Tuyết không rơi nữa, khắp nơi có những vũng nước lấp lánh phủ đầy sợi băng, bầu trời từng đám đã quang đãng, nhưng gió bấc vẫn thổi từ ngọn núi Jêvakhôva về, và qua đó có thể cảm thấy rõ ràng hơi thở gay gắt của mùa đông. Thành phố có cảnh tượng ảm đạm vắng vẻ. Trước mắt cũng như sau lưng, những ô-tô ngoại quốc mang nhãn hiệu lạ chạy trên đường phố trong tiếng động cừu địch. Ở các góc phố, cảnh sát đứng gác. Nhiều người có vẻ sợ sệt, lưng đeo túi cõng, đẩy xe cút kít chở đồ đạc nhà bếp trên đường đá. Một vài nơi khác, dưới con mắt của bọn lính, nhân dân đang phá chướng ngại vật và xếp đá trên đường. Một toán tù bị áp giải đi qua. Secnôivanenkô bước chậm chạp, nặng nề, cứng nhắc như một người bộ hành mệt nhọc. Ông cảm thấy đau đớn và căm uất quá đỗi, thỉnh thoảng như ngạt thở. Tuy thế, ông vẫn không lúc nào quên mình là một người thợ đang đi kiếm việc làm và nếu cái búa tụt xuống, ông lại vội vàng kéo đầu nó thò ra ngoài. Không ai để ý đến ông. Vai người bộ hành ông đóng, với cái túi sau lưng, nom như thật. Có rất nhiều người cũng ăn mặc tả tơi, mệt mỏi đói khát như ông, kéo lê trong thành phố mang túi sau lưng.
Thậm chí Secnôivanenkô dám đi cả vào phố Ribat. Đúng là ông đã đi ngay giữa đường chứ không phải trên vỉa hè. Vỉa hè dành cho bọn sĩ quan Rumani đầu đội mũ cát-két to tướng, mặt đánh phấn, ầm ĩ ra dáng thượng võ. Qua trước ngôi nhà Vane, Secnôivanenkô nhìn thấy tấm biển cửa hàng Kôletnisuc thật. Ông muốn vào quá. Nhưng không thể được với kiểu trá hình này. Dù sao bây giờ ông cũng biết chắc là đã có cửa hàng. Đến ngã tư phố Ribat và phố Katêrin đệ nhị, Secnôivanenkô lại gần một tên cảnh sát, chìa tấm giấy chứng nhận ra, rồi hỏi bằng một giọng mệt mỏi xem sở Lao động ở chỗ nào. Nhưng tên cảnh sát không hiểu, hét lên một câu bằng tiếng Rumani, chắc nó bảo ông không được lang thang vào đường phố chính trong bộ quần áo như vậy.
Secnôivanenkô tiếp tục đi, rẽ sang phố Nêjinxkaia tới nhà thờ Tin lành. Ở đây, phố xá vắng tanh, im lìm. Chợt ông trông thấy một bọn Đức. Bất ngờ quá, làm ông rùng mình. Chúng đi giữa đường thẳng vào ông: một đại đội lính S.S. Chân dận bốt mới, đánh xi bóng loáng, bước thật đều trên mặt đường trông rất kệch cỡm. Secnôivanenkô tránh sang một bên. Chúng hát một điệu hát chối tai, khô khan, cứng nhắc, đầy những giọng cổ cao, phảng phất điệu Tyrôn, và tất cả giống như một lối phối âm nặng nề giữa tiếng tiêu và trống đồng. Secnôivanenkô thấy như toàn thể bọn S.S. đó đều cùng một gương mặt. Và gương mặt đó làm ông ngạc nhiên vì vẻ nghèo nàn và đồng nhất của nó: da đỏ, mồm toang hoác, cằm nhỏ theo một kiểu gô tích thô lỗ, mũ đội sùm sụp, dây mũ bó chặt, dưới vành mũ lấp lánh những gọng kính vàng. Bên cạnh chúng là ngôi nhà thờ ảm đạm, mái gô-tích đó với cái thập ác bằng đá nom rất thô trên nền trời âm u. Secnôivanenkô chợt tưởng như mình đang ở trong một thành phố Đức nhỏ.
Đội lính đi qua trước mặt ông, rẽ sang phố Piôt Đại đế. Tên sĩ quan ra lệnh:
— Zug!
Và, cùng một lúc, như một cái máy vừa được vặn dây cót, tất cả bọn S.S. chuyển sang bước ngỗng, hất mạnh chân ra đằng trước, cao gần đến tận cái cằm nhọn rồi dừng lại như hóa đá.
