Gia-xi-a thực hiện cuộc gọi cuối cùng. Grantham nhận được điện thoại trước khi trời sáng vào thứ Bảy, tức là hai tiếng trước giờ hẹn gặp mặt lần đầu của họ. Hắn bỏ cuộc, hắn nói. Thời điểm không thích hợp. Nếu tin tức này bị phơi bày, một số luật sư đầy quyền thế cùng những khách hàng siêu giàu của họ sẽ phải khốn đốn, những kẻ này không đời nào chịu chấp nhận thất bại, chúng sẽ kéo người khác xuống bùn cùng, và Gia-xi-a khó lòng tránh khỏi tai ương. Hắn có vợ và một cô con gái nhỏ. Hắn có một công việc, công việc mà hắn vẫn cam chịu tiếp tục vì thu nhập rất cao. Tại sao phải mạo hiểm? Hắn chưa từng làm điều gì khuất tất, lương tâm hắn trong sạch.
"Vậy tại sao anh cứ gọi điện cho tôi?" Grantham hỏi hắn.
"Tôi nghĩ mình biết lý do họ bị giết. Tôi không chắc chắn lắm, nhưng tôi có một suy đoán rất hợp lý. Tôi đã thấy vài thứ, được chưa?"
"Chúng ta đã nói chuyện như thế này cả tuần nay rồi, Gia-xi-a. Anh đã thấy vài thứ, hoặc anh có vài thứ trong tay. Nếu anh không cho tôi xem, thì những gì anh nói đều vô dụng." Grantham mở một tập hồ sơ, lấy ra bảy tấm ảnh cỡ 5x7 inch của người đàn ông đã gọi điện. "Anh đang bị thúc đẩy bởi ý thức đạo đức, Gia-xi-a, đó là lý do anh tìm đến tôi."
"Phải, nhưng còn một khả năng nữa, đó là họ biết tôi đã nắm giữ bí mật của họ. Thái độ của họ với tôi rất kỳ quặc, dường như muốn hỏi xem tôi có nhìn thấy gì không, nhưng họ lại không thể hỏi thẳng vì chưa chắc chắn."
"Những gã đó đều là người trong công ty anh à?"
"Đúng. Không, chờ đã. Sao anh biết tôi ở trong công ty? Tôi đâu có nói với anh điều đó."
"Dễ thôi. Giờ giấc đi làm của anh rất sớm, không thể là luật sư chính phủ được. Anh làm việc trong một công ty có hai trăm luật sư, loại công ty này đều yêu cầu các luật sư hợp tác và luật sư cấp thấp phải làm việc một trăm tiếng mỗi tuần. Lần đầu tiên anh gọi cho tôi, anh đã nói là đang trên đường đi làm, lúc đó khoảng 5 giờ sáng."
"Giỏi, giỏi lắm, anh còn biết gì nữa không?"
"Không nhiều. Chúng ta đang chơi trò chơi thôi, Gia-xi-a. Nếu anh không muốn nói, thì cứ cúp máy đi, đừng tìm đến tôi nữa. Tôi còn phải ngủ."
"Chúc anh có giấc mơ đẹp." Gia-xi-a cúp máy. Grantham nhìn chằm chằm vào ống nghe.
Tám năm qua, đã ba lần hắn yêu cầu không đưa số điện thoại của mình vào danh bạ. Hắn sống nhờ điện thoại, những tin tức chấn động của hắn đều đến từ những cuộc gọi hư ảo. Nhưng sau mỗi tin tức lớn, hoặc trong khi đang săn tin, cũng có hàng ngàn cuộc gọi vô bổ, người gọi là những kẻ cảm thấy nhất định phải kể cho hắn nghe những mẩu tin nóng hổi của chúng vào ban đêm. Mọi người biết hắn là một phóng viên thà chết chứ không tiết lộ nguồn tin, nên họ không ngừng gọi cho hắn, đến khi hắn cảm thấy không thể chịu đựng nổi, hắn bèn lắp một số điện thoại không có trong danh bạ, thế là lại có một khoảng thời gian nguồn tin cạn kiệt, rồi hắn lại phải vội vàng cho số điện thoại vào danh bạ.
