Đến bữa cơm chiều, khi tay chỉ huy công trường đang quạt bộ mặt mồ hôi bằng cái mũ rơm, ra lệnh nghỉ, Xtrenbixki lại gần y và xin phép nghỉ vài phút để đi thăm một người gác quen. Tay chỉ huy công trường nhìn anh từ đầu đến chân. Xtrenbixki cố làm ra vẻ khiêm tốn và nói thật lễ phép, lấy giọng dịu dàng, chậm chạp của một công nhân bốc vác cũ vùng Hắc-hải, nên đã gây được cảm tình với người tiếp chuyện. Lúc này anh giống hệt một công nhân bốc vác cũ quê ở Ôđetxa, người to lớn, mình trần đến tận thắt lưng, vai vắt một cái bao, bắp thịt cuồn cuộn như một pho tượng, hai ống quần bạc màu xắn cao, chân mang giày vải, đầu cạo nhẵn bóng, lông mày rậm lấm tấm mồ hôi, mắt nhìn tối om, quai hàm bạnh ra treo vào tai như một miếng sắt móng ngựa. Có lẽ chỉ có nước da trắng không tự nhiên lắm vì chưa kịp sạm là còn có vẻ kỳ lạ. Nhưng cũng có thể là người đã bị tù và mới được thả ra.
— Thế nào, mày muốn gì? — tay chỉ huy công trường hỏi khá thô lỗ.
— Ông cho phép tôi đi khoảng mười lăm phút — Xtrenbixki nhắc lại hết sức lễ phép, cố không nhìn vào cái mõm nhỏ lấm chấm, có bộ ria nâu cắt tỉa bé tí của tay chỉ huy mà cũng không nhìn cái mũi bé tí đủ màu của hắn.
— Mày tới đây làm gì? Làm việc hay định giở trò? — Tay chỉ huy quắc mắt hét to — Nếu để làm việc, thì phải làm, còn nếu muốn nhởn nhơ thì tới phố Ribat! Hay tốt hơn nữa, tới thẳng Xlôbôtka, tới “Cortea Mar-ziale”, ở đấy người ta sẽ dạy cho mà phá hoại! Thế nào, sao mày đứng đực ra đấy? Mày khinh tao chứ? Mày là thằng nào? Một tên Hồng quân đào ngũ chứ?
Xtrenbixki khẽ nhún đôi vai rộng.
— Tao biết mà — tay chỉ huy công trường nói — Người ta chuyển đến cho tao đủ mọi loại khố rách, và bắt tao phải chịu trách nhiệm. Đấy, mày ngắm xem — Y giơ bàn tay về phía những công nhân đang ăn — người như vậy mà gọi là vàng đấy! Có thể xây dựng được cái gì với chúng không? Đã xây dựng một năm nay rồi đấy. Và ai sẽ bị bắn vỡ đầu? Tao chứ còn ai nữa!
Y lại như vô tình nhìn Xtrenbixki. Bốn mắt gặp nhau và Xtrebinxki thấy hình như trong mắt tay chỉ huy bỗng ánh lên một tia sáng đồng tình.
— Thế nào, mày định đi đâu? — Tay chỉ huy hỏi.
— Tôi có một người bạn làm việc ở cảng đây. Tôi muốn tìm anh ta, và chắc thế nào cũng tìm được.
— Tên hắn là gì?
— Iakôplep.
— Đúng, có một thằng tên là Iakôplep gác ở kho số 6. Nó là thế nào với mày, bố vợ hay là anh?
— Dạ là bạn — Xtrenbixki đáp, cúi đầu xuống và lấy chân đá một hòn sỏi lớn, bằng thứ trực giác tinh vi của những người hoạt động bí mật, anh bắt đầu thấy giữa anh và tay chỉ huy công trường đang diễn ra một trò đấu trí, trong đó mỗi lời nói đều có một ý nghĩa bí mật — Ông cho phép tôi đi tới đấy.
