Tòa Án Linh Hồn

Lượt đọc: 2884 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
MỘT NĂM TRƯỚC
Kiev

“Giấc mộng lớn đã kết thúc khi chúng ta đánh đổi sự liêm chính với một chút đồng thuận, chúng tôi đã lên giường với một tia hy vọng và tỉnh dậy với một con điếm mà tên của ả chúng tôi còn chả nhớ.”

Bằng một câu duy nhất, tiến sĩ Norjenko đã khái quát vụ Perestrojka*, sự sụp đổ của Bức tường Berlin, sự tan vỡ của nền cộng hòa và thậm chí cả thế hệ những quý ông dầu mỏ và khí gas giàu có: một tập đoàn đầu sỏ chính trị mới không đối kháng với nền kinh tế và chính trị. Tóm lại, hai mươi năm lịch sử của Xô-viết.

“Và ông nhìn đây xem…” ông ta nói, tay đập đập ngón trỏ vào trang nhất của tờ Khar’kovskii Kurier: “Mọi thứ đã tan tành còn họ thì nói sao? Chẳng gì cả. Thế tự do để làm gì vậy?”

Nikolaj Norjenko nghi ngờ quan sát vị khách của mình đang gật gù, anh ta có vẻ hứng thú nhưng không hoàn toàn hùa theo lời công kích như nhà tâm lý học mong muốn. Rồi ông chăm chú nhìn bàn tay quấn băng của anh ta. “Anh nói rằng mình là người Mỹ, đúng vậy không tiến sĩ Foster?”

“Sự thực tôi là người Anh,” gã thợ săn trả lời, cố tìm cách đánh lạc hướng sự chú ý của người đàn ông vào thương tích gây ra do vết cắn của cô gái trẻ Angelina ở bệnh viện tâm thần trong thành phố Mexico.

Văn phòng nơi họ đang đứng nằm trên tầng hai tòa nhà điều hành của Trung tâm bảo trợ trẻ em quốc gia, ở phía tây của Kiev. Từ một cửa kính khá lớn người ta có thể chiêm ngưỡng khung cảnh của một công viên bạch dương đang nhuộm màu thu sớm. Nội thất văn phòng toàn là mica: mọi thứ đều được bao phủ, từ bàn làm việc cho đến những bức tường. Trên một trong những bức tường vẫn còn thấy rõ ba cái bóng hình chữ nhật sát bên nhau. Ở chỗ của chúng trước kia hẳn phải là chân dung của Lenin và Stalin – những cha đẻ của tổ quốc – và tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô đương nhiệm. Trong căn phòng toàn mùi thuốc lá ứ đọng, cái gạt tàn trước mặt Norjenko đầy đầu lọc. Dù mới chỉ qua tuổi năm mươi nhưng điệu bộ nhếch nhác và cơn ho ốm yếu thường xuyên ngắt lời khiến ông ta trông có vẻ già hơn rất nhiều. Cùng với đờm dãi, trong con người ông ta còn thai nghén một hỗn hợp của lòng thù hận và sự thấp hèn. Cái khung thiếu ảnh trên bàn và những tấm chăn đã gấp đặt ở đầu của một cái sofa bằng da làm người ta liên tưởng đến một cuộc hôn nhân có cái kết tồi. Vào thời của chế độ, ông ta hẳn phải là một con người được kính trọng. Giờ chỉ là sự châm biếm đáng buồn của một viên chức nhà nước với đồng lương của anh quét rác.

Nhà tâm lý học cầm lấy tờ giấy giới thiệu giả mạo mà gã thợ săn đưa cho ông ta khi nãy họ gặp nhau và ngó qua nó thêm lần nữa.

“Ở đây nói rằng anh là giám đốc của Tạp chí tâm lý học điều tra tội phạm của Đại học Cambridge. Quả là đáng nể ở tuổi của anh, tiến sĩ Foster, xin chúc mừng.”

