang ở vị trí của hắn. Đừng để cái ác đánh lừa anh, hãy nhớ rằng đó chỉ là ảo ảnh. Nó có thể sẽ nguy hiểm.” Khi đọc những lời xưng tội đó, Marcus bị ấn tượng bởi các chi tiết. Luôn luôn có điều gì trong những câu chuyện đó xem chừng không liên quan đến bối cảnh. Ví dụ như một tên giết người nhớ chi tiết những chiếc giày màu đỏ của nạn nhân và người linh mục mang cả chi tiết đó vào những ghi chép của mình. Nó chẳng quan trọng gì, cũng chẳng ảnh hưởng đến phán quyết. Nhưng cứ như thể rằng, trong một danh sách những điều kinh hoàng và bạo lực, người ta muốn tạo ra một con đường để chạy trốn, một lối thoát hiểm. Giày đỏ: một vết màu làm câu chuyện bị ngắt quãng trong giây lát, cho phép người đọc dừng lại để lấy hơi. Trong bản tường thuật của Don Michele thiếu một chi tiết như thế. Và Marcus nghi ngờ rằng những ghi chép đó chỉ là một phần. “Ông biết người xưng tội là ai, không phải thế sao?”

Vị thầy tu lưỡng lự quá lâu, làm người ta nghĩ đó là sự thật. “Tôi biết ông ta vài ngày sau đó, qua báo chí.”

“Nhưng khi ông chép lại lời xưng tội, ông đã không đưa tên ông ta vào.”

“Tôi đã tham vấn giám mục, ông ấy đã khuyên tôi nên bỏ qua danh tính.”

“Tại sao?”

“Vì tất cả tin rằng đó là một người đàn ông tốt,” ông ta đáp ngắn gọn. “Ông ta đã xây một bệnh viện lớn ở Angola, quốc gia châu Phi thuộc một trong những nước nghèo nhất trên thế giới. Vị giám mục đã thuyết phục tôi rằng không cần phải vấy bẩn ký ức về một nhà từ thiện vĩ đại, nhưng tốt hơn nên bảo quản ví dụ đó. Vì giờ phán quyết dành cho ông ta không phụ thuộc vào chúng ta.”

“Ông ta tên là gì?” Marcus cố nài.

Vị linh mục thở dài. “Alberto Canestrari.”

Anh đoán rằng còn điều gì khác nữa nhưng không muốn thúc ép vị thầy tu. Anh dừng lại quan sát ông ta trong yên lặng, chờ đợi chính ông ta lên tiếng.

“Còn một điều nữa,” Don Michele Fuente bổ sung với vẻ hơi e ngại. “Báo chí viết rằng ông ta chết vì nguyên nhân tự nhiên.”

Alberto Canestrari không chỉ là một bác sĩ phẫu thuật có danh tiếng quốc tế, một ngôi sao sáng trong nền y học và một người tiên phong trong nghề nghiệp của mình. Trên hết ông là một nhà từ thiện.

Hình ảnh đó bắt nguồn từ những tấm bằng khen treo trên tường trong phòng làm việc của ông ta tại phố Ludovisi. Nhưng cũng từ những bài báo được đóng khung kể về vô số những phát hiện mà nhờ có chúng ông đã hoàn thiện phương pháp phẫu thuật, và ca ngợi lòng hào hiệp của ông khi chuyển giao năng lực của mình tới những đất nước ở Thế giới thứ ba.

Công trình vĩ đại nhất của ông ta là xây dựng một bệnh viện lớn ở Angola, nơi ông ta đã trực tiếp tới phẫu thuật.

Những tờ báo ca ngợi hình ảnh ông ta sau đó đưa tin về cái chết bất thình lình vì những nguyên nhân tự nhiên.