— Được, đi đi. Nhưng đừng có giở trò với tao. Không được tìm cách chuồn đấy! — Tay chỉ huy nói, giơ ngón tay lên dọa anh — Khoan đã, chờ tao viết cho một tờ công lệnh để người ta cho mày đi. Tốt hơn nữa, vác lấy một cái cọc, nếu ai hỏi đi đâu thì nói là ông chỉ huy công trường bảo đi đổi cột. Nhưng đừng đi rong trên khu cảng đấy!
Xtrenbixki vác cái cọc lên vai đi tìm kho 6, tin rằng lệnh của tay chỉ huy công trường cấm đi rong trên khu cảng có nghĩa là tha hồ đi. Anh tìm thấy kho 6 rất dễ dàng và nhận ra Iakôplep ngay, hay đúng hơn anh đã nhận ra được nhờ những ám hiệu quy định trước, vì cả đời anh chưa bao giờ thấy anh ta. Anh gác kho Iakôplep đang ngồi ở chân tường đá nhà kho, mình mặc một cái pơ-lit ngắn đã xổ lông, không có tay, sát vào da. Sau khi dựa khẩu súng trường vào tường, anh ta đang chăm chú rắc muối đựng trong một mảnh giẻ lên một bắp ngô và sắp sửa ăn sáng. Xtrenbixki nhận ra anh ta chính là nhờ cái áo bông ngắn đã sờn.
— Chúc anh ăn ngon! — anh vừa nói, vừa đặt cái cọc xuống đất.
— Cám ơn. Đi đi — Người gác kho nghiêm khắc nói — Triệt để cấm đứng lại.
— Anh có phải là Iakôplep không?
— Phải Iakôplep — Anh cần gì?
— Xôfya Pêtrôpna gửi lời chào anh...
— Ngồi xuống đây — Iakôplep nói, lấy tà áo bông lau một chỗ bên cạnh — Anh ăn ngô không?
Xtrenbixki ngồi xuống.
— Ai lại từ chối...
Iakôplep bé một bắp ngô dài, dẻo, rắc muối rồi đưa cho Xtrenbixki nửa ngon, phần “non” hơn.
— Mời anh ăn.
Xtrenbixki đang đói. Anh thích thú cạp vào cái bắp ngô hơi chắc, nhả những hạt cứng như gỗ nhưng đồng thời ngọt và nhiều sữa. Nửa bắp ngô để trong lòng bàn tay đen đen đã cho Xtrenbixki biết, hơn bất cứ một ám hiệu nào. Hai người lặng lẽ ngồi nhai như đã quen nhau từ lâu. Mặt trời nóng bỏng gần như ở ngay trên đỉnh đầu và hai cái bóng lẫn vào nhau ngả xuống mặt đường đá sáng loáng, dày, rõ như vẽ bằng mực tím.
— Anh bạn Xôfya Pêtrôpna gửi lời chào tôi à — Iakôplep cuối cùng nói, quẳng phần ngô còn lại cho chim bồ câu.
— Phải, phải — Xtrenbixki nói, gật đầu và vẫn tiếp tục nhai.
— Tôi, thì lại mong có tin của Gayrin Xêmiônôvích — Iakôplep nheo mắt nói một cách tế nhị.
— Tất nhiên rồi — Xtrenbixki đáp, nghiêm khắc nhìn vào bộ mặt ngây ngô có đôi mắt xanh biếc, bị đậu mùa rỗ chằng rỗ chịt.
— Còn anh là ai? — Iakôplep hỏi — Nom anh quen quen. Có phải trước chiến tranh anh đã làm việc sáu năm trong ban Chấp hành khu phố vận tải đường biển không?
— Cái đó không quan trọng — Xtrenbixki nói.
— Vậy là tôi biết anh — Iakôplep mỉm cười, nói — Đầu tiên tôi không nhận ra, nhưng bây giờ tôi thấy đúng anh là Platôn Ivanôvich Xtrenbixki phải không?