Hiện tại trong danh bạ có tên hắn: Gray S. Grantham. Cả cuốn danh bạ chỉ có mình hắn. Họ có thể tìm thấy hắn trong mười hai tiếng làm việc mỗi ngày, nhưng gọi điện đến nhà riêng thì lại mang màu sắc bí mật và tư giao.
Hắn tức giận vì Gia-xi-a mất 30 phút, rồi chìm vào giấc ngủ. Lúc này điện thoại lại reo. Hắn mò mẫm trong bóng tối cầm lấy ống nghe. "Alo!"
Lần này không phải Gia-xi-a, là một phụ nữ. "Anh có phải là Gray Grantham của tờ Washington Post không?"
"Phải. Cô là ai?"
"Các anh vẫn đang đưa tin về vụ Rosenberg và Jensen à?"
Hắn ngồi dậy trong bóng tối, nhìn đồng hồ. 5 giờ 30. "Đây là tin lớn. Chúng tôi có rất nhiều người tham gia, nhưng, đúng vậy, tôi đang điều tra."
"Anh đã nghe nói đến Hồ sơ Pelican chưa?"
Hắn hít một hơi thật sâu, suy nghĩ. "Hồ sơ Pelican? Chưa. Chuyện đó là sao?"
"Một bài phân tích vô hại, nhỏ bé, về vấn đề ai đã giết họ. Chủ nhật tuần trước, một người tên Thomas Callahan đã mang nó đến Washington, ông ta là giáo sư luật của Đại học Tulane. Ông ta đưa nó cho một người bạn ở FBI, qua tay vài người, sự việc bỗng chốc trở nên nghiêm trọng, tối thứ Tư một quả bom xe ở New Orleans đã thổi bay Callahan."
Đèn bàn đã bật sáng, hắn vội vàng ghi chép lại. "Cô đang gọi từ đâu?"
"New Orleans. Điện thoại công cộng, anh không cần bận tâm đâu."
"Sao cô biết tất cả những thứ này?"
"Bản tóm tắt hồ sơ là do tôi viết."
Hắn giờ đã tỉnh táo hoàn toàn, mắt mở to, hơi thở dồn dập. "Được. Vì là cô viết. Nói cho tôi biết nó nói gì?"
"Tôi không muốn làm vậy, vì ngay cả khi anh có được bản sao, anh cũng không thể đăng bài báo này."
"Sao không thử tôi xem."
"Anh không làm được đâu. Anh phải xác minh triệt để."
"Được thôi. Chúng tôi từng đưa tin về Ku Klux Klan, tên khủng bố Khamel, đội quân ngầm, người Aryan..."
"Không được. Những người anh nói đều không liên quan. Họ đều là những kẻ lộ liễu. Bản tóm tắt vụ án nói về một nghi phạm vô hình."
"Tại sao cô không nói cho tôi biết kẻ đó là ai?"
"Có lẽ một thời gian nữa. Các anh dường như có rất nhiều nguồn tin bí ẩn. Tôi phải xem các anh có thể điều tra ra được gì."
"Callahan thì dễ điều tra thôi. Đó chỉ là chuyện một cuộc điện thoại. Cho tôi 24 giờ."
"Sáng thứ Hai tôi sẽ gọi lại cho anh. Nếu chúng ta nghiêm túc giao dịch, ông Grantham, anh cũng phải tiết lộ cho tôi chút gì đó. Lần tới khi tôi gọi, anh phải nói điều gì đó mà tôi không biết."
Cô ta đang gọi từ điện thoại công cộng trong bóng tối. "Cô có gặp nguy hiểm không?" hắn hỏi.
"Tôi nghĩ là có, nhưng hiện tại tôi vẫn ổn."
Nghe giọng cô ta, cô ta còn rất trẻ, có lẽ tầm 20 tuổi. Cô ta viết một bản tóm tắt vụ án. Hắn biết vị giáo sư luật kia. "Cô là luật sư à?"
