Cũng ngày hôm đó, Secnôivanenkô triệu tập Thường vụ ban chấp hành để lập kế hoạch hoạt động sắp tới. Nhưng cuộc thảo luận mới bắt đầu thì nghe có hiệu lệnh báo động. Cuộc họp phải ngừng ngay lại.
Khi Secnôivanenkô và các đồng chí đi tới chỗ những đống đá, họ thấy một phần đá đã bị dỡ đi và người thường trực, Liônya Ximban thì ở mãi phía trước, trong cái hang gần lối vào nhất. Khẩu liên thanh trước kia đặt trên chướng ngại vật chĩa ra ngoài, bây giờ lại thấy ở ngay lỗ hổng lối vào. Ximban nằm cạnh súng, người ở trong lỗ hổng, còn hai chân thì lại ở trong hang.
— Này, cái gì thế? — Secnôivanenkô nói, chống vào đôi nạng ngắn.
Ximban ngoảnh lại. Gương mặt anh đầy bụi nom nghiêm nghị khác thường, có thể nói là âm thầm nữa.
— Tất cả chứng tỏ là chúng sắp tấn công chúng ta. Đã thấy xuất hiện bọn S.S.
Ximban đứng lánh sang bên cạnh. Secnôivanenkô lách người giữa bức tường và khẩu liên thanh, cẩn thận nhìn ra ngoài. Ở trên mặt đất là ban ngày, điều đó làm cho Gayrick Sêmiônôvichrất ngạc nhiên. Theo ông tính toán, lẽ ra đêm mới phải. Vậy ra đã hai ngày hai đêm liền họ không ngủ. Qua lỗ hổng, Secnôivanenkô chỉ nhìn thấy được một khoảng không rất hạn chế: bờ khe tuyết phủ, vài cây ngưu bàng khô nhô ra khỏi đống tuyết và sau bờ khe, phần sau của một chiếc xe tải ngụy trang, xung quanh dó, có bọn Đức bận áo ca-pốt xám xanh và đội mũ sắt sâu, đi lại. Căn cứ vào cường độ giọng nói của bọn lính, cách đi lại của chúng, và tiếng động cơ, có thể đoán là ở đâu đó xa hơn, còn có nhiều chiếc xe tải khác đậu ngoài tầm mắt.
— Thế nào, cho chúng nó khiêu vũ chứ?—Liônya hỏi, áp người vào khẩu liên thanh.
— Tí đã! — Secnôivanenkô vừa nói vừa quan sát các bóng đen bọn Đức đang tiếp tục làm gì đấy và nhốn nháo chung quanh mấy chiếc xe tải.
Ông nhận thấy cách đó có một đoạn chiến hào nhỏ đắp bờ tuyết hẳn hoi.
— Chúng đào chiến hào gì lạ thế kia? — ông hỏi.
— Nom như một đài quan sát thì phải — Ximban đáp, không rời khỏi cái thước ngắm của khẩu liên thanh.
— Phải, trông giống đấy.
Đúng lúc đó, trên bờ chiến hào, một chiếc mũ sắt sĩ quan Đức nhô lên và đôi mắt kính ống nhòm lấp lánh chĩa thẳng vào lối cửa “Con Dím”. Rồi bàn tay cầm cài mũ sắt giơ lên vung vẩy trên không như muốn lưu ý những người ở trong khe hở nhìn ra.
— Chúng đã nhìn thấy ta — Secnôivanenkô nói rất khẽ.
— Chúng đã nhìn thấy ta lâu rồi — Ximban nói, cũng khẽ như vậy, — Chúng đã bắn pháo hiệu, vì thế tôi mới báo động. Chúng muốn ta chú ý đến chúng. Có lẽ chúng muốn thương lượng thì phải?
— Thương lượng — Secnôivanenkô nói với một nụ cười chua chát — Với chúng nó, ta chỉ có một cách thương lượng. Thôi, bắn đi. Liônya, bắn tiếp chúng một loạt đi!
Nhưng ngay lúc Liônya sắp bắn tiếp chúng thì từ đoạn chiến hào tuyết vọt lên một quả hỏa pháo dài màu xanh, rơi gần trúng vào lỗ hồng, làm cho Secnôivanenkô và cả Ximban phải lùi ngay lại. Quả hỏa pháo cắm xuống cạnh lối vào và cháy mãi, làm lan cả tuyết chung quanh. Chung quanh chiếc xe tải, một cảnh nhốn nháo với những tiếng kêu la và giữa vòng vây những khẩu tiểu liên Đức, xuất hiện một đoàn người khủng khiếp, ủ rũ, gần như trần truồng. Một số không có giày, lê đôi chân giả cóng bầm tím trong tuyết nom rất khó nhọc. Một số mình trần, bẩn thỉu, quấn độc áo mền rách, hoặc mặc những manh áo ca-pốt xô-viết tả tơi. Trên các khuôn mặt xanh xao, hốc bác, là những hố mắt tối om và sâu hoắm, không còn trông thấy mắt đâu nữa. Không phải con người nữa mà là những bóng ma đã trải qua mọi đau khổ, mọi cực hình của quân thù. Dáng dấp của những người khốn khổ ấy, những người sắp chết ấy, đau đớn đến cực độ, trông quá ư khủng khiếp đến đỗi Secnôivanenkô không thể cầm lòng được phải nhắm mắt một lúc rồi lùi lại. Ông lần tìm bàn tay Ximban và siết thật chặt.
