Pêchya cầm đèn, Valentin một tay xách hai cái xô không. Còn một tay chúng chống lên những cái nạng nhỏ. Những nạng này là một phát minh đặc biệt, rất hữu ích. Ai đã phát minh ra? Không ai biết. Một hôm chúng đã xuất hiện như tự bản thân chúng. Không có chúng, gần như không thể đi lại trong hầm mộ được. Đi trong những đường ngầm thấp lè tè cứ phải cúi lom khom, thậm chí có khi còn phải cúi gập thước thợ lại nữa. Mà đi với tư thế cúi gập trên bộ giò co lại quả là một cực hình. Vì thế mọi người đều sử dụng những cái nạng con con ấy, làm bằng que thông nòng súng cũ. Đổi với cuộc sống dưới đất, nó cũng cần thiết như ánh sáng.
Pêchya và Valentin đi trong đường ngầm tay chống nạng như các cụ già. Giếng nước không xa lắm. Ở bên trên, chắc chúng đã tới nơi nhanh chóng. Dưới hầm ngầm, phải nhiều thời gian hơn mặc dù đường ra giếng được coi là dễ đi: chỉ phải bò có một lần không quá hai mươi mét.
Thỉnh thoảng chúng dừng lại và trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn, Valentin khắc lên tường bằng một cái đinh, chủ bụng mang theo, chữ “P” tên của Pêchya, và chừ “V” tên mình, lồng vào nhau, vì tiết kiệm cô đã viết tắt.
Suốt dọc đường, trên tường chi chít những tự mẫu và hình vẽ khắc vào đá, vẽ bằng than, bằng gạch hay chỉ đơn giản bằng ngón tay vào lớp bụi dày. Như một tấm bảng chỉ đường ngầm. Không có nó, làm thế nào mà đi lại dưới hầm mộ, cho khỏi lạc trong cái mạng nhện những đường ống, những chỗ ngoặt, những ngã tư ấy được? Không có bản đồ tương đối chính xác của hầm mộ. Lập một bản sơ đồ, dù đơn giản về cái mạng nhện đó, chỉ rõ những chỗ lồi lõm chú yếu cũng đã là một công việc rất công phu rồi. Ở đây, la bàn cũng trở nên vô dụng. Trước hết, dưới đất nó sẽ chỉ sai, mặt khác, không có bản đồ, nó cũng không dùng được việc gì hết. Âm thanh của tiếng nói gần như không chuyền di được. Chỉ còn có cách báo hiệu bằng những chữ, những tượng hình đó, vừa bí mật vừa khó hiểu đối với người vô tình rơi vào hầm mộ.
Mỗi thành viên trong tổ chức bí mật đều có dấu hiệu riêng. Di chuyển qua đường mạng nhện, bắt buộc thỉnh thoảng phải để lại trên tường những “tấm danh thiếp”, những bức mật mã, những bản tin tượng hình, để chỉ dẫn phương hướng phải theo, phòng trường hợp đèn hỏng, các đồng chí của mình có thể tìm được. Phải nhớ rằng không có diêm hay bật lửa, tắt đèn có nghĩa là chết.
Khi Valentin khắc những chữ tắt lên tường thì Pêchya nghiên cứu những dấu hiệu khác trên vách đá lấp lánh. Dấu này giống một mũi tên nhưng có hai nét ngang nhỏ xiên qua đuôi; dấu kia là một tự mẫu Nga cũ “iat”, một trò hoạt kê của Liônya Ximban, anh đã lấy nó làm dấu hiệu của mình. Dấu thứ ba là một chữ thập với mũi tên, dấu hiệu của Xviatôxlap. Có một hình tròn đặt dưới một hình chữ thập, biểu trưng thần bí cổ của quả đất mà Secnôivanenkô đã chọn trong một cuốn lịch cũ; còn ngôi sao năm cánh là của Xerafim Tulyakôp. Người ta thấy những hình bầu dục, những mũi tên ở mọi hướng đi. Có những chữ số. Con số “5” không biết tại sao, là của Matriôna Têrenchiepna; con số “2” của Raitxa Lvôpna. Xtrenbixki có một hình thoi. Liđya Ivanôpna, một quả tim; Xviriđôp, một cái mỏ neo. Hầu như tim và mỏ neo luôn luôn ở bên nhau, cũng gần nhau như chừ “P” với chữ “V” của Pêchya và Valentin.
Với một niềm vui sướng không hiểu được và một mối xúc cảm thầm kín, Pêchya nhìn thấy giữa những dấu hiệu đó, giống y như giữa những người sống, thân thuộc, xuất hiện trên các bức tường lấp lánh, những chữ tắt của Valentin và của mình, quấn lấy nhau chặt chẽ.
Đến gần giếng, chúng tắt đèn. Ánh sáng ban ngày ló ra ở phía trước. Tự bản thân, nó rất yếu ớt, rất lờ mờ nhưng so với bóng tối vĩnh viễn dưới hầm ngầm được chiếu sáng bằng những ngọn nến nhỏ vàng ệch, nó có vẻ rực rỡ lạ thường và chói mắt. Chúng thích thú được làm quen với ánh sáng ban ngày, xanh nhạt, đều hòa, dán chặt lên những chỗ tường lồi lõm, lên lớp sàn bụi bậm, và tạo thành những vệt sáng từ phía bên kia những khúc ngoặt của con đường ngầm chiếu tới. Con đường ngầm dẫn đến miệng giếng. Ánh sáng ban ngày từ trên rọi xuống. Đó là một cái giếng kiểu nông thôn. Từ miệng giếng đến chỗ đầu con đường hầm ít nhất cũng phải trên mười mét và từ đó đến mặt nước cũng bằng ấy nữa.
