Batsây đã đi tới góc phố Katêrin đệ nhị. Đây là cái ngã tư nổi tiếng, nơi mà trước Cách mạng có những cái bàn con màu xanh của bọn buôn bạc và những chiếc ghế đẩu của những người hàng hoa.
Hồi nhỏ, khi nào Piôt Vaxiliêvich phải đi vào trung tâm thành phố, ông luôn luôn tìm cách dừng lại ở góc phố Katêrin đệ nhị và phố Ribat, trước nhà Vane để nhìn bọn buôn bạc.
Không có gì để xem ở phía những người hàng hoa cả. Họ chỉ bán hoa. Với những cái khăn đan màu xám, bắt chéo trên ngực và buộc ở sau lưng, họ ngồi trên những chiếc ghế dài nhỏ, hoa để bên cạnh, trên những chiếc ghế dựa hay ghế đẩu. Những bông hồng ướt bơi trong chậu thau xanh, những bó huệ và lay-ơn cắm trong xô men, lại có những giọt nước, long lanh liên lục nhỏ xuống. Nom thật lịch sự, đẹp đẽ vô cùng. Nhưng cũng nhu tất cả mọi vẻ đẹp thực sự, mọi vẻ đẹp tự nhiên, cái cảnh một khối hoa tươi rực rỡ chỉ gợi cho ông một sự thích thú bình dị, không kích thích tí nào trí tưởng tượng, và gần như không làm ông chú ý.
Bên cạnh hoa, sự có mặt khó hiểu và tự nhiên của bọn buôn bạc càng có vẻ lạ lùng và đáng lo ngại. Cậu bé Pêchya hồi đó không thể nào hiểu được có cái gì ở đấy?
Bọn buôn bạc ngồi trước những bàn con màu xanh, trong những cái ghế bành rách nát, ở lưng ghế buộc những chiếc dù vải lớn. Đó là những lão già mặt khoằm khoặm, mũi diều hâu. Những con mắt sắc lấp lánh xuyên qua hàng lông mày rậm. không kể mùa nào, đông cũng như hè, họ quấn áo choàng Êcôt và đội mũ bồ đài đã mất hết tuyết. Từ mớ áo rách đó thò ra những bàn tay xương xẩu. Bộ móng cú vọ của họ co quắp chạy trên cái mâm, lựa chọn và xếp lại thành chồng, thành đống tiền bạc và tiền đồng.
Nhưng không phải là tiền thông thường. Đó là tiền nước ngoài. Đó là thứ tiền mà, vì một lẽ nào đó, người ta gọi là Valuyta; nó có cái tài hết sức lạ lùng, thậm chí có thể nói là tai hại, thay đổi giá trị trong việc đổi chác. Có khi nó cao vọt lên và có khi nó bỗng hạ xuống!
Thứ tiền kêu lanh canh đó bay trên những ngón tay lanh lẹ của bọn buôn bạc, vang lên không gian một điệu nhạc gian dối, nhẹ nhàng, khô khan, khó hiểu. Cậu bé Pêchya hồi đó trố mắt nhìn đồng valuyta, ngạc nhiên trước tình trạng phức tạp khủng khiếp đó.
Ở đây chẳng thiếu một loại tiền gì! Hình như tất cả các nước trên thế giới đã gửi tiền của mình đến đây, để trên những ngón tay của bọn buôn bạc, nó lên giá trong nháy mắt, rồi xuống giá và lại lên giá, tuân theo một quy luật đen tối của “thời giá” đang ngự trị dưới bóng những cái dù vải khủng khiếp.
Chỗ này đang ánh lên những đồng Thổ-nhĩ-kỳ và Ý, đàng kia những đồng frăng Thụy-sĩ và Pháp đang vang lên thanh nhã, ở đây đang tung bay những đồng xu Mỹ, đồng si-linh Anh và một loại tiền nho nhỏ Trung-quốc có lẽ ở giữa, xa hơn nữa, những đồng Nhật-bản đang quay tròn, những đồng minrâu Brêzin chồng cao thành cột, những đồng ralsmơ Hy-lạp, đồng đina Xecbi, đồng lây Rumani, đồng lêva Bungari, đồng pêzơta Tày-ban- nha, đồng rupi Ấn-độ chất thành cọc. Tiền nước nào mang quốc huy của nước đó, chữ thập, con sư tử, một người phụ nữ, một cái đầu vua, một chữ tượng hình hay một dấu hiệu hoàn toàn khó hiểu như con dấu Ôman Thổ-nhĩ-kỳ giống hệt vết ngón tay cái.
