Khách Sạn

Lượt đọc: 125 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết thứ nhất

❊ ❊ ❊

Thứ Ba.

Như một chiến binh dày dạn trận mạc vừa tỉnh giấc sau giấc ngủ ngắn, khách sạn St. Gregory, cũng như bao nhà nghỉ khác, bắt đầu một ngày mới đầy hối hả từ rất sớm. Từ rất lâu trước khi những vị khách tỉnh dậy đầu tiên bước đi loạng choạng, mắt nhắm mắt mở từ giường ngủ về phía phòng tắm, cỗ máy vận hành của khách sạn đã lặng lẽ khởi động cho một ngày mới.

Gần năm giờ sáng, những nhân viên vệ sinh ca đêm đã làm việc miệt mài suốt tám tiếng đồng hồ tại các khu vệ sinh công cộng, cầu thang phía dưới, khu vực bếp và đại sảnh. Họ kéo lê thân xác mệt mỏi, bắt đầu tháo dỡ dụng cụ, chuẩn bị cất đi để dùng cho ngày hôm sau. Nhờ công sức của họ, sàn nhà sáng bóng, đồ gỗ và kim loại đều bóng loáng như gương, tỏa ra mùi hương dễ chịu của lớp sáp mới đánh.

Meg Yettmin là một nhân viên vệ sinh lâu năm, đã làm việc tại khách sạn gần ba mươi năm. Bà đi lại khập khiễng, bất cứ ai nhìn thấy cũng đều nghĩ rằng dáng đi khó nhọc đó là do mệt mỏi. Thực ra, nguyên nhân là do mặt trong đùi bà đang buộc chặt một miếng bít tết bò mềm nặng ba cân. Nửa tiếng trước, nhân lúc không ai để ý, Meg đã lấy trộm miếng thịt bò này từ một chiếc tủ lạnh trong bếp. Nhờ kinh nghiệm tích lũy qua năm tháng, bà biết chính xác nơi nào có thể lấy trộm, sau đó lại biết cách giấu chiến lợi phẩm vào trong chiếc giẻ lau cũ rồi đi thẳng vào nhà vệ sinh nữ. Trong nhà vệ sinh, sau khi chốt cửa lại, bà yên tâm lấy băng dính dán chặt miếng thịt bò vào đùi. Chịu đựng cảm giác lạnh lẽo, ướt át khó chịu suốt hơn một tiếng đồng hồ là hoàn toàn xứng đáng, vì bà biết làm như vậy mới có thể vượt qua trót lọt các nhân viên an ninh khách sạn trực tại cửa dành cho nhân viên – những người luôn kiểm tra nghi vấn từng gói hàng hoặc túi áo phồng lên. Bà đã chứng minh được nhiều lần trước đây rằng phương pháp này – phát minh của chính bà – là vô cùng an toàn.

Cách nơi làm việc của Meg hai tầng lầu, tại tầng lửng phía trước dành cho các cuộc họp, có một căn phòng không số đã được khóa kỹ. Trong phòng, một nữ tổng đài viên đặt chiếc kim đan xuống, thực hiện cuộc gọi báo thức đầu tiên trong ngày. Tổng đài viên này là bà Eunice Bauer, một góa phụ đã lên chức bà, là ca trưởng của ba tổng đài viên trực ca đêm hôm nay. Từ lúc này cho đến bảy giờ sáng, ba tổng đài viên này sẽ liên tục phải đánh thức các vị khách. Trước mặt họ là một ngăn kéo chứa các thẻ chỉ mục, trên đó ghi lại yêu cầu của khách từ tối hôm qua, được phân loại theo từng mốc mười lăm phút. Sau bảy giờ sáng, công việc sẽ trở nên bận rộn hơn.

Bà Bauer dùng ngón tay lật các tấm thẻ một cách thuần thục. Bà nhận thấy, như thường lệ, giờ cao điểm là 7:45, lúc đó có gần một trăm tám mươi vị khách cần được đánh thức. Ngay cả khi làm việc với tốc độ nhanh nhất, ba tổng đài viên này cũng khó mà đánh thức được chừng ấy người trong vòng chưa đầy hai mươi phút. Điều này có nghĩa là phải bắt đầu sớm từ 7:35 – nếu họ đã hoàn thành đợt đánh thức lúc 7:30 – và kéo dài đến 7:55, sau đó họ lại phải ngay lập tức chuyển sang đánh thức nhóm khách lúc tám giờ.