Marcus lẻn vào nơi một thời từng là phòng khám của ông ta, trên tầng ba của một tòa nhà thanh lịch nằm cách phố Veneto có hai bước chân, và lia mắt qua những món đồ cũ, săm soi gương mặt rạng rỡ của ông bác sĩ năm mươi tuổi trong những bức ảnh nghi thức được khắc họa với nhân cách đa dạng, cùng những bệnh nhân – rất nhiều người trong số họ nghèo khổ – mắc nợ ông sự bình phục và đôi khi là cả tính mạng của chính mình. Đó là gia đình lớn của ông ta. Cống hiến trọn cuộc đời cho nghề nghiệp, ông bác sĩ phẫu thuật không lập gia đình.

Nếu phải phán xét một người đàn ông với những tính từ rải rác trên bức tường kia, có lẽ Marcus không nghi ngờ gì khi nhận định ông ta là một con chiên tốt bụng. Nhưng đó có thể chỉ là vẻ bề ngoài, kinh nghiệm khiến anh thận trọng hơn trong đánh giá. Nhất là từ những lời mà vị bác sĩ phẫu thuật đã tuyên bố ít ngày trước khi chết, trong lần xưng tội cuối cùng của mình.

Với cả thế giới, Alberto Canestrari không tự vẫn.

Marcus thấy khó mà hình dung ra rằng ông ta có thể khiến cho cái chết cố ý của mình trở thành một ca tử vong do nguyên nhân tự nhiên. Còn điều gì khác nữa, anh tự nhủ.

Phòng khám gồm một sảnh chờ lớn, một phòng thư ký để luân chuyển bệnh nhân và một phòng có bàn làm việc lớn bằng gỗ xà cừ Tây Ấn, xung quanh là một bộ sưu tập sách y học phong phú, rất nhiều quyển trong số đó đã được khâu gáy. Đằng sau một cánh cửa đẩy là một phòng nhỏ để khám bệnh với một chiếc giường xinh xắn, vài trang thiết bị và một tủ thuốc nhỏ. Nhưng Marcus dừng lại trong phòng làm việc của Canestrari. Ở đó có một phòng khách nhỏ với bộ sofa bằng da, một chiếc ghế xoay cũng bằng da, là nơi – vẫn theo sự tái hiện của truyền thông – ông bác sĩ phẫu thuật qua đời.

Sao mình lại ở đây? Anh tự hỏi.

Nếu thực sự ông ta giết người, vấn đề giờ đã khép lại. Marcus lẽ ra không phải bận tâm. Tên sát nhân đã chết và vị linh mục ân giải bí ẩn lần này không thể dựng nên một vụ trả thù nào cả. Nhưng nếu ông ta chỉ anh tới tận đây, sự thật đâu thể tầm thường như vậy được.

Từng thứ một, anh tự nhủ. Bước đầu tiên là kiểm chứng những chuyện đã xảy ra và điều bất thường đầu tiên phải giải quyết là vụ tự tử.

Canestrari không có vợ con và một cuộc tranh chấp quyền thừa kế giữa những đứa cháu đã nổ ra sau khi ông ta qua đời. Vì thế, phòng khám – đối tượng của tranh chấp về luật pháp – vẫn nguyên trạng trong ba năm trở lại đây. Cửa sổ của căn hộ bị khóa chặt và trên mỗi đồ vật đều phủ một lớp bụi. Bụi cũng lan tỏa như một đám sương mù lấp lánh trong những tia nắng mỏng manh lọt qua mành cửa. Mặc dù thời gian đã thờ ơ lưu giữ nó, nơi đó không có vẻ gì là một hiện trường vụ án. Marcus muốn gợi lại những điểm có lợi của một cái chết bất ngờ, báo hiệu cho những dấu vết mà suy luận của anh có thể bấu víu. Ở giữa đống lộn xộn mà cái ác tạo ra, sẽ dễ dàng tìm thấy điều bất thường mà anh cần. Trái lại, trong cái tĩnh lặng giả dối của nơi ấy, việc khám phá ra điều đó sẽ phức tạp hơn. Lần này thách thức yêu cầu một sự thay đổi tận gốc. Anh sẽ phải hóa thân vào Alberto Canestrari.