"Không, đừng lãng phí thời gian truy cứu thân thế của tôi. Anh phải làm công việc của anh đi, ông Grantham, nếu không tôi sẽ đi tìm người khác."
"Được thôi. Cô phải có một cái tên."
"Tôi có rồi."
"Ý tôi là một mật danh."
"Anh muốn nói giống như kiểu điệp viên ấy hả. Này, cái này thú vị đấy."
"Nếu không thì hãy nói cho tôi biết tên thật của cô."
"Thử một lần xem, hãy gọi tôi là Pelican."
Cha mẹ hắn đều là những tín đồ Công giáo Ireland nghiêm túc, nhưng hắn đã không còn tin vào tôn giáo từ nhiều năm trước. Hai ông bà mặc đồ tang, trông đầy kính trọng, làn da rám nắng, trang phục cao quý. Hắn hiếm khi nói về họ. Họ nắm tay nhau cùng gia đình bước vào nhà nguyện nhỏ Rogers. Anh trai hắn từ Mobile đến, dáng người thấp hơn, trông già hơn nhiều. Thomas nói anh ta nghiện rượu nặng.
Khoảng nửa tiếng, sinh viên và giảng viên lần lượt đi vào nhà nguyện. Tối nay có trận bóng, khắp nơi trong trường đều là người. Trên phố đỗ một chiếc xe truyền hình. Một quay phim giữ khoảng cách lịch sự để ghi hình mặt tiền nhà nguyện. Một cảnh sát trường học chú ý quan sát hắn, không để hắn đến quá gần.
Trông hơi kỳ lạ, những sinh viên trường luật này mặc váy và đi giày cao gót, khoác áo vest và thắt cà vạt. Trong một căn phòng không sáng đèn trên tầng ba tòa nhà Newcomb, "Pelican" ngồi đối diện cửa sổ, nhìn đám sinh viên đi lại chen chúc, nói khẽ, vội vàng hút hết điếu thuốc. Dưới ghế của cô có bốn tờ báo, đều là những tờ cô đã đọc xong rồi vứt đi. Cô đã đến được hai tiếng, dưới ánh nắng bên cửa sổ, đọc báo, chờ buổi lễ truy điệu bắt đầu. Không còn chỗ nào khác để ở. Cô tính toán rằng những gã đó đều đang ẩn nấp trong bụi cây quanh nhà nguyện, nhưng cô cũng hiểu cần phải kiên nhẫn. Cô đến sớm, đi muộn, chuyên đi lại trong bóng râm. Nếu chúng phát hiện ra cô, có lẽ chúng sẽ ra tay ngay lập tức, và mọi chuyện cũng kết thúc ngay thôi.
Cô cầm một tờ khăn giấy vo tròn lau khô mắt. Bây giờ là lúc khóc một trận, nhưng đây cũng là lần cuối cùng rồi. Mọi người đều đã vào trong, xe truyền hình cũng rời đi. Báo nói đây là buổi truy điệu, lễ tang chỉ có gia đình tham dự sẽ diễn ra muộn hơn. Bên trong nhà nguyện không có quan tài.
Cô chọn thời điểm này để trốn thoát, thuê một chiếc xe lái đến Baton Rouge, nhảy lên một chuyến bay, bất kể bay đến đâu, miễn là không phải New Orleans. Cô muốn bay ra nước ngoài, Montreal hay Calgary đều được. Cô muốn trốn ở đó một năm, hy vọng vụ tội ác này đến lúc đó đã được giải quyết, kẻ xấu cũng đã bị trừ khử.
Nhưng đó chỉ là mơ tưởng. Bản tóm tắt nhỏ bé của cô đã giết chết Thomas, bây giờ chúng lại sắp ra tay với cô. Cô biết kẻ chủ mưu đằng sau những vụ ám sát Rosenberg, Jensen và Callahan là ai, tình tiết mà cô biết này khiến cô trở thành một người khá đặc biệt.
