Piôt Vaxiliêvich đi trên phố Ribat cũ và cố hình dung mình bằng con mắt người khác: nói cho cùng, con người có tuổi ấy là ai, mà trông bề ngoài gần như còn trẻ, với cái quần dạ màu kem, chiếc sơ-mi Ukren không thắt cà-vạt, cây ba-toong bằng tre lớn tướng vác trên vai móc thêm chiếc áo xanh ở đầu thế? Ông không sợ người khác để ý vì một điểm gì không thật đi đôi với bộ quần áo, vì cách hút thuốc, hay dáng đi của mình sao? Bao nhiêu, lần ông đã ra đi dưới những hình thức khác nhau để làm công tác cho Đrujinin và lần nào ông cũng đều có cảm giác bực dọc. Ông liếc nhìn vào các tủ kính, thậm chí có lần đã đứng lại trước một tấm gương mờ của cửa hàng, ngắm nghía một lúc gương mặt rám nắng, và cạo nhẵn rồi, với một cái lược túi, ông sửa lại mái tóc ướt vì mới tắm và hất ra sau, mái tóc đen đã lấm tấm hoa râm. Một công chức xô-viết cũ, sau khi may mắn đã lọt qua tất cả các cuộc kiểm tra, tất cả các đợt đăng ký và hiện nay cộng tác yên ổn với bọn Đức và Rumani, một tên phản quốc, một tên bị mua chuộc, một tên tiểu tư sản, một tên ăn hại? Hay là một tên bạch vệ cũ, sau nhiều năm sõng lưu vong, cuối cùng quay về với thành phố quê hương? Một tên buôn lậu nhỏ không tổ quốc, không lý tưởng, không danh dự, mà cũng không lương tâm, một con người suốt đời chỉ biết có một điều: cuộc sống cá nhân khốn nạn và nhỏ bé. Batsây không cam tâm mang bộ mặt đó. Nhưng không phải bộ mặt đó đang điều khiển cuộc sống Piôt Vaxiliêvich trong lúc này. Lý trí phải gánh lấy tất cả trách nhiệm về sự cải trang nhục nhã này.
Batsây theo thói quen nheo mắt nhìn vào gương. Phải, ông có thể đi lọt. Không thể nói là ông đã hoàn toàn hòa vào cảnh vật, nhưng dù sao, ông cũng không quá nổi bật. Ông không làm chướng mắt và không gợi nghi ngờ.
Có một cái gì quá tỉnh nhỏ, thậm chí quê mùa trong các cửa hàng xô-viết cũ kia, nay chuyển thành những cửa hiệu nhỏ của tư nhân với những hàng hóa thối nát, bạc thếch của Đức và Rumani. Nhà cửa không bị oanh tạc nhiều lắm, nhưng một vài tòa nhà lớn lại đổ nát, cỏ dại mọc đầy, nên nhìn toàn cảnh đường phố, mới đây còn giàu có đẹp đẽ, có những khoảng trống hoác rất chướng mắt.
Rất ít người quá lại; trên mặt đường lát đá, không phải trên vỉa hè, họ đẩy những cỗ xe đóng lấy chất đầy đồ dùng trong nhà và bàn ghế. Họ đi vội vã, bước thấp bước cao, đầu cúi xuống và cổ không nhìn sang hai bên đường. Tiếng những bánh xe con bằng sắt kêu kẽo kẹt nghe thật não lòng. Chỉ nghe tiếng kẽo kẹt của ăn mày ấy cũng phát điên lên được. Đó là tiếng kêu đau khổ của nhân loại bị bóp nghẹt, tiếng kêu đày đọa của kiếp người nô lệ và đó là cả một sự trái ngược khủng khiếp với vẻ quyến rũ của buổi sáng tháng tám rực rỡ này!
Thật là một buổi sáng nên thơ, một buổi sáng tập trung tất cả sức sống của mùa hạ miền nam, báo hiệu một mùa thu mơ mộng và vàng rực đã óng ánh khắp chung quanh, suốt dọc bờ biển, trên những đám rạ mới cắt, những vườn dưa và những vườn ngô chín vàng.
Bóng những cây dạ hợp dày đặc nổi bật trên vỉa hè mòn cũ và trên mặt đường đá gồ ghề từ lâu không được sửa chữa, phủ đầy rác rưởi mùa thu, vỏ dưa vàng úa, hạt nho, lõi ngô khô. Xa xa, đằng cuối phố, Nhà hát thành phố với những ngọn đèn lồng bằng gang bao quanh, tuy đẹp, nhưng có một vẻ buồn chết chóc, được chiếu sáng một bên bởi một ánh đèn sáng gắt nên trông càng có vẻ buồn và chết chóc.