Gã thợ săn biết chi tiết đó sẽ thu hút sự chú ý của ông ta, gã muốn dụ dỗ bản ngã bị tổn thương của Norjenko và sắp đạt được mục đích. Ông này mãn nguyện, đặt lại tờ giấy: “Anh biết không, quả là lạ… Cho đến nay chưa có ai đến hỏi tôi về Dima.”

Gã tới chỗ Norjenko nhờ cô bác sĩ Florinda Valdés, người lúc trước ở thành phố Mexico đã cho gã xem một bài báo của ông ta xuất bản năm 1989 trên một tạp chí nhỏ về tâm lý học. Bài báo viết về trường hợp của một cậu bé: Dimitri Karoliszyn – Dima. Có lẽ nhà tâm lý học người Ucraina hy vọng rằng nghiên cứu đó của mình sẽ mở đường cho một sự nghiệp mới, trong khi mọi thứ xung quanh ông đều tan rã một cách không thể tránh khỏi. Nhưng sự việc không như mong đợi. Và câu chuyện đó bị chôn vùi cùng với những mong chờ và hoài bão cho tới tận khi ấy.

Giờ là lúc để nó hồi sinh. “Xin ông cho tôi biết, tiến sĩ Norjenko, ông trực tiếp quen Dima?”

“Dĩ nhiên.” Nhà tâm lý học chắp tay tạo thành hình kim tự tháp, ngước mắt lên đi tìm một ký ức. “Lúc đầu nó có vẻ là một đứa trẻ giống như bao đứa trẻ khác, có lẽ sắc sảo hơn nhưng rất trầm lặng.”

“Nó mấy tuổi?”

“Mùa xuân năm 1986. Vào thời đó, tại Trung tâm này chúng tôi là những người đi đầu trong việc giáo dục trẻ em ở Ucraina, và có khi ở cả Xô-viết,” Norjenko tự hào. “Chúng tôi bảo đảm một tương lai rõ ràng cho những đứa trẻ mồ côi trên thế giới, chúng tôi không chỉ chăm sóc chúng như những gì người ta thường làm trong các trại trẻ mồ côi ở phương Tây.”

“Mọi người đều biết đến phương pháp của các ông, các ông được xem như những hình mẫu.”

Norjenko mãn nguyện vì lời tán dương. “Sau thảm họa Chernobyl, chính phủ Kiev yêu cầu chúng tôi gánh trọng trách chăm sóc những đứa trẻ mất cha mẹ vì những bệnh có liên quan đến chất phóng xạ. Có thể là cả chúng cũng mang mầm bệnh. Nhiệm vụ của chúng tôi là hỗ trợ chúng tạm thời và tìm những ông bố bà mẹ có thể nhận nuôi chúng.”

“Dima tới cùng bọn trẻ?”

“Sáu tháng sau thảm họa, nếu tôi không nhớ nhầm. Nó đến từ Pripjat. Thành phố nằm trong khu vực cách ly quanh nhà máy điện nguyên tử và đã bị sơ tán. Lúc đó nó tám tuổi.”

“Cậu bé ở với các ông lâu không?”

“Hai mươi mốt tháng.” Norjenko ngừng một lát, nhăn trán, rồi đứng dậy và đi về phía tủ hồ sơ. Sau một hồi tìm kiếm, ông trở lại bàn làm việc với một tập hồ sơ có bìa màu be. Ông bắt đầu lật giở. “Giống như tất cả những đứa trẻ ở Pripjat, Dimitri Karoliszyn mắc chứng tiểu dầm vào ban đêm và thay đổi tâm trạng, hậu quả của trạng thái sốc và bị cưỡng ép phải rời đi. Vì lý do này cậu bé được một nhóm nhà tâm lý học theo dõi. Trong suốt những buổi trò chuyện, cậu bé kể về gia đình mình: về mẹ – bà Anja, nội trợ, và bố – ông Konstantin, kỹ thuật viên ở nhà máy điện hạt nhân. Cậu bé kể về những khoảnh khắc gia đình mình bên nhau… với những chi tiết sau đó được chứng minh là chân thực.” Ông cố nhấn mạnh câu cuối cùng.

“Chuyện gì đã xảy ra?”

Trước khi trả lời, Norjenko lấy ra một điếu từ hộp thuốc lá ông để trong túi áo sơ mi và châm thuốc.

“Dima chỉ còn một người thân duy nhất còn sống, là anh trai của bố: Oleg Karoliszyn. Sau nhiều cuộc tìm kiếm, chúng tôi đã lần ra tung tích của ông ta ở Canada. Người đàn ông rất hạnh phúc khi có thể chăm sóc đứa cháu. Ông ta chỉ biết tới Dima qua những tấm ảnh Konstantin gửi. Và thế là, khi chúng tôi gửi cho ông ta tấm hình gần nhất để ông ta nhận diện, chúng tôi không bao giờ có thể tưởng tượng nổi điều gì sẽ xảy ra. Với chúng tôi đó chỉ đơn thuần là một thủ tục.”

“Nhưng ông Oleg đã khẳng định cậu bé đó không phải cháu ông ta.”

“Đúng vậy… Dẫu thế Dima, dù chưa gặp ông bác bao giờ, nhưng lại biết rất nhiều điều về ông ấy, những mẩu chuyện thời thơ ấu với bố và nhớ cả những món quà ông bác gửi cho cậu bé hàng năm vào sinh nhật.”

“Vậy các ông nghĩ sao?”

“Thoạt tiên, chúng tôi cho là Oleg đã đổi ý và không còn muốn chăm sóc Dima nữa. Nhưng để chứng minh, ông ấy đã chuyển cho chúng tôi những tấm ảnh của cậu bé mà em trai ông ý đã gửi, chúng tôi không thể tin nổi… Đứa trẻ ở chỗ chúng tôi là một người khác.”

Một sự im lặng hổ thẹn bao trùm căn phòng trong giây lát. Norjenko phân tích vẻ mặt điềm tĩnh của người đối thoại để xem anh ta có nghĩ mình bị điên không. Rất may người này đã lên tiếng.

“Lúc trước các ông không nhận ra.”

“Không có hình của Dima trước khi cậu bé tới Trung tâm,” nhà tâm lý học giơ hai tay khẳng định. “Những người dân Pripjat bị buộc phải bỏ nhà trong vội vã, chỉ mang theo những thứ thật sự cần thiết. Đứa bé đã tới chỗ chúng tôi với mỗi bộ quần áo trên người.”

“Thế rồi sao?”

Norjenko rít một hơi thuốc dài. “Chỉ có mỗi một cách giải thích: Cậu bé đó đến từ hư không và đã thế chỗ của Dima thật. Nhưng còn hơn thế… Đó không chỉ là một sự trao đổi người đơn thuần.”

Mắt của gã thợ săn sáng bừng và một tia chớp cũng ánh lên trong mắt của Norjenko. Gã có thể đánh cược, đó là sự sợ hãi.

“Hai đứa bé đó không chỉ đơn giản giống nhau," nhà tâm lý học chỉ rõ.”Dima thật bị cận, đứa trẻ kia cũng thế. Cả hai đều bị dị ứng với lactose. Oleg nói với chúng tôi rằng tai phải của cháu ông ta giảm thính lực do bị viêm tai nhưng không được chữa trị tử tế. Chúng tôi đã cho đứa trẻ làm xét nghiệm thính giác mà không cho nó biết gì về chi tiết này. Kết quả là cũng bị suy giảm thính lực."

“Nó có thể giả vờ, xét cho cùng những xét nghiệm thính giác dựa trên những câu trả lời ngẫu nhiên của bệnh nhân. Có lẽ Dima của các ông biết điều đó.”

“Cũng có thể..” Phần cuối của câu nói tắt ngóm trên môi Norjenko, ông ta xấu hổ. “Một tháng sau phát hiện đó, đứa trẻ đã biến mất.”

“Nó bỏ trốn?”

“Tôi nghĩ còn hơn thế… nó mất tích.” Nhà tâm lý học sa sầm mặt: “Chúng tôi đã tìm nó trong nhiều tuần, với sự giúp đỡ của cảnh sát.”

“Còn Dima thật thì sao?”

“Chẳng có dấu vết nào của đứa bé, cũng như cha mẹ của nó vậy. Chúng tôi biết mỗi việc là họ đã chết vì Dima của chúng tôi nói vậy. Trong đống hỗn loạn của những năm tháng đó không thể nào xác minh được thông tin. Tất cả những gì liên quan đến Chernobyl đều đã bị giấu kín, kể cả những thông tin vớ vẩn nhất.”

“Ngay sau đó ông đã viết báo về câu chuyện này.”

“Nhưng chẳng ai tin bài báo.” Norjenko cay đắng lắc đầu, rời mắt khỏi người đối thoại, như thể tự xấu hổ về chính mình. Nhưng rồi ông ta đã lấy lại nét mặt quả quyết, chăm chú nhìn gã, ông nói: “Đứa bé đó không chỉ đơn giản cố làm mọi người nghĩ mình là kẻ khác, anh hãy tin tôi. Vào tuổi đó, trí óc không đủ khả năng tạo ra một lời nói dối phức tạp đến thế. Không, trong tâm thần của nó, nó thực sự là Dima.”

“Khi nó biến mất, nó có mang theo thứ gì không?”

“Không, nhưng nó để lại thứ gì đó…”

Norjenko cúi xuống để mở một trong những ngăn kéo bàn làm việc. Sau một hồi lần tìm, ông ta rút ra một con rối nhỏ và đặt nó lên bàn, trước mặt vị khách.

Một con thỏ con bằng vải.

Nó màu xanh da trời, bẩn thỉu và xơ xác. Ai đó đã khâu lại cái đuôi và nó bị mất một bên mắt. Nó cười, hạnh phúc và nham hiểm.

Gã thợ săn quan sát con vật bằng bông. “Tôi thấy nó không có vẻ gì là một dấu hiệu đáng giá.”

“Tôi đồng ý với anh, tiến sĩ Foster,” Norjenko thừa nhận và đôi mắt của ông lại bừng sáng như thể ông ta còn cất giấu thứ gì đó: “Nhưng anh không biết chúng tôi đã tìm thấy nó ở nơi nào đâu.”

Sau khi băng qua một góc công viên đúng lúc trời sẩm tối, Norjenko dẫn đường cho người đồng nghiệp vào bên trong một tòa nhà khác của Trung tâm.

“Đã có thời nơi đây là khu ký túc xá chính.”

Họ không đi lên tầng trên mà xuống tầng hầm dưới mặt đất. Norjenko bật một loạt cầu dao điện: những ánh đèn neon chiếu sáng một không gian mênh mông. Những bức tường tối màu vì ẩm ướt và trên trần chạy ống đủ loại, rất nhiều trong số chúng đã bị hỏng và được sửa chữa lại.

“Ít lâu sau khi đứa trẻ mất tích, một nhân viên vệ sinh đã tìm thấy.” Ông ta không hé lộ trước điều gì cả, như thể muốn tận hưởng sự ngạc nhiên của người đồng nghiệp trẻ một khi họ tới nơi. “Tôi đã muốn lưu giữ nơi này như lúc chúng tôi tìm thấy nó. Đừng hỏi tôi vì sao, tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng một ngày nào đó nó sẽ giúp chúng tôi hiểu. Nhưng rồi ở dưới này chẳng còn ai đến nữa.”

Họ đi dọc theo một hành lang cao và hẹp, với những cánh cửa thép từ đó phát ra âm thanh ồn ào của hệ thống nước nóng. Rồi họ đi tới một căn phòng thứ hai được dùng làm kho chứa đồ cũ: giường và đệm đang dần hư hại. Norjenko mở lối và mời người đồng nghiệp làm việc tương tự.

