Ximban được nhận một cái áo ba-đờ-xuy mới toanh, một cái mũ, một đôi ủng cao su lấy ở trong kho dự trữ đặc biệt dành cho những lần xuất kích lên thành phố. Anh bóc lớp bụi bám chặt ở các lỗ chân lông trên da mặt, cạo râu, đánh phấn và sau khi đã biến thành “một thanh niên đàng hoàng như ai”, mặc dù đáng dấp hơi có vẻ tiểu tư sản, anh ra đi vào lúc bảy giờ theo cửa “Con Dím“. Đến bên kia những vườn rau làng Uxatôvô, anh rẽ qua đường Hatji-Bây.
Ngày hôm sau, mãi tận khuya, Ximban mới về, giữa lúc mọi người đã bắt đầu lo lắng bồn chồn cho số phận của anh. Anh đi vào với chiếc mũ dạ cụp, ướt sũng, đôi mắt đỏ ngầu quắc lên dữ tợn. Anh nhanh nhẹn mở khuy chiếc áo ba-đờ-xuy mới toanh nhưng đã bị lấm bùn Uxatôvô, và bằng cái vẻ đắc thắng ngầm, anh từ từ móc trong túi áo ra mấy bóng đèn radio. Đồng thời, anh huyên thuyên tả lại quang cảnh ở thành phố. Anh tràn đầy cảm xúc và có vẻ tức giận nữa.
— Một sự việc khủng khiếp! Cháy nhà trong một trại điên. Giữa lòng thành phố, ở quảng trường nhà thờ, có một lũ mặc áo da dê khóa rút sáng loáng, mang máy quay phim chạy lăng xăng, quay phim thời sự. Từ những ô-tô đậu ở các ngã tư vẳng ra những âm thanh dồn dập của nhạc jaz Buearet, và một thằng chó chết nào đó phát thanh bằng tiếng Nga những “bản thông cáo“ của Đại Bản doanh Quốc trưởng. Nói qua mà nghe, cũng là một quang cảnh hay hay.
— Khoan đã — Secnôivanenkô cắt ngang. — Ở phố Ribat có các cửa hàng đồ cũ phải không?
Liônya ngạc nhiên nhìn ông.
— Những cửa hàng đồ cũ à? Xúc không hết! Tại sao?
— Thế trong toà nhà Vane, anh có thấy cửa hàng nào không?
— Có chứ, cửa hàng của một anh chàng Jorjơ nào đó. Dạ sao kia chứ?
— Viết như thế này phải không: “Jorjơ”.
— Viết như thế đấy “Jorjơ“. Cười chết được! Một tên Kôletnisuc nào đó, chủ nhân.
— Viết đúng như thế sao?
— Viết toàn bằng chữ hoa “Kôletnisuc, chủ nhân”. Dạ, sao kia chứ?
Secnôivanenkô mỉm cười:
— Chẳng sao cả. Tôi hỏi để biết quang cảnh chung thôi.
— Quang cảnh chung thì thật là khủng khiếp! Tôi có thể tiếp tục chứ ạ?
— Tiếp tục đi, nhưng gọn gọn một tí.
— Hai chữ thôi. Nhập khẩu! Thật là một cảnh hết sức nhộn nhịp! Một cái chợ giời cỡ thế giới! Anh có thể mua và bán đủ thứ trên đời, từ cái đồng hồ đeo tay đến chiếc xe tải quân sự. Không biết đã xuất hiện ở đâu ra bọn buôn lậu từ trước nạn hồng thủy. Om sòm tiếng la hét, tiếng chửi rủa, một bức họa xứng với tài nghệ của Aivazôpxki[6]! Mặc dù bị cấm triệt để, vẫn có một dẫy bán đủ mọi thứ phụ tùng radio. Từng chồng máy thu thanh của tất cả các nhà máy, tất cả các nhãn hiệu. Đầy ắp những máy “Têlêfunken“! Tôi, dĩ nhiên là không hoang mang, tôi đã sục sạo nhặt nhạnh được ở nơi này nơi khác tất cả những thứ cần thiết. Và tất cả, với ba trăm năm mươi rúp bằng tiền xô-viết. Tôi nhét tất vào túi áo trong như một người có học, một nhà tri thức, và khi tôi sắp sửa nhổ neo thì sau lưng tôi có tiếng hét của một tên cảnh sát, người mình, ăn mặc thường phục. Được, thằng chó, ngày một ngày hai, gặp nó, tôi sẽ cho nó biết! Tôi nghe nó gọi: “Đứng lại! Bắt lấy nó! Nó vừa mua bóng đèn radio!” Nhưng dãy tường của nghĩa trang công giáo thứ nhất đã ở ngay bên cạnh. Chắc chắn tôi có thể lại làm vỡ cái bóng đèn một lần nữa, nhưng dù thế nào tôi cũng phải đu lộn người và nhảy vọt qua bức tường xuống bãi tha ma. Và khi đã ở đấy rồi thì xin chào! Tôi biểu diễn một cuộc chạy đua vượt chướng ngại vật. Trong khi chúng đang leo tường, lúng túng giữa những tấm mộ chí và bao vây bãi tha ma thì tôi đã ở phía bên kia Sumka rồi. Tôi ở lại đấy hai mươi bốn giờ liền trong cái hầm của một gia đình người quen và đêm đến, nhân lúc mát trời, tôi chạy đến Krivaia Banka và từ đấy đến Uxatôvô... Hết.