Đây đó, ở các ngã tư, người ta đã xây những boong-ke, những khối bê-tông thô lỗ còn in dấu cốp-pha, những cửa sắt với một cái sườn sắt gỉ, rất rõ trên mặt bê-tông Đức màu xám xanh. Những khẩu liên thanh trong lỗ châu mai giám sát bốn phương trời, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng biến những đường phố rợp bóng thành những không gian “chết”.
Màu đen gằn như sờ được của chết chóc hòa với bóng mát dày đặc của những cây dạ hợp, không khí hừng hực như đượm một mùi thối ruỗng thoang thoảng, lờ lợ, ngửi muốn ngất được.
Piôt Vaxiliêvich bước đi, răng cắn chặt mà không hay, mắt liếc nhìn chiếc nhẫn cưới to lấp lánh ở ngón tay rám nắng. Đó là một ngón tay hơi nhăn với một vết sẹo cũ, một ngón tay thô kệch của người có tuổi. Chiếc nhẫn cưới bằng vàng, không hợp với ông tí nào. Piôt Vaxiliêvich không bao giờ đeo nhẫn cưới. Nhưng Đrujinin, khi phái Batsây đi, đã khuyên ông đeo một chiếc nhẫn cưới. Nó gắn liền với nhân vật mới mà ông đang đóng. Nó có một vẻ lỗi thời rất khó tả. Piôt Vaxiliêvich luôn luôn cảm thấy nó ở bàn tay như một vật rất xa lạ. Ở nó, có một cái gì khó chịu, giả tạo, bực mình, như một bộ tóc giả, một bộ râu mép giả, hay một cái kính râm kẹp mũi. Nó bắt ông bất đắc dĩ phải nhớ mình là chồng, là cha và là chủ gia đình.
Và bỗng ông thấy xót xa, da diết nhớ đến gia đình, đến vợ, đến Pêchya. Giờ này họ đang ở đâu, có gì không may xảy ra không, họ có còn sống không?... Nghĩ tới gia đình, Piôt Vaxiliêvich lại hình dung thấy rõ Liên bang xô-viết đang quằn quại dưới những nanh vuốt phát-xít xâm lược. Đúng là chúng không như một năm về trước nữa. Chúng không vươn khắp nơi nữa. Chúng không bò lan tới Lêningrat và đã bị chặn đứng lại trước thành phố vô địch. Chúng đã phải co lại, không tới được Mạc-tư-khoa, và đang bị Hồng quân đánh cho những đòn chí mạng. Chúng đã phải dừng lại gần Tula. Nhưng với những lực lượng còn lại, chúng tiếp tục bò xuống phương nam về phía đông.
Batsây đi trong phố Risơliơ. Trước mặt, ông trông thấy cái mái tròn của Nhà hát thành phố và trên đầu, giữa bầu trời xanh biếc, một đám mây lớn sáng rực như một khối phấn. Xa hơn nữa, ở đàng kia, là bến cảng với vịnh biển, và phía bên kia vịnh là con sông Đôfinôpka màu hồng, với những ruộng rạ vàng ruộm và những tảng đá lát màu tím trên bờ biển xa.
Xa hơn, ngọn Krimê với những di tích màu trắng của thành Xêvaxtôpôn, và những đám ruồi xanh trên những đống rác mà cỏ dại đã mọc phủ um tùm. Và xa hơn nữa, thành phố Kecsơ bị chiến tranh hủy hoại, với những di tích của thành Nôvôrôxich, với những cái vòi đen của quân phát-xít đang bò từ từ qua các thung lũng đá vùng Kôkaxơ về phía Baku và cao hơn nữa, xuyên qua những thảo nguyên bị giày xéo của miền Kubăng, xuyên qua các vùng đất sông Đông, về phía sông Vôn-ga, Xtalingrat...
Một cảm giác cô đơn nặng nề, khó chịu bỗng xâm chiếm tâm hồn Piôt Vaxiliêvich. Ông bỗng thấy mắt tối sầm lại. Ông vẫn bước thẫn thờ như thế một lúc lâu. Tai ông ù ù, và qua tiếng vo vo, nghe không biết những tiếng gì như tiếng sắt: ở phố Trôtxkaia, người ta đang gỡ đường tàu điện vứt lên xe tải. Địch đang cướp phá thành phố.
