Đêm đó, Secnôivanenkô đi ra cửa “Con Dím” nhiều lần. Trước cửa, ở bên ngoài, giữa những đám dại khô, có hai chiến sĩ thuộc toán Tulyakôp đang ôm súng nằm quan sát chung quanh.
— Thế nào, vẫn khỏe chứ, các chú?
— Dạ không đến nỗi, đồng chí bí thư ạ.
— Hẳn có gì nên mãi các đồng chí chúng ta vẫn chưa về.
— Chắc họ chưa làm xong công tác đó thôi.
— Lẽ ra, họ về rồi mới phải.
— Còn sớm lắm, đồng chí bí thư ạ. Từ đấy, họ không thể về đến đây trước sáu giờ sáng.
— Thôi được, nói chung có tình hình gì không?
— Không có gì thật đặc biệt, đồng chí bí thư ạ. Cách đây bốn phút, có một chiếc máy bay bay qua. Thế là chúng đã bắn một trận không thể tưởng tượng được, làm tất cả chung quanh đều ngập mảnh đạn. Chúc sức khỏe đồng chí đấy. Chắc chắn đó là máy bay của ta. Chúng có một cụm cao xạ đặt ở đàng kia, sau Uxatôvô. Trời, chúng khiếp sợ bộ đội nhảy dù của ta lắm! Nghe có tiếng động nhỏ là chúng bắn như đổ đạn để chẳng làm quái gì hết.
— Còn gì nữa?
— Báo cáo đồng chí bí thư, không còn gì hơn. Cách đây một tiếng rưỡi, văng vẳng có tiếng kèn trận của chúng. Không biết là ở Uxatôvô hay ở Kholôtnaia Banka vì gió quá. Trên đường Hatji-Bây, suốt đêm xe tải chạy rầm rập, xe tăng rú liên hồi. Về phía Nhiliakôvô, thỉnh thoảng nghe có tiếng xe lửa chạy.
— Các chú không thấy ai trên thảo nguyên à?
— Dạ tối lắm. Không nhìn thấy gì cả.
Secnôivanenkô nhìn một lúc vào bóng tối dày đặc của đêm mùa thu ẩm ướt và lạnh lẽo, rồi quay trở về theo những hành lang vô tận của hầm mộ, đi qua ngọn đèn này rồi ngọn đèn khác đến tận “góc đỏ”. Một lần nữa, ông ngồi xuống suy nghĩ, thỉnh thoảng lại xem đồng hồ. Rạng đông, ông xách đèn bão đi quanh ngôi nhà hầm của mình, xem xét các hang động. Không ai ngủ cả. Xviatôxlap và Ximban đang chữa điện đài dưới ánh sáng tù mù của một ngọn đèn nhỏ.
— Các đồng chí không ngủ à?
— Chúng tôi đang cố tìm hiểu tại sao điện đài không chạy.
— Thế nào, không chạy sao? — Secnôivanenkô kêu lên và lo lắng nhìn Ximban — Tại sao?
— Có thể là ắc-quy hết điện hay cháy bóng.
— Ắc-quy vẫn tốt — Xviatôxlap nói.
— Thế thì tại đèn.
— Đèn dự trữ đâu — Secnôivanenkô hỏi.
— Chúng tôi vừa lắp xong.
— Nội sáng nay, tất cả phải chữa xong. Đồng chí bí thư nói rất nghiêm khắc. — Tôi cần liên lạc.
Ông bỏ đi ra, nhưng lại quay lại.
— Tôi cần liên lạc — ông nhắc lại và nhìn, vẻ lo lắng, qua vai Xviatôxlap, vào chiếc máy thu thanh đang mở. — Có liên lạc mới nắm được tình hình. Liên lạc, chỉ có thế thôi. Nếu không nắm được tình hình, tôi sẽ như người cụt tay — Các đồng chí hãy nhớ lấy...
— Xin tuân lệnh đồng chí bí thư. — Ximban nói to. Nhưng nhìn thấy vẻ nghiêm nghị của Secnôivanenkô, anh cắn môi im bặt.
Rồi Secnôivanenkô đi sang chỗ chị em phụ nữ. Họ đang ngồi nói chuyện rì rầm trong bóng tối.
Ông chiếu đèn vào chỗ họ.
— Tại sao các chị không ngủ?
— Chúng cháu ngủ cả rồi — Pêchya nói; một mình giữa “khu nam giới”, chú sợ, nên các cô đã tạm thời đưa chú về chỗ họ.