Điều gì quan trọng nhất với mình? Anh tự hỏi. Danh tiếng là điều tôi quan tâm, nhưng không phải là thứ cốt yếu. Tiếc là người ta không trở nên nổi tiếng bằng việc cứu người hay làm từ thiện. Vậy thì công việc. Tài năng của tôi quan trọng cho những người khác hơn, nên nó không phải là thứ mà tôi thực sự bận tâm.

Câu trả lời tự tìm đến khi anh ngắm lại lần nữa bức tường tôn vinh ông bác sĩ. Tên tuổi của tôi, đó mới là điều thực sự quan trọng. Danh tiếng là tài sản quý giá nhất mà tôi sở hữu.

Bởi vì tôi tin mình là một người tốt.

Anh tới ngồi vào chiếc ghế tựa của Canestrari. Anh đưa hai tay chống cằm, tự đặt ra một câu hỏi duy nhất và thiết yếu.

Làm thế nào mình tự vẫn nhưng lại để mọi người tin rằng đó là một cái chết vì nguyên nhân tự nhiên?

Điều mà ông bác sĩ phẫu thuật lo lắng nhất là scandal. Ông ta sẽ không bao giờ chịu nổi việc để lại một ký ức tồi tệ về mình. Vì thế hẳn ông ta đã nghĩ ra một kế sách. Marcus tin rằng câu trả lời đang ở rất gần.

“Trong tầm tay,” anh nói. Rồi anh quay chiếc ghế về phía tủ sách ở phía sau lưng.

Dàn dựng một cái chết tự nhiên không phải là một vấn đề với người thấu hiểu những bí mật của cuộc sống. Anh chắc chắn có một cách đơn giản và không gây nghi ngờ. Chẳng ai sẽ đi điều tra, chẳng ai sẽ tìm hiểu kỹ, vì nó chỉ đơn giản là sự ra đi của một con người liêm khiết.

Marcus đứng dậy và bắt đầu tham khảo nhan đề của những quyển sách dựng sát nhau trên giá. Anh mất một chút thời gian để tìm ra thứ mình cần. Anh rút cuốn sách ra.

Đó là một quyển trích yếu những chất độc tự nhiên hay nhân tạo.

Anh bắt đầu giở sách. Trong đó có liệt kê các tinh chất và độc tố, acid khoáng và thực vật, những chất kiềm có tính ăn mòn. Anh lượt qua từ asen tới antimon. Từ cà độc dược đến nitrobenzen, phenacetin và clorofom. Anh kiểm tra liều lượng gây tử vong của những hoạt chất chính, cách sử dụng chúng và những phản ứng phụ. Cho đến khi anh tình cờ tìm thấy thứ tiệm cận với đáp án.

Succinylcholine.

Đó là một loại chất giãn cơ được dùng trong gây mê. Canestrari từng là một bác sĩ phẫu thuật, hẳn ông ta phải biết rất rõ về nó. Trong phần giải thích, nó được so sánh với một loại curare* tổng hợp, vì nó có khả năng gây mê bệnh nhân trong quá trình phẫu thuật, có thể ngăn ngừa những sự cố nguy hiểm do co cơ hay cử động đột ngột.

Đọc những đặc tính của dược phẩm, Marcus đi tới kết luận rằng Canestrari chỉ cần liều một miligram để ngăn cơ hô hấp. Chỉ ít phút thôi và ông ta sẽ tắc thở. Một sự bất diệt trong hoàn cảnh đó, một cái chết sớm không mấy dễ chịu nhưng hiệu quả tức thì vì trạng thái tê liệt của cơ thể sẽ làm quá trình không thể đảo ngược trở lại. Một khi đã tiêm thuốc đó, không còn thời gian để đổi ý.

Nhưng ông bác sĩ phẫu thuật đã lựa chọn nó vì một lý do khác.

