Piôt Vaxiliêvich, vai mang ba-lô, ngẩn người rảo bước, không ngoái cổ lại, theo sự chỉ huy của Đrujinin; thỉnh thoảng anh này lại giật giọng ra lệnh:
— Bên phải. Bên trái. Đi thẳng.
Hoặc bằng tiếng Đức:
— Rechls, Links, Geradeaus.
Hoặc nếu hoàn cảnh cho phép, bằng một giọng thân mật, tất nhiên để khuyến khích Batsây.
— Đừng hoảng! Tiến lên! Gắng một tí nữa là chúng ta về đến nhà!
Piôt Vaxiliêvich không được phép ngoảnh lại. Nhưng nhiều lúc, ông không thể đừng được. Cách ông hai thước, một tên S.S. đang nện gót, đầu đội mũ cát-két đen đính hình đầu lâu, tay cầm khẩu “Vante” với đôi mắt xanh vừa thân thuộc vừa xa lạ dưới vành lưỡi trai sơn rộng. Đột nhiên Batsây cảm thấy điều đó kỳ quái quá, khiến chân ông cứ ríu lại và bắt đầu loạng choạng. Thế là sau lưng ông giọng Đrujinin lại dấm dẳng vang lên:
— Đừng ngoảnh lại. Đã có tôi. Mọi việc đều ổn cả.
Thậm chí có lần Đrujinin còn bảo: “Mọi việc đều rất ổn, mỹ mãn”.
Họ vượt qua suốt công viên không trở ngại gì. Tuy trong công viên có gặp mấy toán tuần tra nhưng cố nhiên không toán nào giữ họ lại. Một toán tuần tra bình thường đời nào dám giữ lại một sĩ quan S.S., tay cầm súng ngắn đang giải vội một tên dân cày bị bắt. Chỉ riêng điều tên dân cày nọ không phải do một tên lính quèn áp giải mà do đích thân một sĩ quan S.S. cũng đã nói lên đó là một trường hợp nghiêm trọng rồi. Đời nào một sĩ quan lại chịu bỏ thì giờ để đi áp giải một tên dân cày bình thường!
Hẳn tên dân cày là một chính ủy trá hình, một tên gián điệp. Và không kém phần tất nhiên, đó cũng là một sự tính toán đơn giản và chắc chắn của Đrujinin: một sĩ quan S.S. chỉ có thể áp giải một tên “Bônsêvich” trá hình. Ai có thể ngờ, nhất là trong tình thế hỗn loạn chung, giữa lòng thành phố vừa xảy ra vụ nổ dữ dội kia, đó là một người trá hình dẫn một người trá hình khác và cả hai đều là đảng viên bônsêvich.
Họ ra khỏi công viên và băng qua phố Maraliepxkaia. Đường phố này vẫn bị vây kín nhưng lúc này ở đây đã xảy ra một việc gì khác thường. Tất nhiên Đrujinin có thể dẫn Piôt Vaxiliêvich đi bất cứ con đường nào khác ít nguy hiểm hơn, tránh phố Maraliepxkaia này ra. Nhưng hình như anh phải đi qua đúng phố Maraliepxkaia. Như có một sức mạnh không cưỡng nổi thúc anh tiến thẳng về phía có những trở ngại. Răng nghiến chặt nom rất dễ sợ, anh lấy cùi tay gạt một tên lính gác người Rumani ra, thúc mạnh khẩu súc ngắn vào lưng Batsây, hét lên, nhãn vào chữ r một cách dữ lợn: “G-v-r-ra-deaus!“ và nhanh gần như chạy, họ băng qua phố Maraliepxkaia, nơi mà những xe cứu thương đang rú ầm ầm mở hết tổc lực đổ tới.