Cô đột nhiên nhoài người về phía trước, nhìn thấy người đàn ông đó ở đằng kia! Gã đàn ông gầy gò mặt dài đó! Hắn mặc áo khoác, thắt cà vạt, vẻ mặt đưa đám, bước nhanh về phía nhà nguyện. Chính là hắn! Người đàn ông mà sáng thứ Năm cô đã nhìn thấy trong sảnh khách sạn Sheraton. Lúc đó cô đang nói chuyện với Verheek.
Hắn đi đến cửa thì dừng lại, thần kinh căng thẳng vươn đầu ra bốn phía - hắn là một tên ngốc, nhìn là biết ngay là kẻ nào. Hắn liếc nhìn ba chiếc xe đỗ ngay ngắn trên phố cách đó chưa đầy 50 thước. Hắn đẩy cửa lớn, bước vào nhà nguyện.
Mũi cô ép sát vào kính cửa sổ. Những chiếc xe đều quá xa, nhưng cô tính toán rằng có một người đang ngồi trong một trong những chiếc xe đó canh chừng cô.
Mười phút sau, gã gầy gò một mình đi ra, châm một điếu thuốc, hai tay đút sâu vào túi, đi về phía ba chiếc xe.
Hắn đi qua trước mặt những chiếc xe, không dừng lại. Đến khi không nhìn thấy hắn nữa, cửa chiếc xe ở giữa mở ra, một người mặc áo nỉ Đại học Tulane màu xanh lá cây bước ra. Hắn đi theo sau gã gầy dọc theo con phố. Hắn thấp, thô, to khỏe, đúng là một gã béo đích thực.
Hắn theo sau gã gầy biến mất trên vỉa hè, đi ra phía sau nhà nguyện. Darby ngồi yên trên mép ghế xếp. Một phút sau, họ xuất hiện từ phía sau ngôi nhà trên vỉa hè. Hai người bây giờ đi cùng nhau, nói khẽ, nhưng chỉ trong chốc lát, vì gã gầy lập tức bước nhanh rời đi và biến mất trên phố. Gã béo vội vã quay trở lại xe của mình. Hắn ngồi trong xe đợi buổi truy điệu kết thúc, để tìm kiếm lần cuối trong đám đông, không từ bỏ một cơ hội mà hắn biết là không thể có.
Chưa đầy mười phút, gã gầy lẻn vào trong, quét mắt nhìn hơn hai trăm người có mặt, xác định cô không có trong đó.
Havana là một nơi trú ẩn lý tưởng. Một quốc gia hay một trăm quốc gia treo thưởng hậu hĩnh cho cái đầu của hắn cũng chẳng sao. Fidel dành cho hắn sự ngưỡng mộ, đôi khi cũng là khách hàng của hắn. Họ cùng thưởng thức rượu ngon, mỹ nữ và xì gà. Ở đây hắn muốn gì có nấy: một căn hộ trang nhã trên phố tháp cổ, một chiếc xe có tài xế, một giám đốc ngân hàng có thể như phù thủy thu chi tiền bạc khắp thế giới trong chớp mắt, bất kể tàu thuyền gì, kể cả máy bay quân sự, nếu cần cũng có thể có. Hắn biết nói tiếng Tây Ban Nha, làn da hắn không hề tái nhợt. Hắn yêu nơi này.
Hắn từng có lần hứa sẽ giết Fidel, nhưng hắn không làm được. Lúc đó hắn không hoàn toàn vì tiền mà giết người. Hắn chơi trò hai mặt, tự mình thú nhận với Fidel. Họ diễn một màn kịch phục kích đấu súng giả, rồi tung tin rằng sát thủ phi thường Khamel đã bỏ mạng trên đường phố Havana.
Hắn không bao giờ đi máy bay thương mại nữa. Những bức ảnh ở Paris khiến một sát thủ chuyên nghiệp như hắn cảm thấy xấu hổ. Hắn đã mất đi sự sắc bén; sự nghiệp cuộc đời hắn đã đến lúc hoàng hôn, khó tránh khỏi có những sơ suất. Ảnh hắn được đăng trên trang nhất báo chí Mỹ. Thật mất mặt, khách hàng của hắn không vui.