Hồi ấy, Pêchya nghĩ đó không phải là bạc, không phải là những đồng tiền, mà chính là bản thân các Quốc gia, với tất cả những quốc huy, huân chương và ảnh chụp nghiêng của vua chúa đang lấp lánh và đang đánh nhau như những con bài trên cái mâm xanh của tay buôn bạc với mục đích để lại một phần của cái của họ cho những bàn tay móng cú vọ nhanh nhẹn, khô cằn, và tham lam kia.
Thỉnh thoảng có người lại gần bàn để đổi valuyta. Thông thường nhất, là những thủy thủ trên các tàu nước, ngoài. Họ quẳng lên bàn một đồng và lấy lại một đồng khác. Qua vẻ mặt giận dữ của họ, thì họ đã nhận được ít hơn, so với số họ bỏ ra. Họ lầm bầm chửi rủa.
Đôi khi một thủy thủ đập tay xuống bàn. Thế là tất cả bọn buôn bạc như một bầy cú xù lông quay đầu về phía anh ta và đồng thanh kêu lên the thé lời nói muôn thuở:
— Đó là thời giá! Thời giá! Thời giá!
Và lời nói đó đã làm người thủy thủ dịu xuống. Anh ta bỏ đi, tay thọc sâu vào túi, đầu cúi xuống dưới cái mũ nồi có ngù đỏ, không hiểu ra thế nào nữa. Vì đâu anh đã nhận ít hơn số anh bỏ ra?
— “Quân lừa bịp!“ cậu Pêchya hồi đó lầm bầm, không biết rõ tại sao đã gọi chúng là tụi lừa bịp, nhưng căm ghét bọn buôn bạc đến tận xương tủy, và điệu nhạc nhẹ nhàng khô khan của dòng valuyta bay lượn trên những ngón tay lanh lẹ của chúng!
Do đó góc phố Ribat và phố Katêrin đệ nhị, suốt đời đã khắc sâu vào trí nhớ của ông như một nơi mà hoa đẹp với đồng valuyta lừa bịp, khủng khiếp, và khó hiểu hòa lẫn vào nhau một cách kỳ lạ.
Sau Cách mạng tháng Mười, trong thời kỳ chính quyền xô-viết, bọn buôn bạc đã biến mất. Chỉ còn lại những người hàng hoa, và lúc này, còn nhiều hoa hơn cả ngày trước. Bàn xanh đã biến mất cũng như ghế bành, với những chiếc dù vải rùng rợn. Vì lẽ công bằng, vì quyền của cái đẹp, vị trí của chúng đã bị các thùng hoa chiếm lĩnh với những bó cẩm chướng kép đỏ, ướt đẫm sương mai và tỏa ra một mùi hương cay cay của hương liệu, như mùi hạt tiêu. Những bó cúc xanh, cúc đại đóa, những cành thược dược mẫm, những hoa ca-na màu lửa, những hoa kim liên, và các loại hoa hồng: hồng tươi, hồng nhạt, hồng nhung, hồng bạch hay hồng vàng, như đang ca ngợi cái thiện đã thắng cái ác và đang cháy rực như những đống củi nó ở nơi mãi mãi đã bị bọn buôn bạc làm mất cả vẻ tôn nghiêm.
Nói cho đúng, bọn buôn bạc đã nhiều lần quay lại. Chúng đã quay lại mỗi lần chính quyền xô-viết mất đi. Chúng sống lại ở địa điểm cũ, ở góc phố Rihat và Katêrin đệ nhị, đối diện với nhà Vane, như nấm độc gần cái gốc nguyên thủy.
Trong quá trình thời gian, chúng đã thay đổi hình dạng. Trong thời kỳ Đức xâm lược năm 1918 và thời Đênikin, chúng vẫn giữ cái vẻ như trước cách mạng: bàn xanh, ghế bành rách và dù vải. Nhưng trong thời kỳ can thiệp của mười bốn nước đã có một nhóm buôn bạc hoạt động ở góc phố Ribat và Katêrin đệ nhị, lảng vảng chung quanh nhà Vane, tay cầm những tờ sặc sỡ như những cỗ bài lá. Trong giai đoạn ngắn của chính sách Tân kinh tế, chúng không dám ra ngoài phố. Tay xách két con, mình mặc áo choàng kiểu Tônxtôi, chúng tụ tập trong cái sân rộng mênh mông của nhà Vane thành những đám đen sau song cửa và di động bí mật trong các hành lang, lắc leng keng những đồng tiền vàng mười rúp của thời sa hoàng và vuốt sột soạt những đồng vônxu mới bằng giấy. Về sau, chúng đã biến hẳn và hình như vĩnh viễn.
Piôt Vaxiliêvich đã đi tới cái góc phố nổi tiếng của phố Ribat và phố Katêrin đệ nhị. Nếu không kể lần ông đi qua đó, lúc hoàng hôn, cải trang thành anh nông dân Rumani bị Đrujinin đóng vai một tên S.S. áp giải, thì đã đến hai mươi năm nay, ông chưa tới góc phố này. Ông tưởng sắp trông thấy những bó hoa lộng lẫy tháng tám, rực rỡ đến nỗi khắp xung quanh — vỉa hè rộng trải nhựa, tường của ngôi nhà ở góc phố, các tủ kính — tất cả sẽ sáng rực lên như dưới ánh một bếp lửa lớn. Thậm chí ông còn định dừng lại một phút và nheo mắt thưởng thức cái thú trước mắt, như mỗi lần ông tới gần góc phố nổi tiếng đó.
Nhưng, góc phố trống không, trơ trụi, không còn cái vẻ đẹp chủ yếu và duy nhất của nó là hoa. Nó cũng xơ xác, cũng bị ruồng bỏ như những góc phố khác của thành phố bị mạo phạm và cướp phá. Trên một bức tường cũ loang lổ treo một tấm biển men mới tinh viết bằng hai thứ tiếng, tiếng Nga và tiếng Rumani “phố Ađônfơ Hitle”. Đây là một góc phố tồi tàn. Sự tồi tàn càng nổi bật vì trên vỉa hè có một cái vỏ đồ hộp và hai cành hoa cối xay của một bà già đem bán; bà để đầu trần, mặc bộ quân phục Áo, ngồi với số hàng đem bán trên một cái ghế dài nhỏ cổ truyền. Ngoài cái hộp sắt lấy đựng hoa cối xay ra, ở chân bà ta, còn có một mảnh gỗ dán trên để vài quả lê vàng, loại gọi là lê chanh. Có một vẻ gì buồn bã khủng khiếp, tuyệt vọng, trên mấy quả lê con, bị những tia nắng vàng của một vầng mặt trời cô đơn xuyên qua, vừa hết sức chói chang vừa không có sức sống.
Ở đây cũng thế, không có bàn xanh, cũng không có dù vải. Nhưng gần cửa song sắt nhà Vane, có những thanh niên mặc áo màu be dài đến tận đầu gối, đeo nhẫn triện ở ngón tay, với những mái tóc dài hất ra đằng sau. Piôt Vaxiliêvich chưa kịp nghĩ đi qua đây có nguy hiểm gì không, hay tốt hơn hết đừng đi qua đấy, thì một trong những thanh niên đó, mũi bóng nhẫy và đầy những nốt tàn hương, tóc xanh lông quạ, như màu ô-liu, tay chắp sau lưng, đã đi sát vào ông, một lối đi êm của mật thám, và vừa đi vừa nói lầm bầm:
— Livrơ, đôla, frăng Thụy-sĩ!
A, ra chúng thế đấy. Chúng chỉ là những tên buôn bạc, những tên buôn tiền thông thường. Chúng đã sống lại lần nữa ở cái chỗ tai họa này, nhưng chỉ mang một lớp vỏ mới thôi. Piôt Vaxiliêvich nhăn mặt lại và lắc đầu. Tên trai trẻ có cái mũi bóng nhẫy, õng ẹo, nheo mi mắt, và để lộ ra một cái răng vàng.
— Lia Thổ? Raisơmac?... — Hắn nheo mi mắt mạnh hơn, làm bộ quay đi rồi thì thầm một cách quyến rũ, hay đúng hơn rít lên theo kiểu sân khấu: Secvônxư xô-viết?
— Nein — Piôt Vaxiliêvich gầm lên, tự mình cũng ngạc nhiên là đã thốt ra bằng một tiếng Đức oai vệ, hách dịch. Zum Teufel! Spekulant! Hinaus!
Đấy là tất cả những tiếng Đức trong cái vốn khá nghèo nàn của ông mà trí nhớ đã giúp ông trong giây phút đó lôi ra được. Nhưng như thế là đã quá đầy đủ. Tụi thanh niên như đã bị gió thổi bạt đi. Những cái lưng còng còng, những cái gáy, những mái tóc bóng nhẫy hất ra đằng sau, những đôi giày vàng đế cao su, tất cả đều bỏ trốn. Người ta nghe thốt lên: “Excusez Pardon[9]” Tôi xin lỗi! Rồi góc phố Ribat và Ađônfơ Hitle lại trở lại vắng vẻ, chỉ sau song sắt nhà Vane còn thấy nhốn nháo một lúc nữa thôi.
— Sher gut! — Batsây nghiến răng nói và nháy mắt vẻ hơi tinh nghịch, như Đrujinin trong trường hợp như vậy,
Ông đi vài chục bước trong phố Ribat vắng vẻ và nhìn thấy cửa hàng đồ cũ của Kôletnisuc.
Trông quang cảnh bên ngoài của cửa hàng cũng có thể biết là công việc buôn bán của Kôletnisuc không chạy lắm. Gần một năm trôi qua mà cái biển cũng không thay đổi. Một mảnh vải trắng với dòng chữ sơn xanh thô kệch. Nhưng bây giờ tấm vải đã dài ra, bẩn thỉu, chữ viết đã phai màu và chảy ra vì bị mưa. Mặt kính của cái tủ hàng duy nhất bụi bặm vì từ lâu không lau chùi; cũng như trước kia, nó nham nhở đường nứt và lỗ thông do mảnh đạn và ít nhiều đã được bịt lại bằng đinh gỗ. Trong tủ, cũng như trước kia, hàng hóa gửi bán để bề bộn, bị nắng nên đã bạc hết màu. Tấm cửa sắt trước tủ hàng bị bom nổ quăn lại không hoạt động được nữa và miếng vải trắng rách lủng lẳng, như một mảnh giẻ, ở thanh sắt trên cao.
Piôt Vaxiliêvich không vào ngay trong cửa hàng. Ông đi qua đi lại hai lần, cố nhìn vào trong nhà. Ông lặp lại trong óc tấn hài kịch sắp phải đóng với tên vô lại Kôletnisuc, và cắn môi cố giữ cho tâm trí bình thản, ông sợ không đóng nổi vai trò và sẽ rất nguy hại nếu đáng lẽ đóng vai một tên đào ngũ, một thằng bẩn thỉu, ông lại đánh giập mặt Kôletnisuc ra, quẳng đi một vài bộ quần áo gửi bán rồi quay trở về suối giữa, trong ống dẫn nước. Ông lấy tay vuốt nhẹ vào má, thầm nhủ mình bằng những lời lẽ hết sức ngọt ngào là phải bình tĩnh. Cuối cùng, ông dịu xuống, mặc áo ngoài vào và quả quyết nắm lấy quả đấm cửa bằng thủy tinh. Nhưng vừa mở cửa ra, ông chợt nhìn thấy Kôletnisuc trong cùng cửa hàng với cái cổ áo cao bằng bìa, mặc áo tuyt-xo theo kiểu ngày trước, ria mép xoắn lên như đỡ lấy hai cái má xanh nhợt. Y đứng gần bên quầy hàng, chúi đầu vào một quyến sách dày cộp. Con giận, với một sức mạnh mới, lại chiếm lấy tâm hồn Piôt Vaxiliêvich tưởng đã dịu xuống, thậm chí mắt ông còn tối sầm lại vì căm hờn.
Nhưng chậm mất rồi, không lùi được nữa.