Ở đây, những xe tải bịt kín đỗ ghếch lên vỉa hè, đụng cả vào cửa sổ, còn bọn Đức thì chia nhau ra đứng cạnh các xe. Chúng ra sức kéo rầm rầm trên xe xuống những thùng bơ, thùng bánh mì bọc giấy bóng, thùng rượu, thùng cam. Chúng rút dao Phần-lan trong quân phục ra và ngồi ăn ngay tại chỗ, trên các thùng để cạnh xe, rồi lấy acmônica thổi những bài quân hành, vui vẻ nhìn người qua đường với đôi mắt ngờ nghệch. Một lúc sau, Secnôivanenkô lại gặp bọn Đức lần nữa. Nhưng lần này, không phải bọn nhà binh mà là bọn du lịch. Chúng từ đường bờ biển đi tới trong một chiếc xe ca dài màu xám và đỗ cạnh đài kỷ niệm công tước Risơliơ đang giơ tay chỉ, một cách thanh nhã theo kiểu ngày xưa, vào cầu thang Pôtemkin nổi tiếng. Chúng xuống xe và một nhân vật đeo băng vàng cung kính thuyết minh cho chúng nghe về đài kỷ niệm và cái cầu thang. Bọn Đức mỉm cười khoái trá nhìn nhau và gật gật mũ cát-két hình yên ngựa cao. Rồi chúng sắp hàng trước tượng công tước cbụp ảnh, và đi xa hơn nữa chụp tiếp trước cỗ đại bác, cũng cỗ đại bác mà cách đây không lâu Secnôivanenkô đã đứng trước nó theo dõi công việc bốc xếp trên bến cảng...
Đến ba giờ, sau khi đã đi suốt phố Raxkiđailôpxkaia buồn vắng như tất cả các phố xa trung tâm thành phố. Secnôivanenkô đi vào công viên Quận công bị phá nát, giày xéo, lỗ chỗ chiến hào và hầm hố đầy ắp lá thối. Đây đó, còn sừng sững những mái đình và tượng thạch cao, tay chân gãy nát, đã đen xạm mưa và bụi. “Cô lái đò” ngày xưa trang điểm cho hòn đảo nhỏ giữa hồ, nay chỉ còn mỗi cái bơi chèo lủng lẳng rất lạ lùng ở đầu một sợi dây thép gỉ. Đầu cô gái lăn lóc trong bụi rậm.
Trời lại xấu đi. Gió hắt những bông tuyết khô vào mặt, rít trên những sợi dây thép đứt, thổi phần phật những tấm gỗ dán mục. Thoạt nhìn không có người nào trong công viên cả. Nhưng khi Secnôivanenkô rẽ vào một lối chính, ông thấy hình như sau sân chơi của trẻ em, trong những lùm cây trụi lá, có một bóng người thấp thoáng rồi biến mất. Secnôivanenkô dừng lại, làm bộ buộc lại dây giày, đợi một lúc. Nếu đó là Xiniskin, bác ta sẽ trở lại và tiến đến gần. Nhưng không có ai đến gần cả. Secnôivanenkô ngoảnh ngay lại nhưng vẫn không thấy ai. Ông cảm thấy khó chịu, ông tự nhủ không ngoảnh lại nữa và tiếp tục đi thong thả, nặng nề, chân bước khập khiễng.
Vừa vượt qua một cái bực ván thì ông thấy Xiniskin Jêlêznư, một Xiniskin tả tơi, bẩn thỉu, đội mũ nồi rách, ướt sũng, người cúi gập, đang đi bên bục, nhặt vỏ bào bỏ vào bao tải. Không thẳng người lên, và nhìn Secnôivanenkô từ dưới lên trên với đôi mắt tinh nhanh sắc sảo, Xiniskin nói:
— Cứ đi theo phố Công tước đến tận góc phố Pisônôpxkaia. Tôi sẽ đuổi theo.
Secnôivanenkô thận trọng hất đầu ra hiệu về phía có tiếng còi.
— Người của tôi — Xiniskin nói. Đi đi, đừng đứng lại. Tay gác đường tàu thường hay lảng vảng ở đây. Tôi sẽ đuổi kịp đồng chí.
Secnôivanenkô không đứng lại, băng qua công viên vắng vẻ và rẽ vào phố Công tước. Đến góc phố Pisônôpxkaia, Xiniskin theo kịp ông và, không dừng lại, nói:
— Đi theo tôi.
Họ đi qua một cái cửa nhỏ vào một cái sân con, xung quanh có một bức tường đất quét vôi nham nhở. Xiniskin liếc mắt ra phố rồi chận cửa lại bằng một thanh gỗ lớn. Từ trong cũi, một con chó dài xù lông, lồng lộn nhảy ra, chạy ngang qua sân làm cái vòng xích cổ kêu loảng xoảng.
— Suỵt! Rukô! — Xiniskin quát và nắm lấy cái xích gần vòng cổ. — Vào trong nhà đi.
Đó là một nếp nhà nhỏ, gần giống nhà nông thôn, cửa thông hơi chăng vải xanh, nhưng lại có số nhà kiểu thành phố ở trên tường. Secnôivanenkô ấn vào then cửa rồi đi vào trong nhà.
— Đừng sợ gì hết. Chúng tôi ở nhà người tốt. Hiện giờ, họ đi vắng — Xiniskin nói, theo gót Secnôivanenkô vào trong một căn phòng rất ngăn nắp với những cây vả, cây trúc đào, những cái giá tre, một tấm thảm vải, một cái tủ chè ọp ẹp và nhiều ảnh lồng trong những khung nhỏ góc lồi màu đen. Trên một bức ảnh, Secnôivanenkô thấy một đầu máy xe lửa, phía trước là một toán công nhân bận đồ xanh, tay cầm đồ nghề, qua đó có thể đoán giữa chủ nhân với đường xe lửa có liên quan với nhau.
Secnôivanenkô và Xiniskin ngồi trước cái bàn phủ khăn len trên có một vỏ sò lớn để đựng tàn thuốc.
— Tôi đoán chắc đồng chí sẽ đích thân tới chỗ hẹn nên phải bố trí canh gác cẩn thận — Xiniskin vừa nói vừa ho khù khụ.
— Bác đã bận tâm một cách vô ích đấy.
Xiniskin nghiêm khắc nhìn Secnôivanenkô:
— Tôi phải chịu trách nhiệm về tính mạng đồng chí bí thư thứ nhất Ban chấp hành bí mật của Đảng. Thế nào, có thích thành phố Ôđetxa, thủ phủ Tranxnitri nước Rumani không? Có thích những ông chủ mới không?
— Chúng đang say sưa với chiến thắng. Chúng đang ngủ trên cành nguyệt quế. — Và Secnôivanenkô vừa cười vừa kể lại chuyện mình đi vào thành phố.
Nhưng Xiniskin dĩ nhiên có ý kiến khác hẳn.
— Đồng chí đừng chủ quan — bác nói nghiêm trang. — Chúng có nhiều lý do để huênh hoang, đắc chí, nhưng... Bác giơ ngón tay trỏ xám xịt và đầy chai lên. — Nhưng đó chỉ mới là một mặt của tình hình, tôi nói thậm chí chỉ mới là bề ngoài thôi. Nhưng còn một mặt khác. Đồng chí có nghe nói về vụ nổ ở sở chỉ huy ngày hăm hai tháng mười không?
— Tôi có nghe — Secnôivanenkô nói. — À này, ai làm việc đó thế?
— Theo tôi, chắc là Đrujinin.
— Đrujinin nào thế?
— Theo chỗ người ta biết, đó là một người trong nhóm của chúng ta, những người chắc chắn. Hiện giờ tôi không biết gì hơn. Nhưng dù sao, nhân dân đều quy cho Đrujinin đã tổ chức vụ nổ ngày hăm hai tháng mười. Vả lại, trong lúc này mọi việc người ta đều quy cho anh ấy. Mấy hôm nay, một đội du kích lạ đã đốt trạm máy kéo Prôlôpôpôvô mất một nghìn pút lúa mì và giết mười tên chiếm đóng. Người ta cũng quy cho Đrujinin!
— Về việc xảy ra ở sở chỉ huy thì tôi không nói, nhưng còn trạm Prôtôpôpôvô, theo một số tin tức thì đó là do một người khác làm.
— Tôi cũng nghĩ đúng như thế — Xiniskin nói, liếc nhanh Secnôivanenkô ra vẻ vô tình. — Thế là sau vụ nổ, sáng ngày hăm ba tháng mười, tôi có đi ngang qua thành phố và thật là một cảnh tượng khủng khiếp. Hàng trăm người bị treo cổ trên cây, trên cột điện. Chỉ trong một ngày khốn nạn ấy, chúng đã bắn và treo cổ khoảng năm nghìn người... — Xiniskin nói, giọng nói bình thản và đều đều nhưng người nghe cảm thấy trong đó chứa đựng một mối căm hờn và một niềm đau đớn ghê gớm làm cho Secnôivanenkô cố gắng lắm mới nén được xúc động. — Ít lúc sau, chúng đã tiến hành bắt bớ hàng loạt khắp tất cả các khu phố — Xiniskin nói tiếp — và tôi không chắc có thể lập lại dây liên lạc dễ dàng với các đồng chí đại diện Ban chấp hành quận bí mật không. Hiện nay, những người của tôi đang tìm cách phát hiện đúng ai đã bị bắt. — Xiniskin im lặng rồi với một giọng nói cứng cỏi của một người không sợ nhìn thẳng vào sự thật và không có thói quen sống bằng ảo tưởng. — Dù sao, đây cũng là cảm tưởng của tôi, lúc này, chúng ta như vậy là không có lãnh đạo.