Xtrenbixki tối sầm mặt xuống.
— Được — Iakôplep nói tiếp, hiền hậu — ... Không sao ... vậy thì anh không phải là đồng chí Xtrenbixki nữa. Chúng tôi đã đợi anh đã lâu. Mấy hôm nay, có người gọi tôi đến cửa hàng “Jorjơ“ và yêu cầu tôi chuẩn bị gì đó cho anh.
Ngay lúc đó, một đội lính Rumani đi qua, có một tên sĩ quan đi theo chắc là đổi gác. Xtrenbixki định nhích xa Iakôplep và đứng lên, nhưng Iakôplep đã cầm lấy tay anh kéo lại.
— Cứ ngồi yên! Để cho chúng đi qua! Anh tưởng chúng hiểu gì sao?
Bọn lính uể oải đi qua, không bước đều, lết những đôi giày khổng lồ trên mặt đường, và biến mất ở một khúc đường ngoẹo.
— Chúng chẳng hiểu gì là gì cả — Iakôplep nói vẻ khinh bỉ. — Thật thế, khi nào chúng ta giẫm thật mạnh lên đuôi chúng, lúc ấy, họa chăng chúng mới bắt đầu biết lờ mờ đôi tí. Hừ, kẻ chinh phục! — anh tiếp thêm và khạc nhổ ra ý bực bõ. — Này — anh dịu xuống nói — có khoảng gần hai mươi người của ta làm việc ở đây. Tôi chỉ tính những người có chân trong tổ chức đồng chí Secnôivanenkô mà tôi đã liên lạc trực tiếp. Có thể tin là còn nhiêu người thuộc các tổ chức khác, nhưng cho đến bây giờ, chúng tôi không liên lạc với họ. Như mục tiêu đồng chí Secnôivanenkô vạch cho chúng tôi, trước hết phải phá hoại việc vận chuyển, tôi đã truyền đạt lệnh đó đến anh em; mọi người đã viện cớ này cớ khác để được thuyên chuyển đến các ac-ten công nhân bốc vác và các xưởng sửa chữa ghi xe lửa.
— Đúng — Xtrenbixki nói.
— Vậy anh có thể tìm gặp tất cả hoặc ở trên bến dầu hỏa, ở chỗ sửa chữa ghi tàu hỏa, hoặc đâu đó trong số công nhân bốc vác ở đập chặn sóng Pôtapôpxki hay ở đập Anđrôtxôpxki. Tôi tin chắc có hai người của các anh làm việc ở đấy rồi. Cá nhân tôi biết một trong hai người, đó là Lêônit Mirônôvich Ximban. Còn người kia hình như là Xerafim Ivanovich Tulyakôp, nhưng tôi không chắc lắm. Có thể không phải anh ta. Qua tất cả cái đó, thấy rõ là Secnôivanenkô đã nhúng tay khá sâu vào bến cảng. Bây giờ, công việc chắc phải chạy đều lắm rồi... Còn anh cắm ở đâu, Platôn Ivanôvich? Nom anh vác cọc, chắc anh ở chỗ công trường xây dựng vành ngoài đập chắn sóng Platônôpxki. Nhưng anh có biết tôi sắp nói với anh gì không? Anh chui vào đó là mất công không. Ở đấy, mọi việc tiến hành rất chu đáo. Tố chức chặt lắm. — Iakôplep tròn xoe đôi mắt ngây thơ, xanh biếc và mỉm cười —... Tôi không thể nói chính xác với anh tổ chức nào đang hoạt động ở đấy, vì bản thân tôi cũng không biết. Nhưng tôi nghĩ chắc chắn là người của đồng chí Đrujinin. Đã mười tháng nay, tôi theo dõi họ mà họ vẫn ở một chỗ. Phải, chắc chắn đó là công tác của đồng chí Đrujinin. Đã lâu lắm, tôi không thấy vụ phá hoại nào khéo thế. Có phải Limônôp đã khuyên anh vác cọc không?
