Sáng sáng, mọi người trong hầm mộ, không có công tác, đều phải tập thể dục để được sảng khoái. Pêchya cố lẩn tránh. Nhưng không phải vô cớ mà Valentin được coi là cô bé gái yêu quý của Secnôivanenkô; cô thừa hưởng của bác cô một bản tính cương nghị và cứng cỏi. Cô không mảy may dễ dãi với Pêchya. Hơn tuổi chú, cô bắt chú tập thể dục hết sức nghiêm túc, bắt chú nằm dài trên sàn nhà, giơ hết chân này đến chân kia, điều mà Pêchya rất ghét. Bây giờ có rất nhiều việc trong buồng giấy của đồng chí bí thư thứ nhất. Không phải chỉ vá quần áo và thảo truyền đơn. Trên bàn hội họp, họ sản xuất giấy than bằng cách phủ lên giấy thường một lớp bột chì lấy ở bút chì ra. Mấy lâu nay, phải làm một công việc mới rất buồn tẻ: dùng tay quay một máy phát điện nhỏ để khởi động cái bình ắc-quy làm cho máy V.T.Đ. chạy. Muốn phát được mười lăm phút, phải quay mấy giờ liền cái máy phát điện khốn nạn ấy. Hễ người nào được nửa giờ rảnh là phải quay máy.
Khi còn bé tí, Pêchya đã đọc trong tờ Sự thật thiếu niên chuyện những nhà thám hiểm địa cực nổi tiếng, trên một núi băng trôi giạt, thay nhau quay một máy phát điện hàng giờ liền, để người hiệu thính viên có thể nghe trong bóng tối của đêm địa cực, qua hàng ngàn ki-lô-mét — mặc giá tuyết dông bão — tiếng nói của Tổ quốc chào mừng, tiếng chuông ngân lúc nửa đêm của chiếc đồng hồ trên tháp điện Kremlin và tiếng âm vang mạnh mẽ, mặc dù có nhỏ đi vì khoảng cách của bài Quốc tế ca. Chú hết sức phấn khởi, và cảm phục những người anh hùng ấy đã đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên vì vinh quang của Liên bang xô-viết. Nhưng chú không bao giờ hiểu được giá trị của những cố gắng hàng ngày, những cố gắng giản đơn, mệt nhọc về thể xác, và chắc là rất buồn tẻ mà họ đã phải chịu đựng. Nhưng bây giờ thì Pêchya đã hiểu việc đó khó khăn và mệt nhọc như thế nào rồi.
Nếu Pêchya không hiểu rõ là không có cái công việc mệt nhọc đó, máy V.T.Đ. sẽ không làm việc được, thì chú đã rời bỏ cái tay quay, vì nó làm bàn tay chú rộp lên và rớm máu. Nhưng Pêchya biết, buổi tối Xviatôxlap nhận tin; chú đã cùng với mọi người chờ đợi suốt ngày bản tin ấy, nên chú mắm môi quay, quay mãi, các bánh xe thiếu dầu cứ kêu kèn kẹt.
Khi nhận thấy chú đã quá mệt, Valentin liền trêu chú và chúng đuổi nhau qua các “buồng”. Lúc đầu, Pêchya giận dỗi thực sự, cố đuổi bắt cho kỳ được Valentin, để cho cô một trận đích đáng. Nhưng cơn cáu giận biến mất ngay, và một cuộc chạy đua cuồng loạn bắt đầu.
Chúng làm ầm ĩ khiếp quá! Bụi vôi cuồn cuộn trong hầm, đèn chong nhấp nháy, cát trên tường đổ xuống rào rào. Chúng nhảy cả lên các giường đá, ghế đá con, thậm chí có khi chúng nhảy cả lên bàn họp. Nhưng không ai nổi nóng với chúng cả. Với chúng, có thể tha thứ. Mọi người đều hiểu rằng không có những trò chơi quái quỉ vô cớ đó, chúng sẽ bị còm cõi vì bị nhốt kín mãi trong thế giới ngầm của hầm mộ.
Ngoài ra, như vậy chúng cũng nóng người lên. Khí hậu trong hầm mộ không bao giờ thay đổi, không quá thấp nhưng cũng không bao giờ hoàn toàn đủ ấm. Luôn luôn vẫn hơi thiếu nhiệt. Luôn luôn người ta bị một thứ bệnh sốt, kỳ lạ, âm ỉ như không có gì. Thế mà không ai chịu cởi áo ngoài ra cả. Nhưng áo ngoài, ẩm sì sì, cũng không cản nổi rét. Chính vì thế mà trẻ em hay ốm, điều đó không ai để ý tới. Nói một cách đơn giản, chúng thiếu ánh sáng ban ngày. Chúng đói mặt trời. Có lẽ những cuộc đuổi bắt đó đã thay được mặt trời ít nhiều làm cho máu chúng nóng lên và đôi má tái mét của chúng ửng đỏ.
Cuộc sống dưới đất là như vậy. Nhưng đã đến ngày hẹn gặp Xiniskin Jêleznư. Secnôivanenkô rất quan tâm đến cuộc gặp gỡ ấy. Ông tin chắc Xiniskin sẽ cung cấp được nhiều tin tức về tình hình, một bản danh sách những người tin cậy ở lại trên thành phố và có thể lập thành những nhóm chiến đấu bí mật, mỗi nhóm năm người. Dựa theo tình hình, cũng có thể cùng với Xiniskin đặt một kế hoạch công tác cho Ban chấp hành khu. Đi lên thành phố giữa ban ngày, không có những giấy tờ hợp lệ mà Ban chấp hành chưa xoay được, là một chuyện rất nguy hiểm. Nhưng Secnôivanenkô không thể yên tâm phái một nhân viên liên lạc đến trạm thường trực bí mật, ông đã quyết định đích thân lên thành phố. Kinh nghiệm công tác bí mật trước đây đã dạy cho ông là tất cả những tin tức bất kỳ từ đâu đến đều phải được tự mình kiểm tra lại.
Ông chuẩn bị rất cẩn thận cho cuộc xuất kích. Ông chú ý nhất đến bề ngoài. Ông đóng thử một vài “nhân vật”, một nông trang viên có tuổi mang giỏ đi chợ, một hương sư, và một người ăn mày. ông thử nhiều kiểu mũ, giày, quần áo, tất cả những gì sẵn có. Có những nhân vật rất đạt, nhất là ông hương sư già, nhưng không thể đóng được, vì nếu Secnôivanenkô bị bắt, ông sẽ phải khai tên và địa điểm nhà trường và bọn cảnh sát sẽ kiểm tra dễ dàng.
Cuối cùng, Secnôivanenkô quyết định đóng vai người thợ cả già từ xa đến kiếm việc làm. Áo bộ đội thủng, chân đi giày vải, lưng đeo túi cõng có cái búa thò ra ngoài, đầu đội mũ nông dân da cừu. Giấy tờ, người thợ già lấy cớ đã mất cùng với tay nải trong một trận bom, cứ cho là ở ga Uman đi. Chỉ còn mỗi một giấy chứng nhận do một xô-viết làng nào đó cấp, nơi ông làm việc ngày xưa, cứ nói là làm thợ nguội sửa chữa máy gặt. Loại giấy chứng nhận này, làm lấy được, không có gì khó khăn đặc biệt, vả lại, nó không ràng buộc gì, cũng không lôi thôi đến ai cả. Thách chúng cứ đi mà kiểm tra.
Chính trong bộ quần áo ấy, rất hợp với ông, Secnôivanenkô, một buổi sáng, đã ra khỏi hầm mộ và sau khi từ giã Xtrenbixki, người đã cùng với toán chặn hậu tiễn chân ông đến tận cửa cái khe nhỏ, ông đi thẳng về phía thành phố.
Trời ẩm ướt và rét. Một trận tuyết mềm rơi trên thảo nguyên vắng. Bà quen với bóng tối trong hầm, mắt Secnôivanenkô lâu mới thích ứng được với ánh sáng ban ngày. Cái ánh sáng này hình như chói lọi nhức nhối, còn những bông tuyết thì lóa cả mắt như những tia lửa máy hàn. Thực ra trời vừa mới sáng.
Khi đã quen với ánh sáng, Secnôivanenkô nhìn thấy ở đằng xa những đường viền rất quen thuộc của các công trình trên bến cảng và thành phố đang chìm đắm trong sương mù xanh nhạt một buổi xấu trời. Hiện giờ, ở đấy ra sao? Họ sống như thế nào? Họ nghĩ gì? Họ cảm thấy gì? Secnôivanenkô nóng lòng muốn thấy cái thành phố bị đày đọa ấy, thành phố quê hương thân yêu với những người dân khốn khổ của nó. Ông muốn chạy tới thấy tận mắt tất cả. Nhưng ông cố không rảo bước. Ông đi chậm lại và thậm chí còn đứng lại nhiều lần để gạt đất bám vào đôi giày bộ đội cũ bằng một mầu gỗ, y như ông định tìm thêm những màu sắc mới cho bức chân dung người thợ thủ công già, mệt nhọc, đói khát và cuốc bộ hàng chục, hàng trăm ki-lô-mét để tìm việc làm. Ông có cảm tưởng như chính mình là người thợ tưởng tượng ấy thật. Thậm chí dáng đi của ông cũng thay đổi; nó trở nên nặng nề hơn, cứng nhắc hơn như dáng đi của một người khách bộ hành đã quen với những chặng đường khó đi.
Tới nơi gọi là đồi Kôđôvaia, qua các vườn rau, ông đi xuống con đường Hatji-Bây. Ở đấy, có một chỗ đỗ tàu điện, một mái nhà bằng bê-tông hình bầu dục gác trên hai cái trụ bê-tông đầy vết đạn và mảnh bom. Những bộ phận bằng gỗ của chiếc ghế dài đã bị gẫy. Secnôivanenkô ngồi xuống cái trụ sắt vờ như để nghỉ chân.
Tất cả chung quanh đều bị tàn phá vì chiến tranh, những cần tàu điện quằn queo, những đường ray mất ốc, khắp nơi là những chiến hào, những hố bom, những cuộn dây thép gai gỉ. Trên những bãi rác, hàng đàn quạ. Secnôivanenkô đặt giả thiết ở lối vào thành phố gần Đầm nước mặn có một đồn kiểm soát, ông có thể đi sang Pêrexip băng qua những bãi rác, ở đây ông biết từng con đường mòn. Nhưng một bóng đen đơn độc dễ bị phát hiện trên một chỗ bằng phẳng, ông sẽ bị để ý và có vẻ khả nghi. Tốt hơn hết là đợi một chiếc xe của nông dân đi nhờ vào nội thành. Secnôivanenkô biết là bọn chức trách Rumani, bằng mọi cách đang khuyến khích nông dân mang sản phẩm ra chợ. Ông quyết định lợi dụng hoàn cảnh ấy.
Ông đợi một lúc lâu. Rõ ràng là nông dân không muốn bán sản phẩm tí nào. Cuối cùng ông nhìn thấy một cái xe trên đường. Hai người phụ nữ, một già một trẻ, ngồi dựa lưng vào nhau, đầu trùm bao tải ướt sũng nước mưa và tuyết. Những mũ không vành, trắng, mới tinh, hình tổ ong dưới cái bao tải, chỉ rõ là họ đi chợ. Secnôivanenkô đứng dậy, hai tay cất mũ, cung kính cúi chào. Nghi ngờ, hai người phụ nữ xoi mói nhìn ông.