Bỗng Batsây giật mình tập trung ý chí, vùng khỏi trạng thái tê mê. Ông giẫm mạnh chân và suốt một lúc lâu bước thật vững vàng, môi mím chặt, hai mắt nheo nheo. Nếu lúc đó có ai trông thấy vẻ mặt của Piôt Vaxiliêvich, chắc chắn họ phải tránh sang một bên nhường lối cho ông, vì gương mặt thiểu não, thông minh, khổ sở của ông lúc này đang co giật trông khủng khiếp quá.
Nhưng đường phố vắng tanh. Rõ ràng là làn sóng quân đội Đức hàng ngày từ thành phố chuyển ra mặt trận vừa mới rút xuống.
Các bảng cáo thị của bọn phát-xit, mệnh lệnh, thông báo dán ở các góc nhà, ở cột áp-phích, ở những mảnh tướng đổ, đã vàng khè vì nắng làm nổi bật thêm tình trạng vô chủ ở khắp nơi. Thành phố, mặc dù đã được coi như bị chiếm đóng lâu dài, vĩnh viễn cắt khỏi Liên bang xô-viết, vẫn có dáng dấp của một tên du đãng. Đây là một thành phố nằm sâu trong hậu địch, bị bỏ quên, cách xa các đường giao thông trực tiếp của quân đội, đi xuyên qua về phía đông với tất cả các đoàn xe, tàu hộ tống, bãi pháo và chỉ huy sở dã chiến. Hiện giờ, các sở phản gián và các cơ quan dân sự của tên vua Misen là những chủ nhân, không chắc chắn lắm, chỉ mải mê với chuyện cướp bóc. Tuy bản thân không tin tưởng, nhưng chúng cũng cứ đóng vai những kẻ chiến thắng và những tên thực dân trên mảnh đất xô-viết cướp được mà chúng huênh hoanh gọi là “Trannixtri”.
Chắc kẻ phát minh ra cái tên này đã tự coi mình là Xêda và vùng Ôđetxa, cũng na ná như nước Gônlơ ngày xưa...
— Thôi đi! — Piôt Vaxiliêvich lẩm bẩm, tức bực — Trannixtri! Đồ La-mã cải trang!
Ông hình dung thấy rõ lạ lùng tính chất huênh hoang và sự ngu xuẩn lố bịch của ý đồ ngông cuồng phát-xít này! Xâm chiếm, chinh phục rồi biến quốc gia xô-viết thành thuộc địa. Bỗng ông có một lối nhìn và suy nghĩ mới về cái thành phố ông đang nện bước trên những mặt đường lát đá.
Bày giờ thành phố đối với ông không có vẻ xa lạ nữa. Ông chỉ bị tước đoạt mất nó đi thôi. Nhưng dù có bị tước, nó vẫn rất thân thiết với ông, thân thiết một cách da diết, có lẽ còn thân thiết hơn bao giờ hết. Batsây lại cảm thấy linh hồn của thành phố quê hương. Nhưng hiện giờ, cái linh hồn đó cũng không tỏa ra công khai. Người ta cảm thấy nó ở khắp nơi, nhưng lại vô hình như đội mũ thần.
Batsây là một phần nhỏ của cái linh hồn bất tử ấy. Bản thân ông cũng đang đội mũ thần và bước ngang nhiên, không sợ sệt, giữa cái thành phố hoàn toàn của ông. Ở đây, trên đường phố này, trong phút này, chính ông, chứ không phải một người nào khác, mới là chủ nhân thực sự. Ông là lương tâm, là danh dự, là quan tòa duy nhất, là hiện thân của chính quyền xô-viết.
Batsây đã hành động theo bản năng, không hay biết, giống như Đrujinin trong những trường hợp tương tự, không sợ hãi, quả quyết, với đầy đủ ý thức về quyền chính đáng, về sức mạnh tinh thần, vê ưu thế của mình đối với địch, về lòng khinh ghét sâu sắc đối với chúng.
Phải, ở đây ông là chủ. Và ông đang bước, vững vàng trong thành phố quê hương với tư cách chủ nhân, cảm thấy dưới chân mình những phiến đá nhỏ bằng phún thạch màu xanh, quen thuộc từ nhỏ, kêu vang như gang lát trên hè phố.
Đi khỏi cái cửa hàng lớn nhiều tầng bị đổ nát, nom như một tòa Côlizê nhỏ, mà qua những lỗ hổng bầu trời hiện ra xanh xanh lạc lõng, Piôt Vaxiliêvich cuối cùng rẽ vào phố Ribat.