— Limônôp là ai thế?
— Sao, Limônôp là tay chỉ huy công trường chứ ai. Một người rất thông minh! Hắn làm việc có kế hoạch và rất khôn khéo. Đối với anh, cái cọc, cũng như một tờ thông hành. Nếu anh vác trên vai một cái cọc, tức là anh đi làm việc. Anh có thể dạo khắp khu cảng, không ai ngăn cấm anh cả. Anh có thấy họ đã hợp lý hóa công việc ở công trường như thế nào không? Thế mới thật gọi là làm! Và điều hay nhất là ngay dưới mũi bọn “capitania“. Thật là một tay dũng cảm. Nhưng tôi không thể hiểu được anh ta hành động theo lệnh ai: Đrujinin hay tự bản thân anh ta?
— Anh chắc thế à? — Xtrenbixki hỏi.
— Đúng, không phải nghi ngờ gì nữa! Mười tháng xây dựng mà đến tận bây giờ, lạy Chúa, vừa được đúng mười lăm mét đồ bỏ. Anh hùng thật!
Thế là đối với Xtrenbixki, tất cả thái độ của viên chỉ huy hay la ó đã hoàn toàn sáng tỏ: những tiếng hò hét thô tục, những giờ “nghỉ giải lao”, cách chạy ngược chạy xuôi công trường, cuối cùng là vẻ mặt bừng bừng đẫm mồ hôi, như quả quyết tuyệt vọng đồng thời như khiếp sợ kín đáo, y hệt một người chạy trên một mảnh ván hẹp bắc qua vực thẳm, tự mình cũng sợ cả sự táo bạo của mình.
— Bây giờ còn điều này nữa — Iakôplep nói, hạ thấp giọng xuống một tí. — Đêm hôm qua, có chiếc tầu Kecđinăng của bọn nó, chở đạn được cho mặt trận, ở Kônxtanza tới. Sáng nay, Marya Trofimova Xayitxkaia, thư ký đánh máy của ban giám đốc cảng, đã tới chỗ tôi: chắc anh cũng biết cô ấy, cũng là người của ta, làm nhiệm vụ do đồng chí Secnôivanenkô giao. Chúng sắp dỡ hàng trên tàu xuống ở đập chắn sóng Pôtapôpxki rồi nó sẽ chạy tới cảng Bốn mươi để xếp lương thực. Khi dỡ hàng, ta sẽ không làm gì được vì Matriôna Trôíimôva cho biết quân lính sẽ đảm nhiệm việc chuyển đạn dược từ tàu thủy sang các toa xe lửa, nhưng phải mau chóng cho người của ta đến chỗ xếp lúa lên tàu. Anh cho biết mệnh lệnh?
— Phải gọi những người bẻ ghi ở đập Pôtapôpxki tới. Ta có ai ở đấy? — Xtrenbixki nói nhanh.
— Chúng ta chỉ có một người bé ghi ở đấy, ông già Juôcbaienkô. Tôi đã triệu tập ông ta vào bảy giờ tối này, toán của ông ta tan tầm lúc sáu giờ.
— Được, tôi sẽ nói chuyện với ông ta. Còn thợ toa xe, ta có bao nhiêu người
— Không ít: bốn người. Makôgônôp, Vecbitxky, Iêjôp và Ôpanatxenkô.
— Tất cả đều có danh sách ở chỗ chúng ta chứ?
— Tất cả: Makôgônôp và Iêjôp do tôi, Vecbitxky và Ôpanatxenkô do đồng chí Xiniskin Jêleznư, đó là cán bộ của đồng chí ấy.
— Họ có liên lạc với nhau không?
— Có, do tôi làm trung gian.
— Tốt. Triệu tập một người trong bọn họ đến vào lúc quá bảy giờ. Tôi sẽ giao nhiệm vụ cho họ. Khi nào chúng chuyển đạn được sang các toa và khi nào các đoàn tàu thành lập, cần ghi vào một số toa: “phải sửa chữa”. Không phải tất cả, nhưng một vài toa. Hai, ba thôi, không hơn, để khỏi gây ngờ vực. Để cho chúng cắt ra rồi ta sẽ liệu... Đạn gì thế? Marya Trôfimôva không nói với anh sao?
— Bom, đạn súng trường, mìn.
Xtrenbixki cau trán, cố nhớ lại cách bố trí các đường sắt giữa đập Pôtapôpxki với bến bốc hàng lên tàu. Rồi anh nói:
— Giá ta đưa được tất cả vào con đường cụt của bể chứa dầu hỏa, rồi chặn ghi lại, lối vào đường cụt cái đầu máy, mở hết tốc lực, bên cạnh có sẵn dầu hỏa, ét-xăng, thì thật là tuyệt!
— Phải, thế thì còn phải nói — Iakôplep tán thành.
— Cần phải nghiên cứu kỹ chuyện đó. Dù sao, cũng triệu tập cho tôi một người thợ toa xe sau bảy giờ. Tôi sẽ ở lại cảng đêm nay.
— Nhất định phải thế. Ai không lười biếng thì ở lại đây đêm nay! Nhất là những người làm việc buổi sáng. Anh cứ xin phép Limônôp, anh ấy sẽ cho ngay. Tay ấy tinh lắm.
— Vậy hành động đi nhá — Xtrenbixki nói.
— Xin tuân lệnh! — Iakôplep đáp, như một người lính và đứng lên.
— Nhớ những người bẻ ghi và thợ toa xe đấy... Thôi, tôi đi đây.
Xtrenbixki sửa lại cái bao, rồi vác cái cọc lên vai.
— Chúc anh may mắn! — Iakôplep nói — Tôi còn ở lại đây một lúc. Gác những của ăn cướp.
Một nụ cười buồn bã ánh lên trong đôi mắt trẻ con xanh biếc.
— Thực tế, anh gác những gì? — Xtrenbixki hỏi.
— Thóc. Lúa mì. Mười nghìn pút lúa mì Ukren ăn cướp được. Tôi trông rất cẩn thận nhưng Chúa không mưa cho.
— Tại sao mưa?
— Tại sao ư? Vì tôi đã đóng tất cả các ống máng đứng lại để cho nước đáng lẽ chảy xuống sân lại đổ lên mái kho, lên lúa mì ăn cướp — Iakôplep nói, mắt quắc lên nom rất dữ tợn đến đỗi nước mắt trào ra. Anh lấy vạt chiếc áo bông tàng lau nước mắt — Tất cả thóc lúa chắc chắn phải mục ra. Tôi gác là vì lương tâm — Và thấy Xtrenbixki hiếng mắt nhìn vào cái hố đựng cát biển trắng, ở chỗ tường kho, anh nói thêm — Anh tưởng đó là cát để cho bật lửa đấy à? Có thể. Nhưng ít nhất ngày nào cũng có người đến gặp tôi vì thứ cát ấy đấy, ba, bốn người một, để luôn luôn có sẵn một ít trong túi, lúc cần thì bỏ vào đầu trục. Một thứ cát kỳ diệu. Các đầu trục cứ chảy ra như nến. Hay anh cũng lấy một ít phòng lúc cần?
Và sau khi đã bỏ vào túi một nắm cát kỳ diệu đó, Xtrenbixki quay lại công trường xây dựng, chỗ tay chỉ huy Limônôp đang vung tập hóa đơn và chứng từ chạy ngược chạy xuôi quát tháo ầm ĩ.
— Đứa nào làm thế này! Đồ phá hoại! Đồ lười biếng! Đồ Bônsêvich!
Đó là một đêm cuối tháng tám, ngột ngạt, giữa khoảng gió đêm và gió sáng, khi cả trong thành phố lẫn trên mặt biển không khí không chút chuyển động. Mặt biển im lìm và tối đến nỗi không có ánh sao không ai biết là có biển.