Bà Bauer thở dài. Hôm nay chắc chắn khách lại sẽ phàn nàn với ban quản lý khách sạn rằng một tổng đài viên ngốc nghếch, chưa tỉnh ngủ nào đó đã gọi họ quá sớm hoặc quá muộn.

Tuy nhiên cũng có mặt tích cực. Vào giờ này buổi sáng, hầu như không có vị khách nào có hứng thú tán gẫu hay trêu ghẹo như đôi khi vẫn xảy ra vào buổi tối – đó chính là lý do tại sao cửa ngoài của phòng tổng đài luôn khóa và không ghi số hiệu. Hơn nữa, đến tám giờ sáng, tổng đài viên ca ngày sẽ đến làm việc – tổng cộng có mười lăm nhân viên trực vào giờ cao điểm ban ngày – đến chín giờ, nhân viên ca đêm bao gồm cả bà Bauer sẽ về nhà để đi ngủ.

Đến lượt phải đánh thức một vị khách khác. Bà Bauer đặt chiếc kim đan xuống lần nữa, nhấn nút, một chiếc chuông đặt cao phía trên đầu bà vang lên chói tai.

Cách hai tầng dưới tầng trệt, trong phòng điều khiển kỹ thuật, kỹ sư bậc ba của khách sạn, Wallace Santopadre, đặt cuốn sách bìa mềm "Văn hóa Hy Lạp" của Toynbee xuống, ăn nốt miếng bánh mì kẹp bơ đậu phộng đang dở. Trong một giờ qua mọi chuyện vẫn yên ổn, anh vừa ăn vừa xem sách. Bây giờ anh phải đi kiểm tra vòng cuối các động cơ. Anh mở cửa phòng điều khiển, một tiếng o o của máy móc ùa vào.

Anh kiểm tra hệ thống nước nóng, thấy nhiệt độ đã tăng lên, điều này chứng tỏ bộ điều nhiệt tự động có hẹn giờ đang hoạt động tốt. Trong giờ cao điểm sử dụng nước sắp tới, có thể có hơn tám trăm vị khách cùng tắm bồn hoặc tắm vòi sen, lúc đó sẽ có lượng lớn nước nóng cung cấp.

Do nhiệt độ ngoài trời ban đêm giảm đáng kể, những cỗ máy điều hòa không khí khổng lồ nặng hai ngàn năm trăm tấn kia vận hành nhẹ nhàng hơn nhiều. Thời tiết mát mẻ hơn, có thể tắt bớt một máy nén, các máy nén khác giờ đây cũng có thể luân phiên vận hành để bảo trì, trong khi vài tuần trước đó khi bị đợt nắng nóng tấn công, công việc bảo trì đã phải tạm dừng. Wallace Santopadre nghĩ, kỹ sư trưởng chắc sẽ hài lòng về điều này.

Tuy nhiên, có lẽ do ảnh hưởng của cơn bão tấn công về phía Bắc, vào khoảng hai giờ sáng đêm đó, nguồn điện trong thành phố đã bị gián đoạn – kéo dài tổng cộng mười một phút. Ông già đó nghe tin này chắc sẽ không vui vẻ gì.

Khách sạn St. Gregory không bị ảnh hưởng thực tế, đèn tắt chỉ trong một khoảnh khắc rất ngắn, lúc đó hầu hết khách đều đang ngủ say nên không hề hay biết. Santopadre đã sử dụng nguồn điện dự phòng, được cung cấp bởi một số máy phát điện hiệu suất cao do khách sạn tự trang bị. Thế nhưng, việc khởi động máy phát điện và đưa chúng đạt tốc độ tối đa cũng mất ba phút, hậu quả là tất cả đồng hồ điện trong khách sạn St. Gregory – tổng cộng khoảng hai trăm chiếc – hiện đều chậm mất ba phút. Để chỉnh lại từng chiếc đồng hồ, một nhân viên bảo trì sẽ phải mất phần lớn thời gian ngày hôm sau mới hoàn thành công việc tẻ nhạt này.