Secnôivanenkô xoa tay lên đầu tóc rối bù đầy bụi từ lâu không cắt của chú, ôm lấy chú và xoay mặt chú vào tường, rồi phủ chiếc áo ca-pốt lên.
— Matriôna — ông nói — cần chú ý cho các em đi ngủ đúng giờ quy định. — ông bước tới gần Liđya Ivanôpna và bình thản nhìn chị qua đôi kính trắng. — Còn đồng chí Anghêliđi nữa, tại sao đồng chí không ngủ. Cứ nghỉ ngơi khi tình thế còn cho phép chứ. Chúc các đồng chí ngủ ngon.
Ông định nói: “Chúc các anh các chị ngủ ngon! Chúc các bạn ngủ ngon.” Nhưng ông không nói gì nữa. Họ đã lên nằm trên giường đá, lấy măng-tô và chăn đắp lên người, chân còn mang cả giày co lại, làm bộ như đã ngủ thật cả rồi. Ông đi ra.
Đến bảy giờ sáng, một vệt ánh sáng mờ mờ xuất hiện trong đường hầm. Toán thứ nhất đã về: Xtrenbixki và Xviriđôp — cả hai người đều phấn khởi và im lặng, mệt lả, người đầy bùn đen dày cộp, áo khoác ướt sũng nước mưa và sương mù.
Xtrenbixki báo cáo tóm tắt với Secnôivanenkô. Tất nhiên họ không nắm được gì thiết thực về tình hình trên thành phố. Nhưng họ cũng lượm lặt được một số chi tiết đáng chú ý. Khi dán một tờ truyền đơn lên nhà người gác chắn, trong phạm vi bốt gác số 2, Xtrenbixki thấy có một tờ dán ở đấy rồi. Anh không dám bấm đèn, nhưng cũng nhận ra một hình búa liềm vẽ bằng mực đen trên một tờ giấy học sinh, với những chữ viết hoa: “Đả đảo bọn phát-xít xâm lược!“ Từ đó có thể suy ra là đã có những người đứng lên bắt đầu cuộc đấu tranh bí mật. Có thể tờ truyền đơn đó là của một cá nhân không có tổ chức viết ra và dán lên. Secnôivanenkô qua kinh nghiệm biết có nhiều trường hợp như thế. Nhưng điều đó không làm thay đổi ý nghĩa của sự việc. Sự việc ấy dù thế nào cũng có tầm quan trọng của nó, vì nó nói lên tinh thần của nhân dân. Hơn nữa Xtrenbixki còn cho biết ở vùng Cối xay Xa, trong phố Môitxenkô, họ đã nhìn thấy hai chiếc xe tải mui trần chằng xích sắt, lại có nhiều mô-tô gắn súng đi kèm, chắc là chở những người bị bắt: Ngoài ra không còn gì đáng chú ý nữa. Hơn nữa, lúc đó Xtrenbixki và Xviriđôp đang nằm dưới một cái hố và hai chiếc xe tải chạy qua rất nhanh, Secnôivanenkô biết trong khu công nhân, các vụ bắt bớ hàng loạt đã bắt đầu. Ông ghi nhớ điều đó, coi như một hiện tượng nhân dân đứng lên đấu tranh với địch. Không có một bóng người. Cửa sổ các nhà tối om. Đâu đâu cũng gặp những toán tuần tra. Nhiều lắm, đâu đó có cao pháo bắn lên. Secnôivanenkó không nắm được gì thêm. Phải đợi Tulyakôp về.
Một giờ sau, Tulyakôp về với Xecghêiep, và hai người báo cáo. Secnôivanenkô đã không nhầm. Những tin tức Xêrafim Ivanôvich cho biết quan trọng đến đỗi Secnôivanenkô tập hợp ngay mọi người lại cùng nghe.
Không kịp cởi chiếc áo bẩn, Tulyakôp rửa mặt qua loa, lau tay, ngồi vào bàn, im lặng tập trung tư tưởng một lúc, rồi nói:
— Hai toán chiến đấu chúng tôi — toán của tôi và toán của Xtrenbixki — như các đồng chí đã biết, cùng đi lên mặt đất ở cửa “Con Dím“, lúc 19 giờ 10 phút, giờ Mạc-tư-khoa. Tôi nói “giờ Mạc-tư-khoa” vì bọn chiếm đóng đã vặn đồng hồ nhanh lên một tiếng. — Tulyakôp mỉm cười chua chát nhưng thôi ngay, nhăn mặt lại. — Chúng bắt nhân dân xô-viết phải theo giờ giấc của chúng.
— Chúng vội mà — Ximban nhận xét.
— Phải, chúng vội. — Tulyakôp điềm đạm nói. — Nhưng không phải không nên tính tới sự khác nhau về giờ giấc đó sau này. Trận xuất kích lên mặt đất của chúng tôi, như người ta nói, đã được tiến hành rất bình thường. Toán yểm hộ đã cho chúng tôi biết tình hình khi còn cách địa điểm năm trăm mét. Tất cả đều trôi chảy. Như vậy là chúng tôi đã cùng nhau hành quân đến tận chỗ rẽ của con đường mòn gần làng Nêrubaixkôiê, và từ đấy chúng tôi chia nhau tiến về các ngả. Đây là chỗ ngã ba đó.—Tulỵakôp tiến sát lại bản đồ và lấy bút chì chỉ. — Từ đó Xtrenbixki và Xviriđôp đi thẳng về phía nam, còn Xecghêiep và tôi, chúng tôi vòng về phía Khôlôtnaia Banka và về phía bên kia, theo hành trình đã định, về phía đông bắc. Chúng tôi đi người nọ cách người kia khoảng hai mươi, hai nhăm mét để gặp trường hợp cần thiết có thế nổ súng. Tôi trình bày tất cả những chi tiết này tỉ mỉ như thế là để kinh nghiệm trận xuất kích của chúng tôi có thể sử dụng được cho sau này.
— Dù sao, có lẽ cũng nên báo cáo gọn gọn hơn một tí. — Secnôivanenkô sốt ruột nói.
— Hơn nữa chúng tôi không được bắn chi viện cho nhau — Xecghêiep nhanh nhảu nhắc — vì thảo nguyên vắng tanh và tối om, không nhìn thấy gì hết. Nói chung tất cả đều trôi chảy.
— Tất nhiên, nếu không kể cuộc gặp gỡ với một toán tuần tiễu dân vệ Rumani. — Tulyakôp nói thêm — Chúng đã nổ súng vào chúng tôi, ở chỗ cửa con mương nhỏ ngay gần bên bờ đầm nước mặn Hatji-Bây, gần gần ở đây — Anh chỉ lên bản đồ. — Nhưng không kết quả, vì chúng tôi đã nấp trước vào những chỗ mấp mô của địa hình. Sau đó chúng tôi bỏ đi xa hơn, không gặp trở ngại gì và không phải nổ súng.
— Và không biết vì lẽ gì, chúng không quyết tâm đuổi theo chúng tôi — Xecghêiep thêm — hay chắc chắn hơn chúng đã mất hút chúng tôi.
— Các đồng chí đã dán thư gửi cho nông trang viên và lời kêu gọi của Ban chấp hành quận rồi chứ?
— Đã dán đầy đủ.
— Ở đâu?
— Trên tường các kho lúa mì, trên các giếng nước, ở các cột dây thép.
— Tốt — Secnôivanenkô ghi vào sổ tay.
— Bây giờ tôi báo cáo sang phần tình hình mà trong quá trình hành động chúng tôi đã nắm được.
Tulyakôp lại gần cái xô và uống nước.
— Nào tình hình, báo cáo đi, tình hình! — Secnôivanenkô sốt ruột thốt lên, tay lật những trang giấy đặt trên bàn. — Chúng tôi đã đun nước chè cho các đồng chí.
Tulyakôp lấy tay lau ria mép, trở về chỗ và tiếp tục:
— Gần Khôlôtnaia Banka, trên thảo nguyên, tại một địa điểm định trước, chúng tôi đã gặp một bộ phận những chiến sĩ tôi cài lại ở hậu địch. Họ đã sát nhập vào phân đội của tôi và hiện giờ đã có mặt trong hầm mộ. Nhưng tôi không để họ vào theo cửa “Con Dím”, và đã tìm cho họ một lối vào gần Khôlôtnaia Banka hơn, Sau này, tôi sẽ báo cáo với đồng chí tại sao tôi đã quyết định như vậy... Các chiến sĩ của tôi đã kể lại quang cảnh trên đó. Trong báo cáo của tôi, tôi sẽ chỉ nói với đồng chí những điều thật chắc chắn và đã được xác minh. Khu vực mặt trận gần chúng ta nhất là ở Krưm, trước Pêrêkôp; từ đấy địch rất muốn tiến tới Xêvaxtôpôn. Những trận chiến đấu phòng ngự ác liệt đang diễn ra ở đấy. Do đó chúng ta có thể ước lượng được là chúng ta đang ở rất sâu trong hậu địch, và chúng ta không thể tính tới chuyện liên lạc được với các đơn vị Hồng quân. Đấy, tình hình mặt trận là như vậy. Đó là một điều. Về tình hình và tinh thần của nhân dân các làng ở hậu địch, theo tôi thì đại khái như thế này. Đại bộ phận ở các làng đều có đồn binh Rumani và Đức chiếm đóng. Tuy vậy tôi đã lọt được vào nhiều nhà, nói chuyện với nhân dân và, báo cáo các đồng chí, điểm nổi bật nhất và trước tiên tổ chức chúng ta phải quan tâm đặc biệt... — Tulyakôp ngừng lại và nhìn thẳng vào mặt Secnôivanenkô như đòi hỏi. — Bọn phát-xít ngấm ngầm tuyên truyền trong nhân dân là Mạc-tư-khoa đã thất thủ, Hồng quân đã bị đánh bại và thực tế không còn nữa, ngày một ngày hai, chính quyền xô-viết sẽ bị quét sạch hoàn toàn và vĩnh viễn, cho nên mọi sự chống cự đều vô ích. Đấy, tình hình là thế đấy, các đồng chí! Những người mà tôi gặp được, họ không hiểu ra sao nữa. Chúng ta có trách nhiệm — Tulyakôp nói, — vẫn nhìn thẳng Secnôivanenkô — trong một thời gian ngắn nhất và với biện pháp kiên quyết nhất, phải làm cho nhân dân biết là Đảng và chính quyền xô-viết vẫn tồn tại trên đất nước xô-viết tạm thời bị phát-xít xâm chiếm. Trước tiên, chúng ta phải tổ chức phổ biến thường xuyên tin tức của Thông tấn xã xô-viết cho nhân dân nắm được tình hình thực tế. Không thế tình hình sẽ chả ra thế nào nữa.
— Đúng thế — Secnôivanenkô nói và tiếp tục ghi nhanh vào sổ tay.
Tulyakôp cởi khuy cổ áo va-rơ ra rồi lấy mùi-soa lau cổ. Mặt anh bừng bừng, anh thấy nóng ran, anh đứng dậy và đi về phía cái xô định uống nước, nhưng lại không uống. Anh móc trong túi áo ra một mảnh giấy đã nhàu nát và vứt lên bàn.
— Tôi đề nghị đồng chí cho đọc.
Secnôivanenkô cầm lấy tờ giấy, mang kính vào rồi đọc to:
— “Hỡi công dân thành phố Ôđetxa và các vùng lân cận, tôi khuyên các người đừng có những hành động cừu địch đối với quân đội và công chức sẽ cai trị thành phố của các người. Hãy tố giác những kẻ nhận nhiệm vụ khủng bố, bọn gián điệp, bọn phá hoại hoặc những người tàng trữ vũ khí. Hãy chú ý và tuân thủ các mệnh lệnh của cơ quan chỉ huy quân sự và dân sự. Tôi có bổn phận báo để các người đề phòng. Người nào không chấp hành hoặc sẽ không chấp hành những mệnh lệnh nhận được từ trước đến nay hoặc những mệnh lệnh sau này sẽ bị bắn tại chỗ. Chuẩn tướng chỉ huy quân đoàn Uakôbixi, Tư lệnh trưởng N. Takaranu.“
— Để kèm vào biên bản — Secnôivanenkô nói và với tay qua vai đưa tờ giấy cho Liđya Ivanôpna.
— Tôi tiếp tục — Tulyakôp nói, thít mạnh thắt lưng. — Qua câu chuyện với mọi người, tôi biết bọn chiếm đóng đã bắt đầu cướp lương thực. Ta đã không phá hết được các kho dự trữ. Ví dụ ở trạm máy kéo Prôtôpôpôvô còn lại hai nghìn pút lúa mì dự trữ, ba mươi hai tấn lúa mì. Các đồng chí thử tưởng tượng — Tulyakôp mặt đỏ bừng và một nếp nhăn hằn trên trán. — Hồng quân thì đang chiến đấu với quân Đức ở Pêrêkôp, đương đầu với cái chết, thế mà trong lúc đó bọn Đức lại cướp lúa mì xô-viết. Đó là một điều hổ thẹn các đồng chí ạ, một điều sỉ nhục, một sự phản bội.