Trên một chiếc thuyền buồm dài 40 feet, có hai thủy thủ và một thiếu phụ trẻ tuổi, đều là người Cuba. Cô ta đang ở trong cabin bên dưới. Vài phút trước khi họ nhìn thấy ánh đèn của Biloxi, hắn vừa xong việc với cô ta. Bây giờ hắn tập trung toàn bộ tinh thần vào công việc, kiểm tra chiếc bè cao su, thu dọn túi du lịch, không nói một lời. Hai thủy thủ cúi đầu làm việc trên boong, tránh xa hắn.
Đúng 9 giờ, họ thả chiếc bè cao su xuống nước. Hắn ném túi du lịch xuống, rồi rời tàu. Hắn biến mất trong eo biển tối tăm, họ chỉ nghe thấy tiếng động cơ nổ lạch bạch. Họ phải thả neo đợi đến sáng, rồi mới lái thuyền về Havana. Nếu chẳng may họ bị phát hiện hoặc có người hỏi, họ đều mang theo giấy tờ đầy đủ, chứng minh họ là người Mỹ.
Hắn cẩn thận lái trên mặt nước phẳng lặng, tránh ánh đèn của phao tiêu hoặc những chiếc thuyền nhỏ thỉnh thoảng nhìn thấy. Hắn cũng mang theo giấy tờ đầy đủ, trong túi du lịch còn có ba món vũ khí.
Đã nhiều năm rồi hắn không thực hiện hai phi vụ trong một tháng. Truyền thuyết kể rằng sau khi hắn bị bắn chết ở Cuba, hắn đã ẩn mình suốt năm năm trời.
Phi vụ lần này là một trò nhỏ không gây chú ý. Không ai nghi ngờ đến hắn. Đây đúng là một phi vụ nhỏ, nhưng khách hàng của hắn lai lịch không nhỏ, giá cả rất hậu hĩnh, nên nay hắn lại làm.
Lần này làm xong phải nghỉ ngơi một thời gian dài, không bao giờ làm nữa. Tiền của hắn đã nhiều đến mức tiêu không hết, hơn nữa hắn cũng đã bắt đầu phạm phải vài lỗi nhỏ.
Còn cách bến tàu hai trăm thước, hắn tắt động cơ, tháo nó ra, ném xuống nước. Hắn nằm xuống bè, chèo mái chèo nhựa, lặng lẽ đến một nơi tối tăm. Hắn đứng trong làn nước sâu hai feet, dùng một con dao gấp nhỏ đâm vài lỗ vào bè cao su, nó liền chìm xuống không nhìn thấy nữa. Trên bãi biển không có một bóng người.
Luke một mình đứng bên bến tàu. Đúng 11 giờ, hắn cầm một chiếc cần câu và guồng câu chờ ở đó. Hắn đội một chiếc mũ trắng, quan sát kỹ mặt nước, tìm kiếm chiếc bè.
Đột nhiên có một người đến bên cạnh hắn, như thiên thần không biết từ đâu tới. "Luke?" người này nói.
Đây không phải là ám hiệu. Luke giật nảy mình. Dưới chân hắn trong hộp dụng cụ câu cá có một khẩu súng lục, nhưng không với tới được. "Sam?" hắn hỏi.
"Đúng, Luke, là tôi. Xin lỗi. Hơi không đúng quy định. Chiếc bè bị hỏng."
Luke trút bỏ gánh nặng, thở phào nhẹ nhõm.
"Phương tiện giao thông đâu?" Khamel hỏi.
Luke liếc nhìn hắn thật nhanh. Đúng rồi, hắn chính là Khamel.
Luke gật đầu về phía một ngôi nhà. Chiếc xe Pontiac màu đỏ, đỗ bên tường khách sạn.
"Cách New Orleans bao xa?"
"Nửa tiếng," Luke nói.
Khamel lùi lại một bước, giáng hai cú mạnh vào gốc cổ hắn. Luke ngã gục, rên rỉ một tiếng. Khamel nhìn hắn chết, rồi lục trong túi hắn lấy chìa khóa, đá xác chết xuống nước.
