— Đồng chí Secnôivanenkô, dậy! Bốn đỏ, một trắng.
Suốt ngày ông ốm, do bệnh tọa cốt thần kinh cũ trở lại, nhất là mấy ngày gần đây, vì phải sống thường xuyên trong không khí ẩm ướt. Buổi tối, ông đã nuốt hai viên atpirin, rồi lấy mấy cái áo ca-pốt trùm lên người, do đó người ấm lên một tí và cuối cùng đã ngủ thiếp đi được. Nhưng kìa phải chăng có ai đang gọi mình dậy... Bên cạnh ông, Tulyakôp tay xách đèn lồng, đang lay vai ông. Anh tiếc đã phải đánh thức ông dậy, nhưng Secnôivanenkô ra lệnh phải gọi ông dậy ngay, khi thấy xuất hiện mật hiệu bốn đỏ tiếp theo sau một trắng. Từ lâu không có tin tức của Xiniskin, Secnôivanenkô sợ có gì không hay xảy ra vì Xiniskin táo bạo quá. Secnôivanenkô ngồi dậy trên chiếc giường đá, vẫn còn ngái ngủ, nhanh nhẹn cài cổ áo va-rơ lại.
— Có gì thế? — ông hỏi, mắt chói đèn nhấp nháy.
— Bốn đỏ với một trắng — Tulyakôp lặp lại.
— Phải, phải. Tốt. Cảm ơn.
Secnôivanenkô vội vã bận quần áo, kiếm tra lại đạn và cầm lấy đôi nạng con, rồi đi theo Tulyakôp. Bên cạnh cửa hang, Ximban, tay cầm đèn pin đang đứng nhìn chằm chằm vào bóng tối dày đặc của đêm đông. Hai chiến sĩ thuộc phân đội Tulyakôp nằm dài trong tuyết, súng trường nhô lên.
— Thế nào — Secnôivanenkô sốt ruột, nói. — Liên lạc đâu?
— Tôi không hiểu — Ximban lúng búng. — Họ ra hiệu bốn đỏ một trắng. Tôi trả lời bốn trắng một xanh. Họ im lặng. Sau năm phút, tôi làm lại. vẫn thế: họ im lặng. Lần thứ ba: vẫn không có gì. Bỗng, cách đây mười hai phút, họ lại cho bốn đỏ một trắng. Tôi trả lời. Và về phía họ, không còn gì nữa... Khoan! — Ximban rùng mình. — Nhìn kìa, họ trở lại!
Secnôivanenkô cúi người vào lỗ hổng và thấy ở sườn khe, trên nền trời đêm đen nghịt, những ánh đèn pin nhấp nhoáng rất nhanh: bốn đỏ một trắng và liền sau đó lại: bốn đỏ một trắng! Những tia sáng lờ mờ ánh lên nối tiếp nhau rất nhanh và run rẩy, tưởng chừng như người làm mật hiệu đã vô tình để tay lên nút bấm.
— Ra hiệu cho họ lại gần — Secnôivanenkô nói.
Ximban ra hiệu ba lần nhưng không có ai lại gần.
— Có cái gì khả nghi đây — Tulyakôp nói. — Có âm mưu gì chăng?
— Phải một tổ trinh sát ra xem — Secnôivanenkô ra lệnh.
— Cho phép tôi bò đi — Tulyakôpnói. — Ồ, đáng tiếc, không có áo khoác ngụy trang.
Không một tiếng động, như một cái bóng, anh tiến lên, ra hiệu cho các người của mình rồi từ từ bò đi, xa dần. Đứng ở lối “Con Dím“ không ai nhìn thấy anh nữa. Hai người theo anh với một cự ly nhất định. Sau mười lăm phút mà Secnôivanenkô xem như cả một thế kỷ, Tulyakôp trở lại và báo cáo có một người lạ mặt nằm sóng sượt bất tỉnh nhân sự trên mặt tuyết.
— Già hay trẻ? — Secnôivanenkô hỏi.
— Không trông rõ. Có vẻ là một ông già. Xin cho mệnh lệnh.
— Một ông già... Để tôi đi vậy. — Secnôivanenkô nói và, cầm lấy khẩu súng trường trong tay Tulyakôp, nhanh nhẹn len qua lỗ hổng.