Piôt Vaxiliêvich có đủ thì giờ nhận xét ở chỗ mới đây còn sừng sững tòa nhà đồ sộ của sở N.K.V.Đ; hiện giờ trong bầu trời trống không, chỉ còn trơ lại, hoặc đúng hơn còn lơ lửng như một đám mây trắng hồng, những gạch và thạch cao vụn nặng nề, ngột ngạt, qua đó người ta thấy những di tích rùng rợn của ngôi nhà bị mìn phá sụp. Từ những đống đổ nát nhô lên những xà sắt quằn quèo, những song sắt, những đường ống, những lò sưởi trung tâm. Xung quanh ngôi nhà bị mìn, giữa những xác ô tô và xe tải, có những người đứng yên như đóng đinh xuống đất, áo và mũ cát-két phủ đầy bụi thạch cao trắng. Tiếng xe cứu thương rú như từ dưới những đống gạch đổ nát vọng lên. Piôt Vaxiliêvich lại quay lại nhìn Đrujinin. Trong ánh mắt xanh giận dữ của bạn, ông thấy một niềm hân hoan và một vẻ căm thù ghê gớm đến nỗi trong một thoáng ông cũng cảm thấy sờ sợ. Ngay lúc đó Đrujinin hất đầu kín đáo về phía ngôi nhà bị mìn phá, nháy mắt về phía Batsây rồi nghiến răng nói:
— Sher gai! Đúng không?
Piốt Vaxiliêvich bỗng thấy hết sức rõ ràng mối liên quan giữa chiếc máy dưới hầm trú ẩn trong công viên Sepsenkô mà Đrujinin đã cúi xuống điều khiển với những đống gạch rùng rợn này.
Họ đi nhanh từ phố này sang phố khác. Batsây đi trước, ba-lô trên vai, Đrujinin theo sau với khẩu súng ngắn. Batsây cảm thấy không sợ hãi gì nữa. Cả đến lo lắng cũng không. Lòng ông tràn đầy một niềm tin tưởng vững chắc là tất cả sẽ kết thúc tốt đẹp. Đrujinin dẫn ông qua các phố nguy hiểm nhất, băng qua trung tâm thành phố.
Người ta có thể tưởng cơ hồ như anh muốn đùa với số phận và cố ý xông lên một cách mù quáng. Nhưng bây giờ Piôt Vaxiliêvich đã hiểu trong tình thế của họ, cứ xông thẳng tới là chắc chắn nhất. Càng đông người chung quanh càng tốt. Một tên S.S. mặc ba-đờ-xuy đen với chiếc cát-két khủng khiếp và khẩu Vante trong tay, giải một người dân cày sợ hãi, một đảng viên bônsêvich trá hình, qua đường phố một đô thành mới bị chiếm đóng, là một cảnh tượng quá ư khủng khiếp, cho nên không những dân Ôđetxa mà ngay cả đến những tên lính Rumani và lính Đức cũng vội vàng tránh ra nhường lối cho họ.
Trời bắt đầu tối. Đường phố vãn đi nhanh chóng. Màn đêm đen như mực mỗi lúc một dày đặc và bay lượn giữa những ngôi nhà im lìm cửa sổ đen ngòm. Trong toàn cảnh phố Risơliơ vắng tanh, và một màu xám ảm đạm, nổi lên hình bóng quen thuộc của Nhà hát thành phố Ôđetxa nổi tiếng. Lúc này cái mái tròn đẹp của nhà hát, bậc tam cấp thanh nhã trang trí bằng những pho tượng, những đường vòng cung với những chiếc đèn lồng bằng gang, những bậc đá hoa cương, tất cả đều như nhuốm một màu xám ươn ướt, đơn điệu, huyền ảo, không có chiều dày, một ảo ảnh.
— Links! — Đrujinin ra lệnh và vòng theo góc cháy đen một ngôi nhà bị phá hủy, họ rẽ vào phố Ribat.
Nhưng không, đây không phải phố Ribat mà chỉ là bóng ma của nó. Hai ba đốm lửa leo lét trên con đường vắng tanh. Tất nhiên đều là những ngọn nến hoặc đèn đêm trong mấy cửa hiệu mở theo lệnh chủ mới thành phố. Rồi những đốm lửa ấy lần lượt tắt dần. Các nhà hàng đóng cửa. Chỉ còn một đốm lửa nhỏ yếu ớt, chập chờn, le lói sau một khung cửa sổ tối om, trong lòng sâu buồn thảm một cửa hiệu buôn.
Khi họ tới đó, ngọn nến chập chờn cháy bùng lên rồi tắt ngấm. Một người mặc ba-đờ-xuy đen cổ lật lên, đội mũ quả dưa ở trong cửa hiệu bước ra. Lão đặt một chiếc két sắt con lên vỉa hè rồi móc cái ổ khóa to tướng vào cửa. Trong bóng đáng lỗi thời của lão này, có một cái gì vừa hết sức đáng thương lại vừa buồn cười. Lão đặt cái két sắt lên vỉa hè mới cẩn thận, gần như thành kính làm sao; lão lắc lắc chùm chìa khóa loảng xoảng, khóa cửa mới cẩn thận chu đáo làm sao. Lão vừa giơ chiếc gậy móc lên thì chợt nghe có tiếng chân, lão rùng mình quay người lại.
Vừa đúng lúc ấy Đrujinin và Piôt Vaxiliêvich tới. Thấy một tên S.S. mang súng ngắn, lão luống cuống nép người vào tường và bỏ chiếc mũ quả dưa xuống, chào gượng gạo theo lối cũ. Nhìn thấy lão, Piôt Vaxiliêvich xuýt kêu lên... Không, ông không nhằm! Không thể nhầm được. Đúng là Kôletnisuc. Anh ấy đứng kia, đồng chí Kôletnisuc, Jorka Kôletnisuc, người bạn học cũ, người bạn thiếu thời của ông, chính Kôletnisuc mà mới ngày nào hai người còn cùng nhau say sưa ôn lại những kỷ niệm cũ. Giờ đây, kẹp cái mũ quả dưa trên ngực, đang cúi rạp người chào tên S.S. áp giải một đảng viên bônsêvich bị bắt. Kôletnisuc nhìn Piôt Vaxiliêvich. Tất nhiên là lão không nhận ra ông. Cứ như Batsây hiểu, thì lão chỉ nhìn lướt qua ông, dửng dưng. Kôletnisuc quay người lại, lấy đầu gậy móc vào cái vòng tấm cửa sắt, và tấm cửa từ từ hạ xuống, ken két trong tiếng sắt gỉ. Qua tấm kính rạn mờ của tủ hàng, Piôt Vaxiliêvich nhìn thấy đủ các loại ầm lò, mấy chiếc đồng hồ quả lắc cũ bằng đồng đỏ, mấy cái ô, mấy cái máy hát. Một khung ảnh mạ vàng lố lăng, óng ánh, tựa vào một chiếc máy cũ kỹ của thợ trồng răng có bàn đạp chân và một bánh xe khổ bằng gang. Phía trên cửa hàng, lủng lẳng một tấm biển tạm thời: một tấm băng vải thô, ướt sũng nước mưa, mang dòng chữ trang trí lòe loạt và viết theo lối cũ: “Cửa hàng tầm tầm Jorjơ” “J.N. Kôletnisuc, chủ nhân”.
Batsây ngỡ mắt mình trông lầm. Thậm chí có lúc ông tưởng mình hóa dại, tất cả đều do ông mê hoảng mà ra: cái mũ quả dưa kia, cái lưng khúm núm kia, lại những chữ viết theo kiểu cũ, với cái két sắt và tiền bán hàng, cùng với cái tên bêu riếu và ngu xuẩn “Jorjơ” kia, giữa đám hoang tàn ma quái của phố Ribat chìm đắm trong cái quầng huyền ảo của những ngọn đèn ngụy trang.
Nhưng ý niệm về thực tại trở lại với ông ngay. Tất cả đều có thực. Thì ra bộ mặt thực của ông Kôletnisuc là thế đây! Thật là một tâm hồn cao cả! Đường phố vắng tanh. Không ai thấy họ. Ông xuýt nhảy bổ vào Kôletnisuc, nhưng ngay lúc ấy một tiếng nói từ thâm tâm vẳng lên: “Hãy bình tĩnh”. Piôt Vaxiliêvich, chợt trấn tĩnh, cố nén, và cứ đi thẳng qua trước cửa hàng “Jorjơ” của J.N. Kôletnisuc, thậm chí không thèm ngoái cổ lại.