Chắc Pêchya không nhớ là một ngọn sóng dài đã dâng thuyền lên và nhẹ nhàng đặt chú lên bãi cát như thế nào. Sau này, không bao giờ chú có thể hiểu được tại sao mình bỗng nằm dài trên một tấm phản thường thấy ở nông thôn, sau một cái bếp lò, trong một căn lều thuyền chài.
Khi được nghe kể lại nhưng chuyện ấy đã xảy ra như thế nào, chú không thể tin được rằng chính mình đã vịn vai Valentin bước ra khỏi thuyền và trèo lên một con đường mòn hẹp và một đường bậc thang đất sét. Tất cả những việc ấy, chú đã làm không có chút ý thức nào, như một cái máy. Pêchya được biết là quả bom đã rơi gần tàu nhưng không làm hư hại đến tàu.
Sức nổ của nó đã hất xuống biển một số hành khách trong đó có chú.
Hai người, bị choáng, chết ngay. Người thứ ba, bơi giỏi, được người ta ném cho một đầu dây thừng và kéo lên. Pêchya được một trong những thuyền của ngư trang “Pêtren” cử đi cấp cứu — khi ở trên bờ trông thấy con tàu bị bốc cháy — vớt được. Người ta đã dập được đám cháy và con tàu đã tiếp tục cuộc hành trình.
Và thế là bây giờ Pêchya cứ nằm dài, đầu óc nặng trĩu, mất hết ý thức về thời gian, mê man, chỉ còn nhận thức được một cách khó nhọc là mình có lúc mê lúc tỉnh và có những người, những vật, những mùi vị xa lạ hiện ra rồi lại biến mất. Hiện ra nhiều nhất trước mắt chú là một quả cầu nhỏ ở ngăn trên cùng của một cái giá tre, với cái khung gỗ có khảm xà cừ. Quả cầu và cái giá kia mâu thuẫn kỳ lạ với cái bếp lò nông thôn bằng đất nung, với những lỗ tò vò thông hơi trên mái, cũng như với những nắm cỏ và hoa khô treo trên những bức tường nông thôn quét vôi trắng. Nhà có hai lỗ tò vò nằm chênh chếch ở phía trên chú, ngày đêm phản ảnh lại cái sáng tối kế tiếp nhau đều đặn, chán ngắt. Những buổi chiều tà đỏ rực của đồng cỏ nhường chỗ cho những đêm sao tang tóc. Có lần, một vành trăng thu muộn mằn xuất hiện và trôi qua. Lúc đầu trăng nhìn qua một lỗ tò vò, rồi liếc qua lỗ kia, mãi tận phía dưới. Có một vẻ gì láu cá, ranh ma trong đôi sừng mờ ảo của nó. Theo với trăng là tiếng sủa xa xăm, hay đúng hơn là tiếng rú lo âu của đàn chó thảo nguyên. Chú bé buồn bã mường tượng đến những con chó đang đứng sủa trăng trước cửa những ngôi nhà nông dân xa xa, mõm dài như mõm sói.
Đôi lúc, chú nghe thấy ngay bên chú, trong một góc, có tiếng cỏ khô sột soạt rờn rợn. Người ta ôm một ôm vào trong căn nhà nhỏ, vứt xuống sàn ngay bên bếp lò, và chỉ một thoảng sau, ảnh một ngọn lửa lớn đã múa nhảy chiếm lấy các mặt tường. Những làn sóng trong suốt của ánh sáng hồng lặng lẽ liếm lên giá sách nhỏ và quả cầu. Dưới ánh lửa, quả cầu lấp lánh như một hành tinh thật. Đó là trái đất đang bơi trong muôn ngàn lớp sóng của ánh sáng mặt trời. Có tiếng chân không bước trên nền đất sét. Bóng một cái đầu quen thuộc tiến ra giữa nhà. Có lúc nó to ra kinh khủng, nuốt chửng tất, có lúc nó bỗng bé lại và in lên bức tường hồng một bóng người rất rõ nét. Trên cái bóng, chú bé thấy nét mặt nhìn nghiêng của một cô gái trẻ măng, hầu như còn trẻ con, trán và mũi rất thẳng, cằm tròn, cổ nhỏ và thanh, trông vừa khỏe vừa dịu dàng. Chú để ý đến cả bóng hàng mi thanh cong. Bóng đôi tay thon thon xếp dọn xoong nồi nhảy múa trên tường hoặc hoa lên nhanh như chớp để vẩy vẩy cái nhiệt kế.
Pêchya biết cô ta tên là Valentin. Cái tên đó cứ được nhắc đi nhắc lại luôn. Đối với chú bé ốm, đó không phải chỉ đơn thuần một tên người. Nó bao gồm vô số vật và khái niệm.
Cột thủy ngân lên tới điểm bốn mươi, cái đường thẳng sâm sẫm và đe dọa trong chốc lát đã dâng lên đầy ống nhiệt kế, đó là Valentin. Bàn tay ram ráp và mát rượi đặt dưới cái gáy nóng bỏng của chú để nâng đầu chú lên và bón nước cho chú, cái vị nước mằn mặn, cái mép sứt mẻ của bình nước cũ kỹ, đó cũng là Valentin. Ngôi sao rung rinh trên khung kính thô, tiếng sủa lo âu của đàn chó thảo nguyên trong đêm khuya, tiếng gầm lồng lộn của chiến tranh đang mỗi lúc một tiến lại gần, và làm rung rinh những khung khảm xà cừ cùng quả cầu trên giá, tất cả những cái đó cũng đều là Valentin cả.
Ngoài Valentin, còn có bà mẹ cô nữa. Bà ít xuất hiện hơn. Trong trí tưởng tượng của chú bé ốm, bà ít nhiều gắn liền với tiếng rì rầm không dứt của biển cả. Đó là cái tiếng thu chậm lại của một lưỡi hái khổng lồ bằng thép đang lia trên hàng bao nhiêu cây số. Với một tiếng rào rào mỗi lúc một mạnh hơn, lưỡi hái ngày đêm lia đi lia lại không lúc nào dứt, dồn lên bờ từng lớp từng lớp sóng. Sóng vừa reo vừa nằm dài trên bãi cát, ở đâu đó, ngay gần đầu giường tối om, sau bức tường mỏng.
Thỉnh thoảng mẹ Valentin đi chân đất bước vào, mặc áo khoác ngắn đàn ông, tay cầm một giỏ mây tròn đựng đầy tôm con. Pêchya được biết những con tôm đó, người ta gọi là “khuyết”. Chúng nhảy trong cái giỏ ướt, tanh tách như những lò xo thép nhỏ, làm nước và cát bắn tí tách ra tứ phía. Bà mẹ nhấc cái cần câu trên tường, ngồi xuống sàn và bắt đầu móc những con tôm nhỏ vào, gọi là “mồi”. Ngón tay bà thoăn thoắt, chính xác lạ thường, nhanh như máy, như người đan áo kinh nghiệm. Nhưng đầu óc của bà lúc ấy chắc đang ở tận đâu xa. Trên khuôn mặt lặng ngắt hơi nhăn nhó của bà, dưới hai hàng lông mày nhíu lại, long lanh đôi mắt sắc sảo, như luôn luôn cảnh giác.
Bằng đôi mắt ấy, không phải bà chỉ có vẻ trông thấy một cái gì mênh mông, đáng sợ mà chú bé không trông thấy được, bà còn “lắng nghe” được tiếng nói huyền bí của đau thương. Lưỡi hái soàn soạt kia cứ liên tiếp rải ra những đợt sóng dài ghê gớm, và giữa mỗi đợt sóng, thế gian bỗng lặng ngắt như tờ, đến nỗi tim người ta bị đè xuống tưởng như sắp ngừng đập. Rồi lại bắt đầu mê man bất tỉnh.