“Chúng ta sắp tới nơi rồi,” ông thông báo.

Họ rẽ vào góc và thấy mình trong một cái kho dưới gầm cầu thang hẹp và rất bí. Nó tối thui, nhưng Norjenko đã liệu trước việc chiếu sáng chỗ đó bằng cái bật lửa ông thường dùng để châm thuốc.

Dưới ánh sáng màu hổ phách của đốm lửa, vị khách của ông tiến một bước về phía trước và không tin nổi điều mình trông thấy.

Nó có vẻ là một tổ côn trùng khổng lồ.

Gã thợ săn bất giác rùng mình, nhưng sau đó khi tiến lại gần, gã nhận ra một mạng lưới dày đặc những miếng gỗ nhỏ, được xếp với nhau bằng các vụn vải đủ màu, dây thừng, kẹp quần áo, đinh ghim, giấy báo thấm nước được dùng để kết dính. Tất cả được tạo nên với một sự tỉ mỉ khó tin.

Đó là nơi trú ẩn bằng vụn rác của một đứa trẻ.

Chính gã cũng từng làm ra những thứ tương tự như thế khi còn bé. Nhưng ở đây có cái gì đó khác biệt.

“Con rối nằm ở bên trong,” Norjenko nói và thấy vị khách của mình cúi xuống cái cửa hẹp và sờ vào thứ gì đó trên sàn nhà. Gã rướn vai qua và kinh ngạc xem xét một hình vương miện những vệt nhỏ tối màu.

Với gã thợ săn đó là một phát hiện quá ấn tượng.

Máu khô. Đúng dấu vết gã đã tìm được ở Paris, trong nhà của Jean Duez.

Dima giả mạo là kẻ biến hình.

Nhưng gã không được thể hiện sự phấn khích, vậy là gã đặt câu hỏi lảng tránh: “Các ông có ý tưởng gì về nguồn gốc của những vệt đó không?”

“Quả thực là không.”

“Ông có phiền nếu tôi lấy một ít mẫu?”

“Anh cứ lấy đi.”

“Và tôi muốn cả con thỏ con bằng vải, có thể nó có liên quan đến quá khứ của Dima giả mạo.”

Norjenko lưỡng lự. Ông ta cố tìm hiểu xem liệu anh chàng đồng nghiệp có thực sự quan tâm đến câu chuyện, có thể đây là cơ hội cuối cùng mà ông có để chuộc lại danh dự cho sự tồn tại của chính mình.

“Tôi cho rằng trường hợp này còn có giá trị khoa học, rất đáng để nghiên cứu sâu hơn,” gã thợ săn nói thêm để thuyết phục Norjenko.

Trước những lời nói đó, trong đôi mắt của ông bác sĩ tâm lý ánh lên một tia hy vọng ngây thơ nhưng có cả một đề nghị ngầm giúp đỡ: “Vậy thì, anh nghĩ sao nếu chúng ta viết một bài báo mới, hai chúng ta cùng nhau chẳng hạn?”

Lúc đó, dĩ nhiên Norjenko không thể tưởng tượng ra rằng có thể ông ta sẽ phải trải qua những ngày tháng cuối cùng của mình ở Trung tâm đó.

Gã thợ săn quay lại và mỉm cười với ông ta. “Dĩ nhiên rồi, tiến sĩ Norjenko. Tôi sẽ trở lại Anh ngay tối nay và tôi sẽ cho ông biết thông tin sớm nhất có thể.”

Trên thực tế, trong đầu gã đã dự định một điểm đến khác. Gã sẽ tới nơi mọi chuyện bắt đầu. Ở Pripjat, theo dấu vết của Dima.

← Cuộc cải tổ kinh tế và chính trị được Liên Xô tiến hành từ năm 1986 đến năm 1991.

Phạm Bích Ngọc (dịch)
Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »