Xtrenbixki và Xviriđôp phải vòng quanh thành phố về phía tây, đến tận đường sắt trong khu vực vọng gác số 2, tới khu Cối xay Gần và Cối xay Xa, dán ở đấy truyền đơn gửi công nhân hỏa xa và lời hiệu triệu nhân dân của Ban chấp hành quận. Đi, về như vậy, mất ít nhất mười sáu cây số. Họ dự đoán đường sắt đã được canh gác chặt chẽ, và cần nhất truyền đơn phải được dán vào nhà người gác chắn, vào tháp nước, vào tường các nhà kho. Đó là hoạt động đầu tiên của Ban chấp hành bí mật, chưa có kinh nghiệm, mọi người đều biết là phức tạp và nguy hiểm.
Còn Tulyakôp và Xecghêiep thì chịu trách nhiệm vòng qua các làng ở phía bắc, Khôlôtnaia Banka, Nêrubaikôiê, Nhiliakòvô và, nếu có thể, đến tận trạm máy kéo Prôtôpôpôvô dán truyền đơn gửi cho nhân dân lên các nhà dân và các hàng rào. Đi về mất hai mươi lăm cây số qua đồng cỏ vắng, nơi mà gặp trường hợp cần thiết họ có thể dễ dàng ẩn nấp.
Nhiệm vụ của họ dễ dàng hơn của Xtrenbixki và Xviriđôp. Nhưng Xtrenbixki biết rõ ngoại ô và Tulyakôp nắm chắc các làng. Hơn nữa, Tulyakôp còn hy vọng tìm được ở Khôlôtnaia Banka những người của mình còn để ở lại sau lưng địch và sẽ đưa họ về hầm mộ.
Đèn bão đi khuất, cái trước cái sau, ở chỗ ngoặt đường ngầm. Hai toán chỉ có thể trở về trước năm hoặc sáu giờ sáng. Và thế là bắt đầu một thời gian chờ đợi lặng lẽ, căng thẳng. Đêm ấy, trong trại, không ai ngủ cả. Mọi người đều lặng lẽ ngồi đợi trên giường. Tất cả đèn đóm tắt hết, để tiết kiệm chất đốt. Chỉ ở “góc đỏ” ngọn đèn công tác nhỏ cháy leo lét. Secnôivanenkô ngồi bên cạnh, mắt lim dim, tay để trên bàn đá, đang suy nghĩ. Hiện nay mặt trận ở đâu? Trên thành phố và trong quận, tình hình ra sao? Không biết gì cả và không thể làm gì, nếu không nắm được tình hình. Thiếu hẳn liên hệ với bên ngoài. Điện đài vẫn chưa đặt. Cần phải giăng ăng-ten lên mặt đất, nhưng đó là điều không thể làm trước khi nắm được tình hình ở Uxatôvô. Cho đến lúc đó, vẫn phải kiên nhẫn chờ đợi. Nhưng bản tính của Secnôivanenkô lại không muốn thế.
Lúc này đã cử người đi dán truyền đơn rồi, ông sốt ruột đợi họ trở về. Có nhiều việc tùy thuộc vào những tin tức họ sắp mang về. Về mặt này ông hy vọng nhiều ở Xtrenbixki và Xviriđôp. Họ biết được gì giữa ban đêm, trong điều kiện giới nghiêm ở lân cận đường sắt chắc chắn đã bị canh gác chặt chẽ? Kinh nghiệm công tác cách mạng bí mật cho biết là trong những điều kiện như vậy, nhất là trong lần xuất kích đầu tiên, không thể nói chuyện với nhiều người, cũng không thể lượm được ở họ một tin tức gì thiết thực, ông đặt hy vọng nhiều hơn vào Tulyakôp. Có lẽ cùng với Xecghêiep, anh ấy có thể đột nhập vào nhà dân, nói chuyện với họ, nhất là chắc anh sẽ đưa được những người du kích của anh về, và qua họ có thể rút ra được nhiều điều quí báu cho công tác sau này.
Secnôivanenkô cũng cân nhắc đến những trọng trách của ông trước Đảng và nhân dân, cũng như trước những người cùng xuống hầm mộ với ông. ông không sợ chết. Nhưng ông không được chết, ông phải sống, lãnh đạo cuộc đấu tranh, gây mọi trở ngại cho bọn địch đang chiếm đóng tổ quốc ông, tổ quốc xô-viết thân yêu và thiêng liêng của ông. Ông phải thắng. Đó là yêu cầu của Đảng. Nhưng chiến đấu và chiến thắng, đó là cả một nghệ thuật lớn. Ở đây, sẵn sàng hy sinh không có tác dụng gì lớn. Phải có kinh nghiệm, tính ngoan cường, một bộ óc không nhầm lẫn và sáng suốt, một ý chí sắt đá.
Secnôivanenkô lấy trong tủ sắt ra một quyển vở chép những đoạn tác phẩm của Lênin, đeo kính và vùi đầu vào đọc. Ông đọc từ từ, cân nhắc từng chữ, suy nghĩ từng câu.
Khi ông nhìn đồng hồ thì đã mười một giờ mười lăm. Nhưng dù thế nào cho đến sáng, cũng còn cả một thời gian vô tận.
Ông lại đọc.
Ở phía trên chỗ lá mía, da trán ông nhăn lại. Trước mặt ông, trên bàn đá, bên cạnh lọ mực, bức ảnh Lênin khi ở Gorki, lồng trong một cái khung lớn màu đỏ.