Edwin Sneller không mở cửa, mà im lặng đẩy chìa khóa từ dưới khe cửa ra ngoài. Khamel nhặt lên mở cửa phòng bên cạnh. Hắn bước vào phòng, vội vã đặt túi du lịch lên giường, lại đi về phía cửa sổ, kéo rèm lại.
Hắn đi đến điện thoại, bấm số của Sneller.
"Kể cho tôi nghe về cô ta," Khamel nói khẽ.
"Trong cặp tài liệu có hai bức ảnh."
Khamel mở cặp tài liệu lấy ảnh ra. "Tôi thấy rồi."
"Ảnh đã được đánh số, số một và số hai. Số một là lấy từ kỷ yếu trường luật. Khoảng một năm trước, cũng là tấm mới nhất trong tất cả các ảnh chúng ta có. Nó được phóng to từ ảnh nhỏ, nên mất đi nhiều chi tiết. Tấm ảnh kia là hai năm trước. Chúng ta lấy từ kỷ yếu của Đại học bang Arizona."
Khamel cầm hai bức ảnh. "Người phụ nữ xinh đẹp."
"Đúng. Rất xinh đẹp. Nhưng mái tóc đáng yêu đó không còn nữa. Tối thứ Năm cô ta dùng thẻ tín dụng trả tiền khách sạn. Sáng thứ Sáu chúng ta suýt chút nữa đã tóm được cô ta. Chúng ta tìm thấy những sợi tóc dài trên sàn nhà, và một lọ mẫu nhỏ, giờ chúng ta biết đó là thuốc nhuộm đen, cực đen. Từ tối thứ Tư chúng ta không nhìn thấy cô ta nữa. Cô ta thực sự rất xảo quyệt, chiều thứ Sáu cô ta rút năm ngàn đô tiền mặt từ tài khoản séc, dấu vết của cô ta liền biến mất."
"Cô ta có lẽ đã đi rồi."
"Có khả năng, nhưng tôi nghĩ chưa đi đâu. Tối qua có người đến căn hộ của cô ta. Chúng ta đã lắp máy nghe lén ở đó, nhưng chúng ta đến muộn hai phút."
"Các anh hành động hơi chậm chạp, phải không?"
"Đây là thành phố lớn. Chúng ta đều có người canh giữ ở sân bay và nhà ga, chúng ta cũng canh chừng ngôi nhà của mẹ cô ta ở Idaho, đều không có động tĩnh. Tôi nghĩ cô ta vẫn ở đây."
"Cô ta có thể ở những nơi nào?"
"Trốn chỗ này chỗ kia, đổi khách sạn, sử dụng điện thoại công cộng, tránh những nơi hay lui tới. Cảnh sát New Orleans đang tìm cô ta. Sau vụ nổ thứ Tư họ đã nói chuyện với cô ta, sau đó không tìm thấy cô ta nữa. Chúng ta tìm cô ta, họ tìm cô ta, cô ta sẽ lộ diện thôi."
"Bom xảy ra vấn đề gì?"
"Rất đơn giản. Cô ta không lên xe."
"Ai chế tạo quả bom?"
Sneller ngập ngừng. "Khó nói lắm."
Khamel hơi mỉm cười, lấy ra vài tấm bản đồ đường phố từ trong cặp. "Kể cho tôi nghe về bản đồ."
"Ồ, nói về vài địa điểm liên quan: nơi ở của cô ta, khách sạn cô ta từng ở, địa điểm vụ nổ, vài quán bar nhỏ cô ta thích lui tới khi còn đi học."
"Cô ta đến giờ vẫn đang ở khu phố Pháp."
"Cô ta là người thông minh, có vô số nơi có thể ẩn náu."
Khamel cầm lấy bức ảnh mới nhất, ngồi xuống chiếc giường còn lại. Hắn thích khuôn mặt này, ngay cả khi tóc đã cắt ngắn và nhuộm đen, đây vẫn là một khuôn mặt quyến rũ. Hắn có thể giết cô ta, nhưng điều đó sẽ không khiến hắn vui vẻ—