Như Secnôivanenkô phỏng đoán, đó là Xiniskin. Secnôivanenkô nhận ra ngay hình dáng dài ngoằng của bác, nằm sóng sượt, im lìm trên mặt tuyết. Secnôivanenkô quỳ xuống lấy vạt áo ba-đờ-xuy che đèn, rồi cẩn thận rọi vào mặt Xiniskin. Cái mũi nhọn hoắt, xương xẩu, má hóp, râu ria xồm xoàm, cứng, dài và xanh, đôi mắt nhắm nghiền, mi mắt sưng húp. Một tay siết chặt quả thủ pháo trên ngực, tay kia cầm đèn bấm. Miệng há hốc thở khò khè. Trông thật đáng sợ.
Secnôivanenkô cùng với hai người nữa nâng cái thân thể to lớn, xương xẩu của bác lên và khiêng vào trong hầm mộ. Lúc khiêng qua những chỗ hẻm của con đường ngầm, Xiniskin bắt đầu rên rĩ, bập bẹ trong cơn mê man một điều gì nghe không rõ.
Cuối cùng, họ khênh được ông vào trong doanh trại và đặt lên giường đá. Trong khi Matriôna Têrenchiepna còn đun nước chè trên bếp dầu hỏa, Secnôivanenkô cố gỡ những quả lựu đạn cài ở thắt lưng, dưới lớp quần áo của Xiniskin ra. Nhưng Xiniskin nhảy xuống giường và không mở mắt, tay vẫn nắm chặt cái đèn, đẩy Secnôivanenkô ra. Khó nhọc lắm mới lại bắt được bác nằm xuống. Bỗng bác mở mắt ra, nhìn khắp tứ phía. Secnôivanenkô cúi sát vào bác, dịu dàng nói:
— Nikolai Vaxiliêvich! Tôi, Secnôivanenkô đây, bác không nhận ra tôi sao? Nhìn xem! — Rồi nâng cái đèn lên rọi vào mặt mình để Xiniskin có thể nhận được.
Một loáng tri giác lung linh trong mắt Xiniskin. Quay đầu lại có vẻ khó khăn, bác nhìn cái hang, cái đèn bão mà Secnôivanenkô đang cầm ngang mặt, nhìn những bóng người gẫy gập trên tường nước chảy ri rỉ.
Một nụ cười yếu ớt lướt trên môi. Bác lắc đầu như muốn nói điều gì nhưng lại ngất đi. Người bác giật giật. Secnôivanenkô đặt tay lên trán bác: người bác nóng như lửa.
Rồi Secnôivanenkô cẩn thận cởi chiếc thắt lưng có cài lựu đạn ra cho bác. Dưới thắt lưng đó, còn một chiếc nữa khâu vụng về, nhưng cẩn thận vào một cái cặp và mang sát người; trong đó có mười tám tấm thẻ Đảng và đoàn Thanh niên cộng sản, và cũng chừng ấy quyết tâm thư do các đồng chí khi gia nhập các tổ chức bí mật ký tên. Ngoài ra, Secnôivanenkô còn rút ở thắt lưng ra một gói nhỏ tiền mác của chính quyền chiếm đóng, bọc trong một tờ giấy có ghi: “tiền nguyệt liễm” và vài hình con dấu đóng thử mà người ta đã dùng để đóng lên các giấy thông hành xô-viết lúc đăng ký hộ khẩu với cảnh sát Rumani. Khi Raitxa Lvôpna và Liđva Ivanôpna cởi quần áo cho Xiniskin để rửa nước nóng và thay quần áo, họ phát hiện thấy bác bị một viên đạn súng ngắn bắn vào ngực, phía dưới xương quai xanh bên phải. Vết thương bên trong được băng qua loa bằng một mẩu vải xé ở một tấm khăn trải giường có thấm iôt và phủ một lớp bông, mủ ra rất nhiều và đã có mùi hôi: chắc nó bị đã đến mấy ngày rồi và Xiniskin tự băng bó lấy.