Tulyakôp bực bội và nói nhanh quá làm cho Liđya lvanôpna, người làm biên bản cuộc họp, phải cố gắng lắm mới viết kịp.
— Đáng tiếc, trạm Prôtôpôpôvô lại do một đơn vị khá quan trọng chiếm giữ nên các chiến sĩ của tôi không làm gì được. Nhưng tôi nghĩ chúng ta phải sửa chữa điều đó. Phải, chúng ta phải làm! Tôi yêu cầu Ban chấp hành phải có quyết định ngay lập tức. Sang chuyện khác. Theo một nguồn tin chắc chắn, chính tôi biết tin tên chỉ huy Ôđetxa rất chú ý đến hầm mộ của thành phố này. Có thể không phải đúng là hầm mộ Uxatôvô. Như các đồng chí đã biết, các hầm mộ chiếm hết cả khu vực dưới đất của thành phố Ôđetxa. Nhưng bất cứ trường hợp nào, cũng cần phải cẩn thận và tăng cường canh gác ở các cửa ra vào. Vì thế, tôi đã quyết định dẫn các chiến sĩ của tôi vào cửa Khôlốtnaia Banka để khỏi vô ý làm lộ cửa chính, cửa “Con Dím”. Tôi báo cáo hết. Đề nghị các đồng chí cho ý kiến.
— Chúng ta sẽ không thảo luận — Secnôivanenkô nói sau một thoáng suy nghĩ. — Chúng ta sang ngay phần nghị quyết. Thứ nhất, viết đi đồng chí Anghêliđi, xem nhiệm vụ Ban chấp hành giao cho các đồng chí Xtrenbixki, Tulyakôp, Xviriđôp và Xecgliêiep như đã được triệt để hoàn thành. Thứ hai, nhất trí với những kiến nghị của đồng chí Tulyakôp. Điểm a) Trong thời gian tới cần phải tổ chức nhận và ghi chép các bản tin của Thông tấn xã xô-viết. Vì mục đích ấy, cần phải chăng ăng-ten lên mặt đất và mắc các bình ắc-quy vào. Phải sao bản tin thành nhiều bản bằng máy chữ, chép tay thật dễ đọc và rõ ràng để dán ở các làng dọc theo đường sắt, ít nhất mỗi tuần hai lần. Điểm b) Phải tổ chức ngay một cuộc xuất kích để thanh toán những kho dự trữ lúa mì ở trạm máy kéo Prôtôpôpôvô. Để làm việc đó, một toán chiến đấu sẽ được tổ chức gồm Secnôivanenkô, Tulyakôp và Xtrenbixki. Điểm c) Ngoài bộ phận cảnh giới thường lệ, chúng ta phải đặt ở cửa “Con Dím” một trạm gác thường trực do một trong những ủy viên Thường vụ phụ trách. Người nào, sẽ quyết định sau. Hết. Còn đối với lời cảnh cáo của ngài chỉ huy quân đội chiếm đóng về việc bắn tại chỗ những người xô-viết — Secnôivanenkô nói, mắt nheo lại — thì không có gì mới đối với chúng ta. Chúng ta không chờ đợi gì hơn ở bọn bẩn thỉu ấy. Đối với những mệnh lệnh như vậy, bắt buộc chỉ có một cách trả lời. Các đồng chí còn nhớ lời Lênin nói về sự xâm lược của bọn can thiệp chứ? Người nói, nếu chúng ta định giác ngộ quân đội chúng, bọn đã được tập hợp lại vì lòng tham lam quốc tế và đã trở nên tàn ác vì chiến tranh, bằng lời nói, bằng giải thích, bằng một phương pháp khác phương pháp đấu tranh vũ trang, thì chúng ta sẽ không thể nào đứng vững được hai tháng, chúng ta sẽ là đồ ngốc. Đấy, Lênin đã dạy chúng ta như vậy. Và chúng ta đã hành động một cách lêninit. Hết. Tôi đề nghị những người hiện nay không có công tác, cũng không phải phiên gác, hãy đi ngủ... Đồng chí Ximban — Secnôivanenkô hét lên.
Trong đường hành lang ngầm, như dọc theo một hàng quân trong chiến đấu, tiếng gọi chuyền từ người này sang người khác. “Đồng chí Ximban đến gặp đồng chí bí thư thứ nhất“, “Liôna, kìa đồng chí Secnôivanenkô gọi”, “Liônya đến “góc đỏ” nhanh lên”.
Xốc lại áo va-rơ, Ximban đi đến trước bàn đồng chí bí thư thứ nhất.