Mới đầu, công việc làm ăn của Kôletnisuc khá phát đạt. Ông có một tờ chứng chỉ “tốt“, chính quyền chiếm đóng không nghi ngờ gì về ông cả. Ông là một kế toán viên, không đảng phái, ở Glapsai, con một gia đình tiểu tư sản ở Ôđetxa, nhân viên chào hàng của hãng tơ lụa Pơtasnikôp nổi tiếng. Nghĩa là ông được coi như có tài buôn bán. Người ta cho phép ông mở ngôi hàng “Jorjơ“, J. N. Kôletnisuc, chủ nhân, không gây khó khăn gì.
Nhiệm vụ Secnôivanenkô giao cho Kôletnisuc, trước hết là dùng hiệu đồ cũ “Jorjơ” làm trạm liên lạc, hai là Kôletnisuc, trưởng trạm, thu lượm cho Secnôivanenkô những tin tức cần thiết, và ba là với tư cách chủ hiệu, nạp toàn bộ lời lãi vào quỹ ban Chấp hành bí mật khu.
Tất cả những công việc đó rất phức tạp và nguy hiểm. Nhưng Kôletnisuc như không để ý đến những mối nguy hiểm đang luôn luôn đe dọa ông. Ông hoàn thành trung thực nhiệm vụ đối với Tổ quốc cũng đơn giản và khiêm tốn như khi ông làm kế toán trong cơ quan Nhà nước ở Glapsai trước thời kỳ phát-xít chiếm đóng. Thậm chí có lẽ hiện nay, ông còn có vẻ bình tĩnh hơn, ít ra đó là theo bề ngoài. Công việc của ông, biết đánh giá thế nào nếu không gọi là anh dũng?
Ông không thể nào quen được với nghề buôn bán “riêng lẻ” bị khinh miệt này. Nhưng ông biết ông phải nhận cái việc nhục nhã đó là vì nghĩa cả. Ông đã hứa với Secnôivanenkô và đưa hết tâm sức mình để kinh doanh thật tốt.
Nhưng ông không biết buôn bán, mặc dù đã cố hết sức học hỏi cái khoa học không lấy gì làm phức tạp lắm đó. Từ nhỏ, ông vẫn khinh ghét bọn con buôn. Chính việc phải trở thành con buôn đã làm ông luôn luôn bực bội. Không thể nào buôn bán phát đạt và kiếm được lời lãi nếu không lừa đảo, nếu không dùng đến cái tài xoay vặt hàng ngày, mà việc đó thì ông không thể nào làm được, vả lại, tất cả không phải mỗi lúc đã thấy rõ ngay, mà mãi khoảng chừng một năm, sau khi chăng tấm vải xanh lên trước cửa hiệu mang dòng chữ nhục nhã: “Cửa hàng tầm tầm Jorjơ, J. N. Kôletnisuc, chủ nhân”.
Mấy tháng đầu, mọi việc đều trôi chảy, nhưng không phải do tài buôn bán của Kôletnisuc. Đó là nhờ Secnôivanenkô đã cung cấp cho cửa hàng những hàng hóa thông dụng mà Kôletnisuc đem bán với giá rất rẻ nên cửa hàng sớm trở thành một hiệu đồ cũ đông khách nhất, không những chỉ trong phố Ribát, mà còn ở tất cả tỉnh “Trannixtri“ và đến cả bên kia biên giới, ở Akecman, ở Kisinep, và thậm chí, theo người ta nói, ở cả Jatxy nữa.
Khách hàng thật đuổi đi không hết. Bán chạy nhất là những tấm hàng dệt kim của Lêningrat để may nam phục. Nói thật ra thì tất cả việc buôn bán của Kôletnisuc đều dựa vào thứ hàng Lêningrat đó mà ông đã đem bán đổ bán tháo. Xe đạp Khackôp và máy ảnh “FED” cũng bản chạy không kém. Kôletnisuc đắc chí một cách ngây thơ, nghĩ rằng thắng lợi đó là do tài buôn bán của mình.
“Ồ kể ra ta cũng có tài buôn bán đấy chứ!” ông nghĩ thầm và không khỏi có phần ngạc nhiên.