Không xa trạm kỹ thuật là một khu vực nóng bức, bốc mùi hôi thối, nơi Booker T. Graham đã làm việc suốt đêm để thu hồi vật liệu từ đống rác của khách sạn. Xung quanh anh, ánh phản chiếu từ ngọn lửa bùng cháy nhảy múa chập chờn trên những bức tường đầy muội than.

Người trong khách sạn bao gồm cả nhân viên hầu như chưa bao giờ nhìn thấy nơi làm việc của Booker T., những người tận mắt chứng kiến thì nói rằng nó trông giống hệt địa ngục trong tâm trí của những nhà truyền giáo. Bản thân Booker T., đôi mắt sáng rực, hàm răng trắng bóng, khuôn mặt đen bóng đầy mồ hôi, trông giống như một con quỷ mà các nhà thơ yêu thích. Thế nhưng anh lại yêu công việc của mình, bao gồm cả nhiệt độ cao của chiếc lò thiêu đó.

Peter McDermott là một trong số rất ít nhân viên khách sạn mà Booker T. Graham từng gặp. Không lâu sau khi Peter đến khách sạn St. Gregory, anh đã bắt đầu làm quen với địa hình và các hoạt động của khách sạn, anh thậm chí chạy đến cả những góc khuất nhất của khách sạn. Trong một lần tìm hiểu các tình huống, anh đã phát hiện ra chiếc lò thiêu này.

Peter quyết tâm phải đi khắp các bộ phận của khách sạn, vì vậy từ đó về sau, thỉnh thoảng anh lại tiện đường ghé qua để tìm hiểu trực tiếp tình hình công việc. Vì lý do này, hoặc có lẽ xuất phát từ một sự cảm mến bản năng giữa hai người, trong mắt của Booker T. Graham, ngài McDermott trẻ tuổi trông chẳng khác nào một vị thần.

Peter thường lật xem cuốn sổ tay bẩn thỉu, đầy dầu mỡ mà Booker T. tự hào ghi chép lại thành tích làm việc của mình. Trong sổ ghi lại tất cả những thứ anh nhặt lại được từ những thứ mà người khác vứt bỏ. Trong đó, hạng mục quý giá nhất chính là bộ đồ ăn bằng bạc của khách sạn.

Booker T. là một người đơn giản, anh chưa bao giờ hỏi tại sao những bộ đồ ăn bằng bạc này lại bị ném vào đống rác. Peter McDermott đã giải thích với anh, đây là một vấn đề mà ban quản lý của mọi khách sạn lớn đều đau đầu từ lâu. Phần lớn là do những người bồi bàn, tạp vụ và những người khác vì vội vàng, hoặc do sơ suất, hoặc không quan tâm, đã đổ chúng cùng với thức ăn thừa vào thùng rác, vì vậy dao dĩa cứ mất tích liên tục.

Cho đến vài năm trước, khách sạn St. Gregory vẫn luôn gom rác của khách sạn lại để nén và làm lạnh, sau đó chuyển chúng đến bãi rác thành phố. Nhưng kết quả là đồ bạc bị mất mát nghiêm trọng, vì vậy họ đã xây dựng một lò thiêu ngay trong khách sạn và thuê Booker T. Graham quản lý nó.

Công việc của anh rất đơn giản. Rác từ khắp nơi được chứa trong những thùng rác đặt trên xe đẩy. Booker T. đẩy từng chiếc xe vào, mỗi lần trải rác ra một chút trên một cái khay lớn, giống như người làm vườn xới đất, cào qua cào lại đống rác lộn xộn. Mỗi khi một chiến lợi phẩm được cào lên bề mặt – ví dụ như một chai lọ có thể tái chế, đồ thủy tinh còn nguyên vẹn, dao dĩa, đôi khi còn có cả những vật dụng quý giá của khách – Booker T. lại đưa tay nhặt ra. Cuối cùng, đẩy những thứ còn lại vào lửa thiêu cháy, rồi lại trải đống rác khác ra.