Về sau, người ta mới biết sự việc xảy ra: Xiniskin rơi vào một trận vây ráp, bị lộ và bị bắt; bác đã chống cự lại rất dữ, bị thương, rồi giữa đường, nhảy từ xe cảnh sát xuống và trốn trong thành phố suốt bốn ngày liền, đổi chỗ ở từng ngày, cuối cùng, không thấy lối thoát nào khác, đã lấy hết tài liệu để trong cái lò ở phố Pisônôpxkaia rồi ban đêm, tuy chốc chốc lại bị ngất đi, nhưng cũng cố lết được đến tận Uxatôvô và ra mật hiệu: bốn đỏ một trắng.
Không chậm trễ được nữa, Secnôivanenkô chạy tới “Góc đỏ” đào chìa khóa lên và mở tủ két ra. Ở đấy có tất cả giấy tờ và đồ vật giá trị của Ban chấp hành khu và thẻ cá nhân của tất cả mọi người công tác bí mật trong đó có thẻ của Pêchya Batsây và Valentin Pêrêpêlitxkaia, với tất cả thẻ Đảng và Đoàn, các huân chương, các sổ sách khen thưởng và giấy thông hành, tất cả đều được sắp xếp trong hộp các-tông có đánh số, hết sức ngăn nắp. Trong tủ két, chỉ có ba huân chương: một huân chương Cờ đỏ, huân chương quân sự cũ của Xiniskin đã gửi cho Secnôivanenkô đêm hôm dọn xuống hầm mộ, một huân chương Cờ đỏ Lao động của Xêrafim Tulyakôp và một huy chương Danh dự của Xecgây Xecghêiêvich đã chết, bọc trong một tờ giấy có ghi ngày mất của anh. Còn một huân chương về Dũng cảm lao động của Liônya Ximban nữa. Các huân chương và huy chương chiếm rất ít chỗ, vẻn vẹn trong một cái hộp con màu đỏ. Cùng với các cuốn sổ khen thưởng, có quyển nhật ký hoạt động, trong đó Secnôivanenkô và Xtrenbixki đã ghi lại cẩn thận các lần xuất kích, các biên bản dày đặc các kỳ họp của ban thường vụ, con dấu và tiền quỹ của Đảng. Ngoài vài nghìn rúp tiền giấy, còn có năm đồng năm rúp tiền vàng. Chỉ Secnôivanenkô mới có quyền mở tủ két và ngoài ông ra là đồng chí bí thư thứ hai Xtrenbixki. Trong ngăn tủ dưới, thường xuyên có để một gói thuốc nổ một ki-lô và vài hạt nổ để bất kỳ lúc nào cũng có thể kịp thời cho nổ phá hết các thứ đựng trong tủ, trong trường hợp khẩn thiết khi tài liệu và các đồ vật giá trị có cơ rơi vào tay địch.
Secnôivanenkô cất hết vào tủ các tài liệu tìm thấy trong người Xiniskin, ghi nhanh vào sổ nhật ký trường hợp bác đến doanh trại, rồi lấy trong số dự trữ đặc biệt không được đụng tới một lọ xuynfidin, một trong những thứ quý nhất của ông.
Trong hơn mười ngày, suy nhược nhưng dù sao cũng còn khỏe, tấm thân già của Xiniskin vật lộn với cái chết. Bên cạnh bác, luôn luôn có các chị thường trực săn sóc. Nhiệt độ của bác luôn luôn ở một mức đáng sợ. Nó lên tới bốn mươi độ và không bao giờ xuống dưới ba mươi tám. Lúc đầu họ sợ bác bị nhiễm trùng. May sao, không việc gì. Vết thương mặc dù cứ chảy mủ nhưng dần dần cũng thành sẹo. Họ tưởng không thể nào lấy được viên đạn ra vì không có bác sĩ giải phẫu cũng như không có bệnh viện. Nguy hiểm nhất là tình trạng chung của người bệnh. Người ta nghĩ chắc đó là giai đoạn đầu của viêm phổi. Hy vọng duy nhất đặt cả vào thuốc xuynfidin. Liđya Ivanôpna, trước có theo học lớp y tá hai tháng, và Raitxa, vốn là con gái thầy thuốc nên có biết chút ít thuốc men, không rời khỏi một bước chiếc giường đá của Xiniskin.