Trong quỹ, những đồng mác chất đống lên và thậm chí còn có cả vài trăm đồng mác quốc xã loại chiếm đóng nữa. Ông xếp cẩn thận tất cả vào két sắt. Ông khoái trá nghĩ tới khi Secnôivanenkô hỏi đến tiền và ông sắp tiền lên mặt quầy hàng ra vẻ đắc thắng. Ông hình dung Secnôivanenkô phải lóa mắt xiết bao trước kết quả buôn bán của ông.
Thời gian đầu, Secnôivanenkô không xuất đầu lộ diện.
Người ta chỉ biết được tin ông qua những cột báo nhỏ nói về hoạt động của một nhóm du kích bí mật nấp dưới hầm mộ Uxatôvô. Kôletnisuc thỉnh thoảng đọc thấy trong tờ báo Ôđetxa xuất bản bằng tiếng Nga.
Trong thời kỳ phồn vinh ngắn ngủi của cửa hiệu, Kôletnisuc đã cố gắng làm ra vẻ một nhà kinh doanh đạo mạo, chững chạc. Từ lúc còn bé cho đến mãi sau này, ông nhớ mãi bộ dạng tay cửa hàng trưởng của hãng Pơtasnikôp đâu tên là Prơjêvenxki, một tên Ba-lan rất đường bệ ăn mặc đỏm đáng lại lịch thiệp, làm chết mệt tất cả các bà khách đứng đắn của nhà hàng. Cái áo jaket, cái quần may đo, chiếc ca-vát cài thêm viên ngọc “mắt công“ cái áo ngoài mùa thu gấu xòe, chiếc mũ quả dưa, bộ ria vênh ngược và, cuối cùng, cái giọng trầm trầm ngọt lịm phát âm vô cùng cung kính những tiếng “thưa bà” và “thưa ông”, tất cả những cái đó xem như là đỉnh cao của sự thanh lịch nam giới. Hiện nay, để ngụy trang tốt hơn, Kôletnisuc đang cố tạo cho mình cái bề ngoài của tay Prơjêvenxki. Ông đã kiếm được ở chợ một chiếc áo dạ gấu xòe mùa thu, giống như áo của Projêvenxki (có lẽ chính áo của Prơjêvenxki cũng nên!) rồi cố chọn trong số mũ quả dưa tồn kho một chiếc không cũ quá và cuối cùng ông nuôi râu mép. Râu mép của ông vốn màu xám nhưng không biết tại sao lại ngả thành màu xám nâu. Nó có thể là ria của một ông già Zapôrôgơ hay của một người vận tải muối từ Pêrêkôp đến Pôntaya. Kôletnisuc bèn mua một lọ thuốc nhuộm tóc Đrexđơ chính hiệu và nhuộm bộ râu Zapôrôgơ, thế là nó trở nên đen nhánh. Ông vuốt sáp và xoắn vểnh nó lên. Gương mặt ông do đó có một vẻ kỳ quái, gian ác khó tả, nhưng đồng thời lại ngây ngô non choẹt và có vẻ dút dát. Ông không tìm được cái jaket nào và cái quần nào vừa ý cả. Nhưng trong đống đồ tập tàng của cửa hiệu, ông cũng kiếm được mấy tá cổ cồn và yếm sơ-mi, nên cuối cùng Kôletnisuc tuy không giống hẳn được Prơjêvenxki nhưng cũng không khác xa lắm.
Tuy bận rộn với những công việc bực mình đó, Kôletnisuc vẫn không phút nào quên Raitxa Lvôpna. Đây là lần đầu tiên trong đời, ông phải sống một mình, xa vợ. Không có vợ, ông cảm thấy hết sức cô đơn, buồn bã; ông ngậm ngùi lo lắng cho số phận nhất là những buổi tối, khi chỉ có một mình trong gian buồng bẩn thỉu, vắng vẻ. Có lúc, ông đã định bỏ mặc tất cả, trốn khỏi cái cửa hàng tầm tầm ghê tởm này, với chiếc áo gấu xòe, cái mũ quả dưa, bộ râu mép lố bịch và cả bản thân ông nữa. Nhưng ông biết là ông đang làm nhiệm vụ chiến đấu nên lại cố hết sức làm việc.