Mặt Secnôivanenkô hơi nhăn lại. Trên sống mũi, vết kính hằn màu đỏ rõ thêm. Ông đưa lòng bàn tay xoa trán, im lặng một lúc lâu.
— Đó là một tổn thất nặng — Secnôivanenkô nói, không cất cao giọng, mi mắt nhăn lại như bị chói — một tổn thất rất nặng! Nhưng biết làm thế nào, không thể tránh được! Chúng ta sẽ nối lại liên lạc với Trung ương. Còn công việc riêng của bác thế nào, bác Nikôlai Vaxiliêvich?
— Chúng săn tôi — Xiniskin nói ngắn gọn. — Đêm nào tôi cũng phải đổi chỗ ở. Bất tiện vô cùng. Nhưng tuy thế, tôi cũng hoàn thành được nhiệm vụ. Đến nay, tôi đã tìm được bảy người, những người tôi biết là tốt, những đồng chí hoàn toàn chắc chắn, đảng viên và ngoài đảng. Tôi liên lạc trực tiếp, riêng với từng người, và giao nhiệm vu cho họ với tư cách Ban chấp hành bí mật khu.
— Nhiệm vụ gì?
— Mỗi người phải tim ra hai hoặc ba đồng chí tin cẩn như bản thân họ, liên lạc trực tiếp với họ và đứng đầu “nhóm ba người”. Không thiếu người muốn công tác. Tôi tin rằng trong một hoặc hai tháng, chúng ta sẽ tổ chức được một màng lưới vững chắc gồm những “nhóm ba người” và cả những “nhóm năm người”. Nhưng hiện nay, mọi người hoạt động không theo một kế hoạch nào cả, còn theo sáng kiến cá nhân mình.
— Nhưng họ có hoạt động chứ? — Secnôivanenkô vội hỏi với. — Và tóm lại, họ làm gì?
— Cái đó thì tùy tình hình... Bỏ cát vào trục xe. Phá ghi đường xe lửa. Làm chậm trễ công việc phân phối đầu tàu. Đó là về mặt hỏa xa. Rồi ám sát bọn nhà binh, nhất là bọn sĩ quan hiến binh. Đấy là về mặt thành phố và rải truyền đơn.
— Thực đấy chứ?
— Tôi chỉ báo cáo những việc đã được xác minh và kiểm tra chắc chắn.
— Khi nào, ở đâu? — Secnôivanenkô hỏi vắn tắt.
Xiniskin sầm mặt lại, tập trung tư tưởng một lúc rồi nói:
— Đêm hai mươi lăm, ở gần Sumka, đã bắn vào một toán tuần tiễu của Ban chỉ huy Đức, hai tên bị giết, những tên khác bỏ chạy. Cũng trong đêm đó, ở bốt máng, tên lính gác bị đâm chết. Ngày hai mươi bảy, ở ga hàng hóa Ôđetxa bị trệch ghi, một đầu máy đã trật bánh đổ chổng lên trời. Ngày hai mươi tám, trên đoạn đường Vigôđa Batsnaia, những hộp trục của hai toa hàng đoàn tàu chạy Radơđennaia bị cháy, do đó, đoàn tàu đã phải dừng lại dọc đường. Cũng trong khoảng thời gian này, người ta đã phát gần ba trăm bản lời kêu gọi nhân dân của Ban chấp hành quận. Trên đường Máy nước giữa, anh em mình đã treo cổ một thằng nhân viên sở Xiguranxa lên cây dạ hợp, một thằng Kublixky nào đó người gần đấy, một thằng đê tiện và ác ôn nổi tiếng. Tất cả đều là những sự việc tự tôi đã kiểm tra lại, tôi bảo đảm hoàn toàn chính xác trước Ban chấp hành khu. Và đó mới chỉ là bước đầu nhỏ bé. Đồng chí hiểu tôi chứ — Xiniskin nói, mắt nhấp nháy tinh nghịch rồi bất ngờ cười rộ lên, vẫn tiếng cười khàn khàn, trầm trầm của bác.