— Tóm lại đồng chí Liônya đã nói hết. — Secnôivanenkô nhận xét và dang tay ra ý bình phẩm.
— Có ai còn vấn đề gì hỏi nữa, xin hỏi.
— Không còn gì nữa.
— Thế thì cho phép tôi xem lại bóng đèn.
Cùng Xviatôxlap, Lêônit Ximban lắp bóng đèn vào máy và nối với ắc-quy. Dòng điện chạy qua. Bây giờ muốn cho máy chạy, chỉ còn việc đưa ăng-ten lên mặt đất. Việc đó không có gì khó khăn về mặt kỹ thuật nếu có dây. Dây thì có, nhưng không đủ dài để kéo từ doanh trại đến tận cửa “Con Dím“. Do đó phải quyết định mang máy thu thanh lại thật sát cửa để đủ dây kéo.
Sau khi thấy cái bóng đèn còn nguyên vẹn và báo cáo với đồng chí bí thư rồi, Ximban dùng giọng công tác bình thường báo cáo cho ông biết những điều chủ yếu lượm lặt được trong thời gian lên thành phố.
Từ những câu chuyện trao đổi với mọi tầng lớp và với gia đình người quen ở Xakhalinsuc, anh đã nắm được phương pháp đăng ký hộ khẩu: chúng để lại cho mỗi người tấm giấy thông hành xô-viết cũ, nhưng chỉ khi có con dấu đặc biệt của sở cảnh sát mới có giá trị. Cảnh sát được phân phối như sau: Xlôbôtka là khu 7, Pêrexip là khu 5, Mônđavanka khu 6 và khu phố vận tải đường thủy là khu 4. Đăng ký hộ khẩu tiến hành như thế này: người ta lập sổ mới cho từng nhà; nhân dân phải trả lời một tràng câu hỏi — năm mươi phân bề rộng — bằng hai thứ tiếng và làm thành hai bản, kèm theo các giấy thông hành hoặc khai sinh của các nhân khẩu trong gia đình, rồi người chủ hộ hay người quản lý mang tất cả những đồ nợ ấy đến nối đuôi nhau để nộp các câu hỏi, giúp sức vào việc lập danh sách nhân khẩu theo tài liệu điều tra ghi trong sổ gia đình và đóng dấu chứng nhận vào các giấy thông hành. Lúc đó, giấy thông hành mới có giá trị.
Tất cả những điêu đó là những tài liệu quan trọng, Secnôivanenkô vội ghi lia lịa vào sổ tay. Cần phải tổ chức riêng trong hầm mộ một cơ quan cấp phát giấy thông hành để trang bị cho những người được phái lên trên làm nhiệm vụ chiến đấu. Nhưng trước khi bắt tay vào việc, phải gặp Xiniskin Jêleznư đã.
Buổi thu thanh đầu tiên của Thông tấn xã xô-viết được thực hiện khá tốt. Họ đưa máy thu thanh và ắc-quy đến sát cửa “Con Dím”. Trời vừa tối, họ đưa ăng-ten ra bên ngoài: hai mét dây đồng mắc trên một cái gậy do Xviriđôp giữ. Công việc tiến hành dưới sự yểm hộ của một tổ chiến đấu do Tulyakôp bố trí trong cái khe nhỏ. Cách lối vào hầm mộ hai mươi mét, Xviatôxlap điều chỉnh máy thu thanh. Liđya Ivanôpna nhận tin, dưới ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn bão. Bình ắc-quy ô-tô tỏa ra một luồng ánh sáng yếu ớt. Con mắt thần le lói. Tuy thế người ta cũng có thể nghe một cách rõ ràng, thậm chí có thể ngồi hơi xa ra một tí, tiếng nói đều đặn và hơi khó nghe của người phát thanh viên.
Ngồi trên một phiến đá trước máy, tay chắp trên đầu gối, Secnôivanenkô lắng nghe. Bản tin không vui. Nhưng đó cũng là tiếng nói của Tổ quốc, của Mạc-tư-khoa, của Hồng quân. Tuy khắp nơi những trận chiến đấu phòng ngự đang tiếp diễn, và dĩ nhiên toàn bộ Ukren đã lọt vào tay quân địch, Secnôivanenkô vẫn thấy rằng tình hình trên mặt trận không hoàn toàn như thông báo của Đại Bản Doanh Hitle. Mạc-tư-khoa không mất. Lêningrat vẫn đứng vững. Hồng quân vẫn tồn tại và chiến đấu. Chiến tranh du kích đã bắt đầu triển khai. Thế thì, cần phải nhanh chóng phân phát truyền đơn để nâng cao tinh thần nhân dân. Đồng thời cần phải gấp rút giải quyết trạm máy kéo ở Prôtôpôpôvô.