Pêchya và Valentin thận trọng đi tới miệng giếng, rồi ngồi lên thành giếng tròn, sung sướng nhìn thấy ánh sáng ban ngày từ trên rọi xuống. Con mắt chúng lâu nay bị bóng tối vĩnh cửu và ánh đuốc bập bùng làm cho mỏi mệt, bây giờ được nghỉ ngơi. Thỉnh thoảng chúng ném một hòn sỏi và một lúc sau chúng mới nghe tiếng đập vào nước. Tay bám chắc vào thành giếng để khỏi ngã, chúng cúi đầu vào miệng giếng và tì bụng lên thành giếng, nhìn xuống bên dưới rồi lại thử nhìn lên phía trên.
Ở dưới xa, trong bóng tối, một hình tròn sáng ngời lung linh, phản ảnh của bầu trời. Và giữa hai hình tròn sáng nhỏ đó — bầu trời thực và phản ánh của nó — đúng ngay chỗ gặp nhau của giếng và lối đi ngầm bí mật mà ở “trên” không ai biết tới, hai cái đầu đang áp chặt vào nhau, đầu Pêchya và đầu Valentin. Đó là nơi độc nhất chúng có thể trông thấy bầu trời và hít thở không khí trong lành. Đó là khung cửa sổ độc nhất trổ lên thế gian. Gần cửa sổ, chúng đã trồng xuống đất vài củ hành lấy trộm được của bà Matriôna Têrenchiepna. Mỗi lần chúng tới lấy nước, chúng lại tưới cho hành. Nhưng hành không mọc được. Rét quá. Chúng phải lấy một cái chậu thủy tinh cũ, tìm thấy trong đường ngầm, đậy kín lại. Chúng cố giữ cho hành khỏi bị cái rét từ bên trên tỏa xuống. Chúng đã mong mỏi biết bao những mầm hành đầu tiên! Cuối cùng, chúng xuất hiện, mảnh dẻ, vàng vọt gần như trắng bệch. Nhưng dù sao chúng cũng đã mọc. Đó là điều bí mật nhỏ của Pêchya và Valentin. Chúng đang chuẩn bị một chuyện ngạc nhiên cho những người hoạt động bí mật. Vì những củ hành này không phải là những củ hành tầm thường. Hành tức là chất tươi, và người ta cần biết bao chất tươi. Nhưng cũng phải thừa nhận cho Pêchya, đó là một sáng kiến của chú; không phải không có lý do mà chú là phó chủ tịch của câu lạc bộ những nhà thực vật học trẻ tuổi.
Pêchya và Valentin nằm chui đầu qua cửa sổ, bên cạnh những mầm hành nhợt nhạt đang yếu ớt vươn lên như muốn trốn khỏi hầm ngầm.
Người ta sẽ hỏi có thể trông thấy được gì từ một cái cửa sổ như vậy? Nhưng chúng, chúng thấy rất nhiều. Chúng thấy trời, thấy chim, thấy mây. Có lần ban đêm ra giếng, chúng đã trông thấy các vì sao. Và có lẽ đó là điều kỳ thú nhất chúng được thấy trong đời chúng. Nhưng chúng không có may mắn được trông thấy mặt trời một lần nào. Hình như mặt trời đi hơi chếch sang bên cạnh một tí: vả lại bây giờ đã là cuối thu và đông rồi. Trời thường u ám.
Cuối cùng, chúng đã trông thấy cả người. Chúng đã trông thấy, như một cái bắp cải bọc trong lá, đầu và vai những người phụ nữ từ một làng nào đó ra giếng lấy nước. Chúng trông thấy những cái xô lên xuống gần chúng quá; nếu muốn, chúng có thể lấy tay nắm lấy được. Những cái xô bình thường của các bà nông dân nom sao cũng lại lạ lùng thế: vì chúng ở thế giới bên kia! Thật là khó, gần như không thể tưởng tượng được, là cứ như thế rồi người ta đem móc vào đòn gánh và gánh vào đường phố của một làng bị phát-xít chiếm đóng. Có lẽ bọn phát-xít sẽ sờ tay vào và uống cả nước đó...
Pêchya và Valentin nghe có tiếng ồn ào ở “thế giới bên kia”. Tiếng ồn ào ấy kể với chúng rất nhiều điều. Nó nới rộng và làm sống cái bức tranh đối với chúng hình như đã quá sinh động khi chúng nhìn thấy một khoảng trời đông có một con quạ bay qua. Chúng nghe tiếng chân đi lạo sạo, trên kia, tiếng trẻ con la hét. Một con chó sủa. Chỉ nghe tiếng sủa, cũng biết đó là một con chó con lông xù, đuôi cuộn tròn như cái bánh. Với cái rét từ trên xuống, những thứ đó đã làm hoàn chỉnh thêm hình ảnh một tối mùa đông với những chuyến đi bằng xe trượt tuyết, một buổi mặt trời lặn màu vàng với những con quạ bay lượn trên cái mái nhà nông thôn hình mũ nồi xanh.
Trước mặt chúng, mấy cái xô lạnh giá lên xuống, buộc vào một sợi dây xích cũng lạnh giá. Nước đen ngòm bốc hơi trong xô lạnh giá. Tiếng nói của những người phụ nữ hiền lành vang lên rất rõ trên đầu chúng. Và tiếng kèn nhà binh Rumani lanh lảnh vọng tới rõ lạ lùng, Lúc này đang mùa đông. Chà, sao chúng thèm được ở trên kia thế, chỉ nửa giờ thôi, để được chạy nhảy trên tuyết và bốc tuyết ném nhau.