Marcus ngạc nhiên khi biết rằng đặc tính chính của succinylcholine là không một xét nghiệm độc tố nào có thể tìm ra nó vì nó được tạo thành từ acid succinic và choline: những chất thường có trong cơ thể con người. Người ta sẽ dễ lầm tưởng cái chết bắt nguồn từ tình trạng khó ở. Và sẽ chẳng có bác sĩ pháp y nào đi tìm một cái lỗ tiêm nhỏ xíu giữa những ngón chân chẳng hạn.

Tiếng thơm của ông ta sẽ được bảo vệ.

“Phải vậy rồi… thế cái ống tiêm?” Nếu ai đó tìm được nó ở chỗ ông ta, màn kịch về cái chết tự nhiên sẽ đi tong. Chi tiết đó không ăn nhập gì với phần còn lại.

Marcus muốn suy ngẫm lại. Trong lúc chờ đợi hồ sơ của Clemente, trước khi tới đó anh đã đọc được trên Internet rằng thi thể ông bác sĩ phẫu thuật được một nữ y tá phát hiện vào sáng hôm sau, lúc mở cửa phòng khám. Có khi chính cô ta đã tẩu tán bằng chứng đáng xấu hổ cho việc đó không phải là một cái chết tự nhiên.

Quá rủi ro, Marcus tự nhủ. người phụ nữ có thể không làm việc ấy. Nhưng Canestrari chắc chắn rằng sẽ có người bỏ kim tiêm đi. Tại sao?

Marcus quan sát nơi vị bác sĩ lừng danh quyết định tự vẫn. Phòng khám là trung tâm vụ trũ của ông. Nhưng không phải vì lý do này ông ta đã chọn nơi đây. Ông ta tin chắc ai đó sẽ hoàn tất kế hoạch của mình. Ai đó sẽ chủ tâm thủ tiêu cái kim tiêm.

Ông ta tự sát ở đây vì biết mình bị theo dõi.

Marcus đứng bật dậy. Ngay lập tức anh đi tìm kiếm thứ gì đó trong phòng. Chúng có thể đặt nó ở đâu nhỉ?

Trong hệ thống điện, câu trả lời nằm ở đó.

Anh nhắm vào cái công tắc được gắn trên tường. Anh tiến lại gần và phát hiện ra một lỗ nhỏ trên nắp. Để cậy nó ra anh dùng tới một cái kéo trên bàn làm việc. Trước tiên anh tháo vít, rồi sau đó gỡ nó ra khỏi tường.

Chỉ cần liếc qua anh đã thấy dây của một thiết bị truyền dẫn đang mắc vào cùng dây điện.

Kẻ đã giấu camera siêu nhỏ quả là giỏi.

Nhưng nếu ai đó quay lén phòng khám vào thời điểm diễn ra vụ tự tử của Canestrari thì tại sao sau ba năm thiết bị ấy vẫn còn ở đó? Marcus bất giác nhận ra một mối nguy đang ở rất gần. Giờ thì sự hiện diện của anh ở phòng khám hẳn đã bị ghi hình.

Chúng để mình tìm hiểu xem người đó là ai. Nhưng giờ chúng đang tới đây.

Anh phải chuồn ngay. Anh vội vàng lao ra cửa ngay khi nghe thấy một tiếng động phát ra từ hành lang. Cẩn trọng, anh ló đầu vừa đủ qua ngưỡng cửa và thấy một gã khùng mặc áo khoác, thắt cà vạt, đang khó nhọc giữ thăng bằng trọng lượng của chính cơ thể mình để bước đi mà không gây ra tiếng động. Marcus thụt vào trước khi bị phát hiện. Anh không còn đường tháo chạy. Đó là lối thoát duy nhất và lúc này đang bị núi thịt kia chặn mất.

Anh ngó quanh và thấy cánh cửa đẩy dẫn vào phòng thăm khám. Anh có thể trốn trong đó. Nếu gã đàn ông bước vào phòng, anh sẽ có nhiều khoảng không để trốn chạy khỏi hắn ta: xét cho cùng anh nhanh nhẹn hơn, chỉ cần chạy là đủ.

