Một ngọn gió lạnh buốt đâu từ trên mái nhà thổi xuống quất vào mặt Kôletnisuc. Mây dồn dập đuổi nhau trên phố Ribat. Một trận gió đông bắc lồng lộn rít lên nghe như tiếng đá mài lùa vào các lỗ hổng những ngôi nhà đổ nát, vào các cửa sổ toang hoác, thổi rạp những cây ngũ sắc xuống và đung đưa những quả lúc lắc đen dài như dây giày. Và giữa cái cảnh hỗn độn màu trắng đang bao trùm thành phố đó, có những bóng người mờ mờ nối nhau lướt qua, chân bước không vững, người cúi gập, đi ngược chiều gió, kéo theo sau những chiếc xe trượt tuyết chất đầy quần áo đồ đạc và trẻ con bọc trong chăn bông. Đó là những người Do thái đi Pêretxy để tới trại tập trung theo lệnh của bộ chỉ huy quân sự. Họ ngoan ngoãn đi một mình không cần phải có người áp giải.
Tuyết phủ đầy người, lông mi và râu mép lạnh cứng, Kôletnisuc lại trở về với cái cửa hàng tối tăm. Không lau mặt, ông ngồi xuống chiếc ghế cạnh cái lò con bằng sắt đỏ hồng. Ông chống cùi tay lên đầu gối, gục đầu vào hai bàn tay, đôi mắt nhắm nghiền. Trong bóng tối là ánh lửa của cái cửa lò đỏ rực. Ông muốn khóc quá. Ông vừa gặp một người “ở đó”, một người xô-viết chân chính. Thật thích thú biết bao khi được nghe cái tiếng nói thung dung và quả quyết ấy. Ông đã đọc được những ý nghĩ táo bạo trên gương mặt sinh động, đẹp đẽ, thực sự của con người. Ông đã được nắm bàn tay đầy nghị lực mà bụi dưới hầm mộ đã thấm sâu. Người ta đã chuyển từ đó đến cho ông những lời chúc chiến đấu nồng nhiệt. Trong lời chào đó, ông nghe thấy cả tiếng nói của vợ. Và bây giờ, ông lại ngồi đây, cả đêm, trong cái nhà tù tự nguyện, giữa những chiếc ấm ngu ngốc trên đó ánh lửa buồn thảm của bếp lò đang nhảy nhót và chung quanh là phong ba bão tố, là những chiếc máy xúc tuyết như những bóng ma trắng, im lìm đi chênh chếch qua các phố điêu tàn, và biển băng bát ngát đến tận chân trời.
Như đế kéo dài sự tiếp xúc với những người bạn xa, ông đọc lại tờ biên lai: “Nhận của Ghêorghi Nikifôrôvich Kôletnisuc, bằng tiền mặt đồng mác chiếm đóng. Lêonit Kukharenkô”, cất vào cái két nhỏ rồi lại ngồi một mình. Nhưng bây giờ ông không cảm thấy quá lẻ loi nữa. Từ nay, ông đã có một mục tiêu: người ta đã trực tiếp giao cho ông một nhiệm vụ chiến đấu và ông sẽ cố gắng, thận trọng thi hành bằng được.
Một tháng chưa qua thì bất ngờ lại có một người vào cửa hàng, mặc chiếc ba-đờ-xuy rất dễ nhận, cũng như chiếc mũ lông thú có dây buộc với đôi bốt cao su mới, nhưng lần này không phải phủ đầy tuyết mà lóng lánh một lớp băng sớm như kim cương. Liếc nhanh, có vẻ nghi ngờ, vào căn hàng trống rỗng, người ấy tiến lại phía quầy hàng, nơi Kôletnisuc đang đứng buồn thỉu, chống cùi tay lên quầy hàng, rồi chia một bàn tay chưa sạch hết đất ra:
— Thế nào, ông bạn? Hình như cửa hàng lớn của anh có vắng khách đi thì phải — ông ta vừa vui vẻ nói vừa bỏ chiếc mũ ra khỏi đầu ướt đẫm mồ hôi và cởi khuy cổ ba-đờ-xuy — Ồ! Mồ hôi đổ ra như tắm! Tôi cứ tưởng ở chỗ các anh, trên này, vẫn còn mùa đông thế mà băng đã tan. Hoàn toàn là mùa xuân rồi!
Đó là Secnôivanenkô.
— Anh, anh! — Kôletnisuchớn hở, kêu to lên!— Thế mà tôi cứ tưởng là thằng điên Kukharenkô đã tới đây lần trước. Tôi nhìn mãi không nhận ra. Cũng cái áo ba-đờ-xuy, chiếc mũ ấy.
— Áo ba-đờ-xuy và mũ này là để cho những cuộc đi lên thành phố. Chung cho tất cả mọi người. Và “thằng điên Kukharenkô” đấy là Lêonit Ximban của chúng ta... Thế nào, chưa đến giờ đóng cái cửa hàng đưa ma của anh để ăn chiều sao?
— Được thôi — Kôletnisuc nói.
Ông đóng cửa lại và treo một miếng bìa có chữ “Đóng cửa” bằng tiếng Đức. Đoạn họ lui vào trong gian buồng xép sau cửa hàng.
Secnôivanenkô có vẻ khoái trá cởi bỏ cả áo ba-đờ-xuy lẫn giày cao su ra. Mặt trời nóng nực trước xuân làm mồ hôi ông ra như tắm, ướt cả lưng và hai nách áo va-rơ, thậm chí còn bốc hơi nữa. Họ ngồi trên những chiếc thùng gỗ châm thuốc hút và khẽ vỗ lên đầu gối nhau. Đó là một cách biểu lộ nhẹ nhàng lòng sung sướng được thấy nhau bình yên vô sự. Họ ngồi im lặng, vui vẻ và thế là kết thúc phần tình cảm của cuộc gặp gỡ.
— Này, anh Jôra — Secnôivanenkô nói — trước hết rất cảm ơn về số giấy than, băng, giấy viết và các bình ác-quy. Cả những con chim chìa vôi nữa! Nhưng nhất là các bình ác-quy. Anh đã giúp chúng tôi rất nhiều. Một lần nữa xin cảm ơn — Ông đứng dậy và với một vẻ mặt nghiêm trang nắm chặt tay Kôletnisuc — Sau đó, anh có một món quà thú vị — Secnôivanenkô sục tay vào trong túi ngực áo va-rơ. Lòng Kôletnisuc rạo rực — Đây, cầm lấy! — Và Secnôivanenkô đưa cho ông một mảnh giấy xấu màu xám, gấp tư.
Ngón tay Kôletnisuc run run khi mở tờ giấy, vẻn vẹn chỉ có bảy chữ đánh máy, không chấm không phẩy gì hết: “Em yêu anh em nhớ anh Raitxa”.
Nước mắt Kôletnisuc trào ra.
Secnôivanenkô dạng chân đứng trước mặt ông, tay cầm một que diêm đang cháy. Kôletnisuc hiểu ngay. Ông nhìn Secnôivanenkô bằng đôi mắt năn nỉ. Nhưng Secnôivanenkô lắc đầu không đồng ý. Lúc bấy giờ, Kôletnisuc mới áp tờ giấy còn ướt hơi ẩm dưới hầm vào bộ ria mép đen lánh lần cuối cùng, rồi đưa lại gần ngọn lửa và quay mặt đi. ông đau lòng không muốn nhìn tờ giấy cháy... Tờ giấy cháy hết. Tàn rơi xuống và một lần gió thổi tung trên sàn nhà. Tàn tan ra, biến mất... Kòletnisuc hà hơi vào mấy ngón tay hơi bị bỏng.
— Đồ điên, có gì mà xúc động dữ thế? — Secnôivanenkô khẽ vuốt vai Kôtetnisuc — Đừng buồn. Nếu ta còn sống, anh chị sẽ lại gặp nhau — và giữa giây phút thiêng liêng ấy, ông bỗng phì cười, không thế nào nín được, khoa tay — Này, nhìn chung thì tôi không thể thờ ơ với bộ ria mép của anh được. Nó làm tôi mất cả tập trung.
— Sao, đê tiện lắm, phải không? — Kôletnisuc hỏi lại, không vừa ý.
— Đâu phải! Nó chỉ hơi oách quá thôi! Nhưng, nó làm tôi hơi hoảng một tí. Thật dễ sợ!
— Thôi đi, ông bạn — Kôletnisuc nói rất thản nhiên — anh đừng chê bộ râu mép của tôi vội, mà nên xem lại cái áo ba-đờ-xuy của anh thì hơn.
— Tại sao vậy? — Secnôivanenkô có vẻ lo lắng. — Cái ba-đờ-xuy của tôi không ổn à? Nom cũng ra vẻ đấy chứ. Một nhân vật đàng hoàng, một người xô-viết cũ, chạy theo bọn chiếm đóng mà người ta sẽ treo cổ ngay tại chỗ vì tội phản bội Tổ quốc. Có phải thế không nào?
— Rất có thể. Nhưng nó nhàu quá. Ở chỗ các anh không bao giờ là sao?
Secnôivanenkô dang hai cánh tay ra.
— Có mang bàn là theo đâu. Cho nên mới như thế! Này, trong hiệu buôn lớn của anh, có cái bàn là nào ra hồn không?
— Gì chứ bàn là và mũ không vành thì chả thiếu — Kôletnisuc nói không phải không có vẻ buồn rầu.
— Thế thì tôi sẽ lấy đi một cái nhỏ, bằng sắt. Nhớ nhắc tôi nhé.
— Được rồi. Anh có thể lấy tất cũng được. Nhưng tốt hơn hết, tôi sẽ kiếm cho anh một cái áo ba-đờ-xuy với một cái mũ hợp thời hơn; anh cứ bỏ lại đây các thứ của anh để tôi bán. Biết đâu, chẳng có một anh chàng lập dị điên rồ nào đó tới mua.
— Được. Anh chọn cho tôi một bộ, khi nào tôi đi.
— Bây giờ thế này — Secnôivanenkô nói, và theo thói quen, đi đi lại lại trong phòng, đầu cúi xuống — Mấy ngày hôm nay chúng tôi được nghe đài truyền đi bản tuyên bố của đồng chí ủy viên nhân dân phụ trách Quốc phòng, số năm mươi nhăm, ngày hai mươi ba tháng hai — Secnôivanenkô đứng dừng lại, nghiêm khắc nhìn Kôletnisuc — Anh đã nghe nói tới bản ấy chưa?
— Nói thực thì chưa — Kônetnisuc nói, ngượng đó cả mặt — Tôi biết thế nào được?... Anh thử nghĩ xem.
— Tất cả mọi người xô-viết bất cứ ở đâu, đều có trách nhiệm phải biết.
Secnôivanenkô cầm mũ lên. lục tìm trong lần lót và trao cho Ivôletnisuc mấy tờ giấy thuốc lá cuộn tròn lại. Kôletnisuc vuốt thẳng những tờ giấy còn ẩm mồ hôi lên trên đầu gối rồi đọc những dòng đầu của bản tuyên bố đánh máy rất sít.
“Các đồng chí chiến sĩ và thủy binh, sĩ quan và cán bộ chính trị thuộc lục quân, hải quân, và nam nữ du kích!
Các dân tộc nước ta vừa cử hành lễ kỷ niệm Hồng quân lần thứ hai mươi bốn trong những ngày đen tối của cuộc Chiến tranh Ái quốc chống lại nước Đức phát-xít vô liêm sỉ và hèn nhát đã xâm phạm đến sinh mạng và tự do của Tổ quốc ta...“
Kôletnisuc xúc động mãnh liệt. Trong giây phút, ông cảm thấy sâu sắc những lời gửi tới nam nữ du kích kia cũng là nói với ông, Kôletnisuc.
Secnôivanenkô bước lại gần thêm một tí, cẩn thận cầm lấy những tờ giấy trên tay ông và nói:
— Bài tuyên bố này định rõ mục đích và tính chất cuộc chiến tranh mà nhân dân xô-viết đang tiến hành, cái sức mạnh tinh thần lớn lao đang làm cho chính quyền xô-viết vững chắc, không gì thắng nổi — Secnôivanenkô đeo kính vào và, bằng cặp mắt viễn thị, nhìn vào những tờ giấy con, đọc: “Sức mạnh của Hồng quân trước hết dựa vào chỗ nó không tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược, một cuộc chiến tranh đế quốc, mà là một cuộc chiến tranh dân tộc, chính nghĩa, giải phóng“. Anh hiểu chứ, Ghêorghi: chính nghĩa! — Và Secnôivanenkô chỉ ngón tay lên không — “Nhiệm vụ của Hồng quân là giải phóng đất nước khỏi bọn xâm lược Đức, giải phóng đồng bào nông thôn và thành thị chúng ta, những người vốn sống tự do, nhân đạo và hiện đang bị áp bức, đau khổ, nghèo đói vì bị cướp bóc, tàn phá; giải phóng vợ con chúng ta khỏi vòng tủi hổ và nhục nhã do bọn quỷ phát-xít Nhật-nhĩ-mãn gây nên. Có gì cao quý và làm nức lòng người hơn một nhiệm vụ như vậy? Không một tên lính Đức nào có thể nói là nó tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa và nó không thể không thấy người ta đã bắt nó chiến đấu cho sự cướp bóc và nô dịch các dân tộc khác“...
Với bàn tay chắc, khỏe, Secnôivanenkô nắm chặt lấy vai Kôletnisuc và lắc mạnh — Anh hiểu chứ, Kôletnisuc?