— Tù binh... — ông nói, giọng khản đặc. — Anh có thấy không?
— Tôi biết — Liônva thì thầm, cố hết sức để khỏi hét lên, khỏi khóc òa và khỏi đập đầu vào tường.
Cũng trong lúc đó, bọn Hitle chạy tới đứng về một phía và, không cần nâng cao những khẩu tiểu liên lúc nào cũng khư khư bên hông, chúng nổ súng bắn vào đám tù binh. Chúng tưới đạn tứ phía vào họ nom như vòi chữa cháy. Tiếng la hét át cả tiếng chấn động của hàng chục khẩu tiểu liên đang nhả đạn; khối tù binh nhào vào bụi tuyết, nối tiếp nhau ngã xuống và quằn quại trong những vũng máu chỉ một lúc đã phủ kín mặt tuyết và bốc hơi đến ngạt thở trên mặt đất băng giá. Sự việc kéo dài không quá hai phút, rồi tất cả bỗng im bặt.
Khi Secnôivanenkô tỉnh lại thì đã không còn gì trước cửa “Con Dím”, không còn bọn Đức, cũng không còn chiếc xe tải nữa, nhưng cái bờ khe bị giẫm nát và đẫm máu trước mặt lỗ hống thì đầy những xác chết. Khắp chung quanh, cả không gian là một cảnh im lặng hãi hùng, nặng nề, đến đỗi nghe được cả tiếng lao xao của những bông tuyết rơi thong thả từ trên bầu trời trắng xóa xuống mặt đất trắng xóa.
Secnôivanenkô im lặng ngồi lại một lúc, tựa cái lưng còng vào thành lỗ hổng, bàn tay thọc sâu trong ống tay áo. Bỗng ông đứng phắt dậy, người cứng đờ, bật mũ lên rồi đi vào trong động.
Anh chị em đã tụ tập cả ở trong động, trừ Tulyakôp hôm đó bận chỉ huy doanh trại, và Pêchya với Valentin phải trông nom Xiniskin.
Anh chị em đứng bên cạnh lỗ hổng, trong tư thế chiến đấu, súng trường cầm tay. Họ không trông thấy sự việc đã xảy ra, chỉ nghe được lõm bõm những câu trao đổi giữa Secnôivanenkô và Ximban và tiếng súng tiểu liên bắn lộn xộn. Họ đứng im phăng phắc, mặt tím lại; con mắt đen ngòm dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão, có vẻ càng đen thêm. Secnôivanenkô đi vào cuối động, tìm một hòn đá, ngồi lên, lột mũ ra, cúi đầu xuống, rồi vung vẩy bàn tay về phía lỗ hổng.
— Ra mà xem — ông nói, rất mệt mỏi.
Cho đến lúc, kẻ trước người sau, chen lấn nhau giữa bức tường và khẩu liên thanh, họ xem xong, và im lặng trở về, Secnôivanenkô vẫn tay ôm đầu ngồi yên trên hòn đá.
Khi mọi người, anh chàng hộ pháp Xtrenbixki, khẩu Môde đựng trong bao gỗ lủng lẳng sau lưng, và sau anh, bà Matriôna Têrenchiepna đôi má đầy nốt tàn hương màu đỏ nhạt, con mắt sưng húp và đỏ ngầu, khi Xviatôxlap, sau bà, xanh xao như thần chết, mặt cau lại với một nếp nhăn nằm ngang trên vầng trán trẻ, khi sau anh, Liđya Ivanôpna nắm chặt lấy bàn tay Xviriđôp và cuối cùng, Raitxa Lvôpna, mắt khô khốc, long lanh vì sốt, buồn thảm, với mái tóc xám lượn sóng lòi ra ngoài chiếc khăn trên trán, khi mọi người, sau lúc coi như đã vĩnh biệt các đồng chí bị tàn sát, trở về trong hang, đồng chí bí thư thứ nhất mới lấy lòng bàn tay lau mắt và hai má, nặng nề đứng dậy khỏi hòn đá, rồi nói:
— Các đồng chí, tôi tưởng không phải bàn cãi nhiều về sự kiện đó nữa. Ý nghĩa của nó đối với ta đã rõ lắm rồi. Chúng định làm cho ta hoang mang, mất tinh thần... — Ông ngừng bặt, lấy lại hơi. — Được... — ông thấy khó nói nên lời. — Chúng cứ việc — ông nói, gần như thầm thì, rồi lại lau mắt và má —... làm cho ta mất tinh thần.
Ông tiến lên hai bước rồi lại lùi hai bước, đứng yên, mặt đỏ bầm rồi bỗng lấy hết sức hét lên, giọng the thé — Chúng cử thử đi.
Ông từ từ bỏ mũ ra, rồi bằng một giọng nói khác hẳn, nặng nề, đều đều, cân nhắc từng lời, ông nói:
— Đời đời ghi nhớ các đồng chí bị sát hại bởi bàn tay bọn giết người đê hèn, bọn ác quỷ của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát-xít đáng nguyền rủa! — Gương mặt ông biến đổi đau đớn — Tiêu diệt bọn chiếm đóng Đức! — ông hét lên, giọng run run, và nói thêm, giọng trầm trầm, giản dị, dịu dàng — Bây giờ, trong trại, con em chúng ta, các em thiếu niên tiền phong Pêchya và Valentin đang ngủ. Không cần kể cho chúng nghe. Các đồng chí cũng biết tâm hồn trẻ em như thế nào rồi. Tâm hồn chúng dễ bị tổn thương lắm. Như thế này, chúng cũng đã đủ buồn rồi. Và tất cả chúng ta, chúng ta còn rất nhiều việc trước mắt... rất nhiều.
Ông trầm ngâm nhìn ra trước mặt rồi, rất nhanh, đội mũ vào, sửa lại thắt lưng.
— Platôn Ivanovich, gọi người của Tulyakôp lại; cho gấp đôi người canh gác lên... Bản thân anh, ở lại đây để tổ chức phòng ngự... Các người khác trở về doanh trại.
Nhưng họ vừa đi tới doanh trại thì hiệu lệnh báo động đã vang lên. Họ vội vã quay lại lối “Con Dím”. Bây giờ, trên bờ khe, giữa những xác tù binh bị bắn chết, thấy có cái bếp di động của quân Đức. Dân làng bao quanh bọn lính Rumani và Đức đứng gác. Rõ ràng là chúng đã tập trung tất cả dân làng Uxatôvô lại. Họ khiếp sợ, run rầy đứng cầm muôi, thìa, đĩa, bát, sanh, chảo, ga-men. Từ đoạn chiến hào con, lại vọt lên vài quả pháo hiệu, sau đó chúng bắt đầu phân phát thức ăn cho dân.
Tên nhà bếp béo ị, đội mũ vải trắng, mõm đỏ, ria mép quặp đen lánh, múc xúp, xúc những mẩu thịt nóng bỏng và phân phát những ổ bánh lúa mạch mới. Thỉnh thoảng hắn lại vung cái muôi trên đầu và hét lên.
— Du kích! Hàng đi! Có muốn ăn không? Ra hàng thì sẽ có ăn!
Secnôivanenkô nhìn thấy giữa đám đông, tên lính Rumani quen biết, tên lính khôi hài với cái mũ đan leo núi đội dưới mũ kê-pi và cái miệng móm rộng hoác. Thỉnh thoảng hắn lại tiến lên, và phô trương cái vốn tiếng Nga của hắn, đưa tay lên miệng làm loa rồi, để giúp tên nhà bếp, cũng hét lên:
— Du kích! Lại đây! Đừng sợ! chúng tao không “pip” đâu. Chúng tao sẽ cho ăn. Bánh này, thịt này, xúp này! Tốt! Mày đói, tao biết. Mày không có gì ăn. Đầy đủ các thứ! Ra đi, đừng sợ. Người Rumani tốt, ra đi!
Secnôivanenkô gạt Tulyakôp ra, nằm dài xuống sau khẩu liên thanh, để lên cao hơn tầm đám đông một tí, rồi bóp cò. Khẩu liên thanh rung lên, dồn dập trong cánh tay dang thẳng của ông. Mọi người dô xô về một bên, bỏ rơi cả bát. Đám đông đổ xô về đằng sau. Cái bếp lưu động lật nhào. Tiếng kêu la khủng khiếp ran lên. Trong vài phút, trước cửa “Con Dím“, không còn ai nữa ngoài những xác tù binh bị bắn. Nhưng ngay tức khắc ở đằng xa, có tiếng kèn vang lên. Những mệnh lệnh bằng tiếng Đức hét lên và từng loạt pháo nổ ầm ầm. Đạn đại bác quả trước quả sau bay vèo vèo trên miệng khe và nổ khắp chung quanh cửa “Con Dím”, xới tung những đám bụi tuyết và đá vụn. Điên cuồng, hỗn độn, và hoàn toàn vô ích, quân Đức bắn bừa vào mọi lỗ hổng, mọi hốc núi mà chúng nghi ngờ. Một quả đại bác rơi trúng cửa “Con Dím“, phá hỏng một mảnh tường. Trận pháo kích ngu xuẩn ấy không gây thiệt hại gì cho những người bí mật. Họ đã rút sâu xuống hầm từ lâu, chỉ nghe tiếng nổ và cảm thấy đất rung nhè nhẹ.
— Cho chúng bắn đến mai — Secnôivanenkô nói — nếu chúng giàu đến thế. Còn cửa “Con Dím“ theo y tôi, bây giờ, chúng ta phải thanh toán nó đi. Chúng ta không cần tới nó.
Đoạn ông ra lệnh lấp và chôn mìn cửa “Con Dím” lần nữa và cũng là lần cuối cùng.
Tuy đã mệt lử, và thèm ăn, thèm ngủ, mọi người cũng phải lập tức trở lại với cutíc, cặp và xà-beng.