Gã đàn ông đã tới ngưỡng cửa và khựng lại, tìm kiếm kẻ đột nhập. Đầu hắn quay chầm chậm trên cái cổ béo núc. Hai con mắt tin hin săm soi bóng tối nhưng không phát hiện ra gì cả. Rồi hắn nhìn thấy cái cửa đẩy dẫn vào phòng bên cạnh. Hắn ta lại gần và thò những ngón tay to béo qua khe cửa. Bằng một động tác dứt khoát, hắn mở cửa và lao vào phòng.

Hắn không kịp nhận ra nó trống rỗng. Cánh cửa phía sau hắn đã nhanh chóng đóng lại.

Marcus tự khen thầm mình vì đã thay đổi kế hoạch vào phút chót. Anh đã trốn dưới bàn làm việc của Canestrari và ngay khi gã béo sập bẫy, anh đã nhảy ra ngoài và nhốt hắn ở bên trong. Nhưng chính lúc đang hân hoan về mưu mẹo của mình, anh nhận ra rằng khóa cửa không vặn được. Cái cửa đẩy bắt đầu rung lên vì những đòn giáng xuống. Marcus bỏ mặc con mồi và bắt đầu chạy. Bên ngoài hành lang anh có thể nghe thấy bước chân của tên khùng vừa mới xổng chuồng và đang rượt theo. Anh tới được chỗ chiếu nghỉ cầu thang sau khi đã đóng sập cánh cửa đằng sau để cản bước kẻ rượt đuổi. Nhưng chỉ được một lát. Khi đang định tiếp tục tẩu thoát qua lối cầu thang chính, anh chợt đoán rằng gã sau lưng anh có thể đi cùng đồng bọn và tên này có khi đang canh ở lối vào. Anh thoáng thấy một lối thoát hiểm và quyết định đi qua đó. Cầu thang hẹp hơn và đợt thang cũng ngắn hơn, anh buộc phải nhảy cóc để duy trì lợi thế. Nhưng tên khùng nhanh nhẹn hơn rất nhiều so với anh tưởng và gần như sắp đuổi kịp anh. Khoảng cách ba tầng nhà giữa họ với mặt đất xem chừng rất xa. Sau cánh cửa cuối cùng sẽ là sự giải thoát. Nhưng khi anh mở nó ra, thay vì mặt đường anh lại thấy mình trong một khu đỗ xe dưới mặt đất. Nó trống trơn. Ở phía cuối khoảng không mênh mông đó anh nhìn thấy một cái thang máy, cửa đang chuẩn bị mở. Khi mở ra, thay vì mang đến cho anh một lối thoát mới, xuất hiện một gã thứ hai mặc com lê và thắt cà vạt, hắn ta nhận ra anh và bắt đầu lao tới. Với hai kẻ đang rượt đuổi, anh sẽ không thể thoát được. Anh bắt đầu thở dốc và lo ngại mình sẽ quỵ ngã bất cứ lúc nào. Anh lao vào đợt thang cho xe ô tô, bắt đầu leo lên trong khi vài chiếc xe chạy ngược chiều đang ào về phía mình. Khi anh ló lên được mặt đất, hai tên kia cũng gần tới. Nhưng chúng bất ngờ khựng lại.

Trước mặt chúng là một đoàn du khách Trung Quốc đang chắn đường.

Marcus tranh thủ đoàn người đó để cắt đuôi. Và giờ từ một góc nhỏ, anh quan sát vẻ ngỡ ngàng của hai kẻ bám đuổi, chúng gập cả người vì mệt và đang cố lấy lại hơi.

Hai kẻ đó là ai? Ai đã phái chúng tới? Chẳng lẽ có kẻ khác liên quan đến cái chết của Alberto Canestrari?

← Một hiệp hội các tổ chức bác ái trên phạm vi toàn cầu của Giáo hội Công giáo Roma.

← Chức danh danh dự thời xưa của giới tu sĩ và quý tộc.

← Chất độc được chiết xuất từ nhựa của một số loại cây nhiệt đới.

Phạm Bích Ngọc (dịch)
Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »