Pêchya đi khập khà khập khiễng với đôi giầy mượn, theo sau Valentin và bà mẹ. Đến khuya rồi mà họ vẫn chưa đến được Pêrexip là nơi có ngôi nhà mùa đông của họ (gọi là nhà thành phố của họ cũng được). Hai người đã lạc đường. Kể cũng lạ. Ở vùng này, họ biết từng cái hang cái hốc, từng cái gò cái đống. Thế mà họ vẫn bị lạc. Hai người nhìn quanh mà không nhận ra vùng bị chiến tranh tàn phá này là đâu nữa. Chỗ nào họ cũng vấp phải những chiến hào bỏ không, những đường giao thông chữ chi, những dây thép gai, những công sự pháo và súng cối bỏ lại. Cỏ thối mùa thu sặc mùi ét-xăng và dầu nhờn bị đốt cháy. Hàng đống vỏ đạn đại bác và vỏ đạn súng trường lăn lóc trên mặt đất. Họ gặp cả những viên đạn đại bác không nổ. Dưới ánh sáng lờ mờ của những đám cháy xa xa, những khối im lìm, có vẻ dọa nạt, đóng đai đồng, đầu bằng, đôi khi có những lỗ nhỏ ở chỗ mũi đồng và những đường rạch tròn đồng tâm ở đáy, gây cho ta một cảm giác thật rùng rợn.
Pêchya cẩn thận đi tránh những viên đạn không nổ, trong bụng sợ run lên, thậm chí chú còn thấy nôn nao thực sự khi nghĩ đến cái sức mạnh quái gở giết người ẩn náu bên trong. Nếu sức mạnh ấy nổ tung và bắn tóe ra tứ phía, biến tất cả thành tro bụi, trong đó có cả Pêchya, thì sẽ ra sao?
Quang cảnh quanh vùng đều không nhận ra được. Cả đến nước cũng làm thay đổi ý nghĩ về nó: một cái hồ mênh mông đã hiện ra ở chỗ trước đây chưa từng có và cũng không thể nào có một cái hồ như thế được. Rẽ chỗ nào để đi ra Pêrexip, cũng đều vấp phải nước. Họ không biết rằng người ta vừa phá con đê ngăn đầm nước mặn Hatji-Bây với những truông lọc nước cống. Thành thử nước tách họ ra khỏi thành phố, nước lan tràn suốt mấy chục cây số, gây ngập lụt một phần Pêrexip và nối với biển ở kho cảng. Những bể dầu xăng ở Pêrexip bốc cháy, khói đen và lửa đỏ rực phản ánh trong làn nước chảy sát người họ. Họ bắt đầu hiểu là họ đã bị tách không những khỏi thành phố mà còn khỏi quân đội nữa. Nói cho đúng: họ đang ở trong tuyến không người giữa ta và địch.
Với ta, họ bị cái đầm nước mặn tràn ngập ngăn cách, nhưng giữa họ với địch thì không có một chướng ngại nào. Họ đã là tù binh.
Hiểu như vậy, bà Matriôna Têrenchiepna bất giác rẽ xuống nước, hy vọng có thể lội được đến Pêrexip. Sau bà, Valentin cũng lội xuống nước và sau Valentin là Pêchya. Họ đi mấy bước trong nước đầm lạnh buốt, nhớp nháp, nhưng bất chợt nước lên đến đầu gối rồi đến thắt lưng. Bà mẹ bước hụt một cái, mất thăng bằng. Giá Valentin không đỡ kịp thì có lẽ đến chết đuối. Vì vậy, cả ba vội quay trở lại. Họ leo lên bờ, ướt cả người, rét run cầm cập. Một luồng gió lạnh buốt thổi từ biển vào. Sương mù mờ đục được những đám cháy chiếu sáng, ngấm vào tận xương tủy.
Pêchya lên cơn sốt. Chú nghiến thật chặt hai hàm răng lại để mọi người không biết chú đang run.
— Các con ơi, rồi sẽ ra sao đây, các con ơi? — Bà Matriôna Têrenchiepna vừa lẩm bẩm vừa nhìn tứ phía! — Đi thôi! Đi thôi! Ta cố đi nhanh lên. Mau lên! Mau lên!
Đã mệt rã rời, nhưng họ lại bắt đầu men theo bờ nước hòng tìm lối thoát. Nhưng chẳng có lối nào cả. Họ đã phải đi mười lăm cây số chứ không ít. Họ đi như vậy già một nửa đêm, cho đến lúc kiệt sức. Bà mẹ lẩm bẩm luôn mồm:
— Các con, các con ơi... — Những dòng nước mắt chảy trên bộ mặt hốc hác phờ phạc của bà.
Cuối cùng họ đi về phía một thành giếng đã đổ nát trên thảo nguyên với cái máng uống bằng đá, và yên lặng ngồi xuống, không biết xoay xở thế nào nữa. Valentin là người đầu tiên lấy lại được bình tĩnh. Cô vùng dậy ôm và lay vai mẹ bằng đôi cánh tay gày gò nhưng cứng cáp.
— Mẹ, con xin mẹ hãy bình tĩnh. Mẹ tỉnh lại nào! Ngồi thế đủ rồi! Ta đi dấn nữa đi.
— Đi đâu bây giờ, Valentin, chỗ nào mà chả có nước? — Bà mẹ nói giọng thiểu não — Hãy nghĩ đến Pêchya, nó gần như đứng không vững nữa đấy.
— Pêchya, có đi được nữa không?
— Được, — Pêchya nói, không hé răng về cái gót chân đau của mình.
Valentin lại bên chú bé, đặt tay lên vai chú và nhìn vào mắt chú. Chú nhìn thấy nét mặt dịu dàng và buồn rầu của cô sát cạnh mình, dưới ánh sáng yếu ớt của những đám cháy xa xa đang tàn. Chú nhìn thấy đôi mắt Valentin sát mắt chú, đôi mắt trong suốt, long lanh, ân cần, âu yếm, đến nỗi chú cảm thấy hình như mình không nhọc mệt gì cả, đôi chân vẫn còn đủ sức đưa chú đi xa hơn, xa đến mấy cũng được, miễn là bên chú vẫn còn cô gái có cái miệng mím chặt ấy với biết bao nghị lực trong đôi lông mày vòng cung.
— Pêchya có đau không? — Cô bé hỏi.
Pêchya lắc đầu chối. Nhưng cô bé hiểu ngay là không đúng.
— Đau đấy, — Valentin quả quyết, rồi suy nghĩ một lát nói thêm — Nhưng làm thế nào được. Phải cố thôi. Ta phải đi.
— Mình sẽ đi, — Pêchya nói.
Chú đứng dậy. Nhưng giữa lúc đó, bà Matriôna Têrenchiepna kêu lên:
— Im! Nghe xem!
Họ dỏng tai. Có tiếng động cơ trong thảo nguyên. Tiếng đó từ nhiều nơi trong thảo nguyên đưa tới, lúc to lên, lúc nhỏ hẳn lại, tùy theo sức mạnh của những trận gió biển thổi không đều nhau, hỗn độn, dịu đi hoặc mạnh lên. Chắc chắn là tiếng động cơ rồi. Nhưng không phải là động cơ máy bay hoặc ô-tô. Đó là những động cơ nghiến ken két nặng nề với tiếng gầm chói tai hầu như làm mặt đất đen lạnh cứng run lên bần bật.
— Xe tăng, —Valentin nói thì thào.
— Xe tăng của ai? — Pêchya hỏi khẽ hơn nữa, chú đột nhiên cảm thấy tim mình lạnh buốt.
— Của chúng nó, — Valentin nói.
Bà Matriôna và Pêchya nhìn thấy ánh đèn pha sáng chói của những chiếc xe ở nhiều nơi khác nhau trên thảo nguyên. Chúng tiến theo hàng đôi, đèn lóe sáng hoặc tắt đi tùy theo những chỗ mấp mô của mặt đất. Chúng bốc khói như mắt chó sói. Bị bầy chó sói ấy vây bọc, người đàn bà và hai đứa trẻ cứ im thin thít, nín thở, cảm thấy cái tai họa không tránh được đang đến gần. Những bóng đèn pha lập lòe bốc khói như những cái đèn cốc đang đến gần ấy khiến họ sợ quá, đến nỗi thoạt đầu họ không nhận thấy một mối nguy hiểm khác gần hơn nhiều, ngay sát nách... Bất thình lình, cả ba người cùng nhìn thấy một lúc bốn bóng đen tay cầm tiểu liên, cúi lom khom đi thẳng về phía họ.
Những mũ sắt sâu, kiểu rất đặc biệt, không như của ta, hồng lên dưới ánh lửa đám cháy gần tàn. Chắc hẳn đó là những tên lính trinh sát của địch, đi trước xe tăng. Tụi lính nối đuôi nhau, thành hàng chênh chếch. Thỉnh thoảng chúng rạp xuống. Lúc ấy Pêchya nghe rõ cả hơi thở nặng nề, tiếng khịt mũi của chúng. Rồi chúng lại đứng lên và tiếp tục thận trọng tiến lên phía trước. Thoạt đầu Pêchya tưởng chúng đi thẳng về phía bọn chú. Nhưng không. Tụi lính không nhìn thấy họ. Thằng nọ nối đuôi thằng kia, chúng thong thả đi qua cái giếng mà Pêchya, Valentin và mẹ cô đang nấp. Chúng đi gần và thong thả đến nỗi Pêchya ngửi thấy rõ ràng cái mùi của chúng, một mùi dầu cá xa lạ, có lẽ là dầu cá voi bôi ủng và mùi cao su tổng hợp của áo tơi ngụy trang.
Lần đầu tiên Pêchya nhìn thấy quân địch, bọn phát-xít, gần đến thế. Sự giáp mặt ấy gây cho chú một cảm tưởng bất ngờ choáng váng. Chú biết mình đang ở trong tay địch. Chỉ một tên lính nhìn thấy là số phận của bọn chú sẽ không do bọn chú định đoạt nữa. Bọn ngoại bang, bọn thù địch, bọn phát-xít ấy có thể muốn làm gì họ thì làm, chửi họ, đánh họ, giết họ. Chúng có thể bắt họ cởi quần áo ra, nằm xuống, đứng lên, đi, đứng lại, giơ tay lên. Thật là nhục nhã đến nỗi Pêchya sẵn sàng nằm úp mặt xuống đất, nhắm mắt lại, lấy tay bịt tai lại để khỏi phải trông thấy gì nữa, khỏi phải nghe thấy gì nữa, để cho giấc mơ khủng khiếp vô lý ấy, mà lại không phải là một giấc mơ, qua đi thật nhanh.
Nhưng tụi lính vẫn không nhìn thấy họ. Chúng biến vào bóng tối, trong đó còn nghe thấy tiếng sột soạt kệch cỡm của những đôi bốt và những áo tối ngụy trang, cùng những tiếng xì xồ của một ngôn ngữ nước ngoài, không thể hiểu được. Lúc Pêchya tỉnh lại và nỗi bàng hoàng đầu tiên khi gặp quân địch đã qua, thì nét mặt anh thủy binh hấp hối lại hiện ra trước mắt chú. Tụi lính không nhìn thấy bọn chú, thật là may. Nhưng có thể còn tụi khác và tụi khác nữa chứ. Lúc này có rất nhiều lính địch. Rốt cục, Pêchya cũng đến rơi vào tay chúng thôi. Chúng sẽ khám người chú và tìm ra lá cờ. Nghĩ đến đây, mặt chú tê dại đi. Mau lên thôi! Mau lên thôi! Khéo không muộn mất. Phải làm một cái gì. Nhưng cái gì mới được chứ? Phải lập tức giấu lá cờ đi. Nhưng giấu vào đâu? Đầu óc của chú làm việc dồn dập.
Pêchya ngồi bệt xuống đất, dựa lưng vào thành giếng đá. Đó là những tảng đá vôi, thứ đá vôi đã xây dựng nên cả thành phố Ôđetxa. Cái giếng cạn khô, sụt lở đến một nửa. Mấy hòn đá lung lay, Pêchya gắng sức nhấc một hòn nằm sát mặt đất. Một cái hốc hiện ra. Pêchya thò tay vào, moi một hòn nữa, đến sứt cả móng tay.
— Pêchya làm gì đấy? — Valentin hỏi, cô nấp cạnh mẹ ở phía bên kia giếng.
— Không — Pêchya vừa trả lời vừa vội vàng run rẩy cởi khuy áo và tuồn lá cờ dưới lần áo sơ-mi ra. Chú rút lá cờ đặt nó vào trong hốc.
— Phải đi thôi, — Valentin nói.
— Ừ, đi — Pêchya nói và nhét luôn vào hốc tấm thẻ đoàn viên của Layrôp. Vần mấy hòn đá một cách khó nhọc, chú lại đặt chúng vào chỗ cũ.
Hai hóng đen nhô lên phía trên giếng: Valentin và bà Matriôna Têrenchiepna. Hai mẹ con thận trọng cúi lom khom, bước đi trong thảo nguyên lúc này, trước buổi rạng đông, lại càng có vẻ tối hơn.
— Kia, Pêchya đâu rồi hả?
— Mình lại đây, mình lại đây!
Pêchya soát lại lần cuối cùng xem mấy hòn đá có chặn vững lá cờ và tấm thẻ đoàn viên không, rồi chú đuổi theo bóng hai người đàn bà.