Tổng số lượng thu hồi hôm nay cho thấy lượng thu hồi của tháng này (sắp đến cuối tháng) được coi là trung bình. Cho đến nay, đồ bạc thu hồi được khoảng hai ngàn món, đối với khách sạn, mỗi món trị giá một đô la. Chai lọ khoảng bốn ngàn chiếc, mỗi chiếc trị giá hai xu; ly thủy tinh còn nguyên vẹn đạt tám trăm chiếc, mỗi chiếc trị giá hai mươi lăm xu, còn có một lượng lớn các loại vật phẩm khác, trong đó thậm chí bao gồm cả – thật không thể tin được – một chiếc bát súp bằng bạc có nắp. Việc thu hồi này tiết kiệm cho khách sạn số tiền ròng khoảng bốn mươi ngàn đô la mỗi năm.

Booker T. Graham, người có mức lương thực lĩnh ba mươi tám đô la một tuần, giờ đây khoác lên mình chiếc áo khoác ngắn đầy dầu mỡ và đi về nhà.

Lúc này, tại cửa dành cho nhân viên với bức tường gạch màu vàng nâu – nằm trong một con hẻm nhỏ cạnh phố Common – người qua lại ngày càng đông. Những công nhân ca đêm từng tốp từng tốp chậm rãi rời đi, trong khi những công nhân ca ngày đầu tiên đến từ khắp nơi trong thành phố đang lũ lượt kéo đến.

Trong khu vực bếp, đèn điện bật sáng choang, những trợ lý ca sớm chuẩn bị sẵn sàng cho các đầu bếp, còn các đầu bếp đã thay thường phục trong phòng thay đồ bên cạnh, khoác lên mình bộ đồng phục trắng tinh. Chỉ vài phút nữa thôi, họ sẽ bắt đầu làm một ngàn sáu trăm suất ăn sáng cho khách sạn, sau đó – còn lâu mới đến mười giờ là thời điểm hoàn thành suất ăn sáng cuối cùng – lại phải bắt tay vào chuẩn bị hai ngàn suất ăn trưa theo thực đơn trong ngày.

Trong bếp đầy những nồi hầm lửa nhỏ, lò nướng khổng lồ và các thiết bị chế biến thực phẩm hàng loạt khác, giữa những thứ đó lại đặt một gói yến mạch hiệu Quaker, điều này mang lại cảm giác của một căn bếp gia đình. Yến mạch là dành cho một vài vị khách khỏe mạnh, khách sạn nào cũng sẽ gặp những vị khách như vậy, bất kể nhiệt độ ngoài trời là không độ lạnh giá hay cao tới một trăm độ ở những nơi có bóng râm, bữa sáng họ luôn yêu cầu ăn cháo yến mạch nóng.

Trong khu vực chiên rán của bếp, trợ lý mười sáu tuổi Jeremy Behm nhìn chiếc nồi chiên sâu lòng, đa năng mà anh đã khởi động mười phút trước. Anh vừa mới điều chỉnh nhiệt độ nồi chiên lên hai trăm độ theo hướng dẫn. Chẳng bao lâu nữa, nhiệt độ sẽ tăng nhanh lên ba trăm sáu mươi độ cần thiết để nấu nướng. Hôm nay sẽ là một ngày bận rộn của nồi chiên, bởi vì trong thực đơn của nhà hàng lớn khách sạn, món gà rán kiểu miền Nam được liệt kê là món đặc sắc của bữa trưa.

Jeremy thấy dầu ăn trong nồi chiên đã sôi, nhưng phát hiện ra rằng, mặc dù phía trên nồi chiên có treo máy hút mùi và quạt thông gió cũng đang hoạt động, khói dường như dày đặc hơn bình thường. Anh tự hỏi liệu có nên nói với người khác về tình trạng đầy khói này không, nhưng anh nhớ lại, mới chỉ ngày hôm qua thôi, vì anh tỏ ra quan tâm đến gia vị mà một phụ bếp đã mắng anh xối xả. Người phụ bếp đó dặn anh rằng, việc nêm nếm không phải là việc của anh. Jeremy nhún vai. Chuyện này cũng chẳng liên quan gì đến anh. Cứ để người khác lo lắng đi.

Trong tiệm giặt ủi của khách sạn cách đó nửa con đường, quả thực có người đang lo lắng, nhưng không phải lo về khói. Tiệm giặt ủi là một bộ phận bận rộn, nóng bức và ẩm ướt, nó chiếm riêng một tòa nhà hai tầng cũ hơn, kết nối với tòa nhà chính của khách sạn St. Gregory thông qua một đường hầm rộng. Nữ quản lý của nó, bà Eris Schuller, tính tình nóng nảy, nói năng thô lỗ, bà đã đến tiệm giặt ủi qua đường hầm vài phút trước, như thường lệ, bà đến sớm hơn hầu hết nhân viên dưới quyền. Lúc này điều bà quan tâm là một đống khăn trải bàn bẩn.

Khối lượng công việc một ngày của tiệm giặt ủi là giặt khoảng hai mươi lăm ngàn món đồ vải, từ khăn tay, ga trải giường, đồng phục trắng của bồi bàn và nhân viên bếp, đến những bộ đồng phục đầy dầu mỡ, bẩn thỉu ở trạm kỹ thuật. Thông thường những quần áo này chỉ cần giặt theo lệ thường là được, nhưng gần đây lại xảy ra một vấn đề khó chịu, hơn nữa còn nghiêm trọng đến mức đáng ghê tởm. Nguyên nhân là: các doanh nhân dùng bút bi tính toán trên khăn trải bàn.

"Lũ khốn đó có làm thế ở nhà không?" Bà Schuller giận dữ mắng một nam công nhân ca đêm, người đang nhặt những chiếc khăn trải bàn đáng ghét đó ra khỏi đống khăn bẩn thông thường. "Trời đất chứng giám! – Nếu chúng dám làm thế ở nhà, vợ chúng chắc chắn sẽ đá đít chúng tơi bời. Chẳng biết bao nhiêu lần rồi, tôi bảo lũ quản lý bồi bàn ngốc nghếch kia phải chú ý kỹ, ngăn chặn nghiêm ngặt, nhưng chúng quản lý được cái gì chứ?" Bà hạ thấp giọng, dùng giọng điệu khinh bỉ bắt chước nói: "Vâng thưa ông, vâng thưa ông, tôi xin hôn lên mặt ông, thưa ông. Cứ viết lên khăn trải bàn đi, thưa ông, tôi đưa thêm cho ông một chiếc bút bi, thưa ông. Chỉ cần cho thêm tiền boa, ai quan tâm đến cái tiệm giặt ủi chết tiệt đó chứ?"

Bà Schuller dừng lại một lát. Sau đó bà lại hung hăng nói với người công nhân ca đêm vẫn đang há hốc mồm trố mắt nhìn: "Cút về nhà đi! Sáng sớm ra anh đã mang cho tôi những chuyện đau đầu này."

Sau khi anh ta đi, bà tự nhủ, may mà ít nhất những chiếc khăn trải bàn này chưa bị ngâm vào nước đã bị nhặt ra. Mực bút bi một khi dính nước thì khăn trải bàn coi như bỏ đi, vì sau khi dính nước, ngoài việc hủy hoại nó ra, bạn không còn cách nào để tẩy sạch vết mực được nữa. Rõ ràng là, chuyên gia tẩy vết bẩn Nelly của tiệm giặt ủi hôm nay sẽ phải vất vả tẩy rửa cả ngày bằng carbon tetrachloride. Cũng còn may mắn, đống khăn trải bàn này, hầu hết có thể cứu vãn được, dù vậy – bà Schuller vẫn khăng khăng cho rằng – bà vẫn phải mắng mỏ vài câu những kẻ ngốc đã gây ra chuyện phải tẩy rửa như thế này.

Các hoạt động trong khách sạn cứ thế diễn ra. Trên sân khấu, cũng như phía sau sân khấu – bao gồm bộ phận dịch vụ, văn phòng, xưởng mộc, tiệm bánh, xưởng in, bộ phận quản lý, bộ phận sửa chữa đường ống nước, bộ phận thu mua, bộ phận thiết kế trang trí, bộ phận quản lý kho, gara ô tô, bộ phận sửa chữa tivi và một số bộ phận khác – một ngày mới đã bắt đầu.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang