Đường Hầm Ôđetxa

Lượt đọc: 261 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi
LỜI GIỚI THIỆU TẬP I - Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Chương 38 Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chương 67 Chương 68 Chương 69 Chương 70 Chương 71 Chương 72 Chương 73 Chương 74 Chương 75 Chương 76 Chương 77 Chương 78 Chương 79 Chương 80 TẬP II - Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Chương 38 Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chú thích
Tiến »
Chương 12

❊ ❊ ❊

Ngay từ đầu năm 1942, sau khi thấy rõ thái độ ác cảm không thể uốn nắn được của công nhân cảng đối với tất cả mọi công việc của chính quyền chiếm đóng và, không phải không có lý do, tình nghi mỗi công nhân là một du kích, hoặc cảm tình với du kích, ban giám đốc cảng đã áp dụng một loạt biện pháp chống lại sự phá hoại và các hành động lãn công để đập tan sự phản kháng của những người yêu nước xô-viết.

Tên giám đốc cảng, trong bản báo cáo ngày 30 tháng tư năm 1942, ngoài những vấn đề khác, nhân danh tên toàn quyền của cái gọi là Trannixtri, đã viết: “Chúng tôi không thể bảo đảm cho những cơ sở và máy móc để trong một khu vực rộng lớn như vậy, nếu chúng tôi không có đủ một số đơn vị bộ đội an ninh Rumani chuyên trách về nhiệm vụ này. Không thể lấy người canh gác trong đám dân thành phố...” Nhiều người lao động ở cảng, bị bắt giam vì tội phá hoại và bất tuân thượng lệnh, đã bị đưa đi các trại đặc biệt. Nhưng dù sao cũng không thể nhốt tất cả công nhân cảng vào tù và vào trại giam được. Lấy ai để làm việc? Ngoài ra cũng không thể đưa toàn bộ quân đội Rumani — không có việc đó nó cũng đã mệt mỏi và bị tiêu hao nhiều — vào làm việc trong cảng Ôđetxa khổng lồ và chỉ dùng nó để canh gác những của cải cướp được. Vậy ai sẽ đảm nhiệm vụ đóng đồn, bảo vệ đường giao thông liên lạc, giữ thành phố và giữ làng, cuối cùng tiến hành chiến tranh? Ở cảng, người ta cảm thấy rất nhiều công nhân. Người xô-viết không muốn làm việc cho bọn chiếm đóng và canh giữ chiến lợi phẩm ăn cướp. Nhưng bọn chiếm đóng không thể không dùng họ. Và tại cảng Ôđetxa đã diễn lại điều mà trong hàng nghìn nhà máy, công trường, nông trang tập thể, thành phố và làng mạc xô-viết bị phát-xít chiếm đóng đã xảy ra: bọn chiếm đóng không thể cai trị bằng lực lượng của chúng, mà bằng cách này hay cách khác phải nhờ đến nhân dân đang thù ghét chúng. Nó đã xảy đến cho bọn cướp nước điều không thể tránh được: chiến thắng thô bạo, bất công, trên một đất nước xa lạ và chiếm đoạt của cải người khác, chúng ngu ngốc tưởng mình là kẻ chiến thắng, không biết rằng người ta có thể tạm thời chiếm được lãnh thổ một nước, nhưng “chiếm” được một dân tộc và tâm hồn sinh động, bất tử của họ là một điều vô nghĩa. Nhân dân bị nhục mạ, bị cướp bóc, luôn luôn đứng lên đấu tranh chống lại bọn gọi là chiến thắng, và những kẻ chiến thắng đó nhanh chóng chuyển thành kẻ chiến bại và bị tiêu diệt trong một cuộc chiến đấu không ngang sức chống lại một dân tộc không ai thắng nổi.

Thế là, ở cảng Ôđetxa cũng như ở tất cả mọi nơi khác, đối với bọn xâm lược Rumani và Đức, chúng đã tự tạo nên một tình thế hết sức khó khăn và không có lối thoát.

Hàng loạt cáo thị dán khắp thành phố, kết thúc bằng những lời đe dọa trừng trị nghiêm khắc, ra lệnh cho công nhân bốc vác và nhân viên dưới tàu phải trở lại làm việc. Nhưng những mệnh lệnh của bọn chiếm đóng mặt biển và hải cảng rất ít hiệu lực. Tên toàn quyền “Trannixtri“ Alêcxêanu bèn công bố một bản mệnh lệnh về việc chống đối lao động bắt buộc, về những hình phạt phải đày và bỏ tù dài hạn đối với những trường hợp vi phạm mệnh lệnh, sở lao động gửi đi hàng nghìn giấy gọi trở lại làm việc ở cảng. Chúng lập ở cảng một sở capitania (Xiguranta đường biển) làm nhiệm vụ hiến binh. Quyền hành của bọn sĩ quan capitania không có giới hạn. Nhiệm vụ của chúng là trông coi nhân dân làm việc khổ sai ở cảng. Trong những điều kiện như vậy, rất dễ thâm nhập vào cảng. Chỉ cần có trong tay một mảnh giấy của sở lao động với một tờ thông hành, sở lao động cốt đưa được càng nhiều người lao động về cảng càng hay, đã phát và sẵn sàng gửi các giấy triệu tập, còn thông hành thì Xiniskin đã tổ chức, dưới hầm mộ, một phòng giấy thông hành với cả một lô con dấu cảnh sát khắc rất nghệ thuật trên lốp ô-tô.

Cầm những tài liệu này, các ủy viên ban chấp hành khu của Đảng thâm nhập vào cảng, ngay trước chòi canh ở các cửa ra vào, xen lẫn với đảm công dân bị động viên tới. Từ khi phân chia thành nhóm, họ đã cố tìm cách không ở cùng một khu vực và làm thợ phụ vài ngày trong các khu vực khác nhau của cảng, làm quen với mọi người, nghiên cứu nắm tình hình.

Trên cảng, hiện ra một quang cảnh rất lạ lùng, Đó là một sự hỗn hợp nặng nề và khó hiểu giữa đình trệ và hoạt động, giữa ồn ào và im lặng. Nhưng sự đình trệ và im lặng, có thể nói đã nuốt chửng, đã bí mật che giấu mọi tiếng ồn ào và mọi hành động. Các toa hàng lăn từ từ, nặng nề. Máy móc chất nặng rít lên the thé. Các đầu đệm đấm vào nhau và tiếng ầm ầm, chạy suốt dọc đoàn tàu, càng xa nghe càng nhỏ. Mặt đường đá rung rinh dưới những chiếc xe tải to tướng. Xa xa đâu đó, có tiếng rên rĩ, lanh lảnh của một đoạn đường ray bị quẳng xuống rồi nẩy lên. Cũng có tiếng người đồng thanh hò hét: “Từ từ! Coi chừng quay”. Và tiếng ken két yếu ớt, nhác nhớn của một trục tời trên tàu thủy. Nhưng tất cả những tiếng ồn ào đó hình như nhỏ quá, ngẫu nhiên quá, trong lòng một sự im lặng nặng nề, quá bao la như bản thân bến cảng.

Đôi khi giữa những đống hoang tàn trong các kho chứa hàng, trên những con đập chặn sóng, sạch sẽ và vắng vẻ như cửa nhà tù, có những người hiện ra. Họ đi chầm chậm, thành hàng dọc, vai vác một thanh gỗ dài hay cố đẩy một toa đen chở đá vụn. Một tên lính Rumani đi kèm theo họ, đầu đội mũ sừng, vai đeo một khẩu ca-ra-bin cũ kỹ, chân quấn xà-cạp bẩn thỉu và mang giày cao cổ bằng da sống — một người dân cày nào đó ở vùng Dobrutja — hai má đen cạo nham nhở, mũi buồn rười rượi làm cho người ở đằng xa cũng thấy rõ là hắn xấu hổ và buồn chết đi được.

Nhưng ngay cảnh hoạt động đó, nổi lên khi chỗ này, khi chỗ nọ của hải cảng, cũng không thể phá tan được cái cảm giác trì trệ và im lìm chung đang trùm lên toàn bộ khu bến mênh mông. Hải cảng như bị yểm bùa. Ngày tháng chín oi bức rực rỡ, mặt trời vô tình tàn nhẫn đốt nóng mặt đường xạm nắng lát đá trên đó đàn bồ câu của bến cảng lông đen nhánh, mỏ xinh xinh màu san hô, đang vừa gụ gụ vừa dạo chơi mổ những hạt ngô vàng.

Mặt nước xanh ban, lấp loáng những vệt dầu hỏa ngũ sắc, lúc dâng lúc rút rất khó nhận thấy gần những đường đập, ngấn bùn ở ven bờ vào những cột nhà sàn đầy cỏ. Ánh nắng vàng lăn xuống biển sâu xanh sáng, xuyên qua cái tản màu sữa của một con sứa có tua xanh dập dờn. Mặt biển sáng như gương lấp lánh phản chiếu thành vạch nóng ấm lên sườn những chiếc tàu Rumani chạy bằng hơi nước khiến chúng có vẻ như làm bằng một thứ cẩm thạch sinh động. Toàn bộ sực mùi mặn của rong biển thối, của tôm cua, của dầu máy. Đàn hải âu lượn vòng trên đôi cánh nghiêng nghiêng bất động, thỉnh thoảng lại sà xuống mổ một con cá chết trên mặt nước. Nhưng cả chúng cũng không thể phá tan được cảm giác trì trệ, vì động tác của chúng cũng nhẹ nhàng lướt chậm như trong một giấc mơ.

Chỉ ở phía bên kia đường chắn sóng, nơi mặt biển ánh lên xanh biếc thành một vạch thẫm rõ nét và nhìn xa cứ tưởng như im lìm, người ta mới đoán được sự chuyển động trường kỳ không mệt mỏi của không khí và sóng nước.

“Thế này mà cũng gọi là căn cứ chiến lược!” — Xtrenbixki nghĩ bụng. Cùng với những công dân bị động viên khác, anh quẳng trên vai xuống một cái xà dài; thanh gỗ vang lên một tiếng gọn vui tai, đập vào mặt đường nóng bỏng rồi nẩy lên. Đây là cái xà thứ hai mươi chuyển từ nhà kho đến phía con đường đập Platônôpxki. Viên chỉ huy công trường nói:

— Nghỉ giải lao!

Tất cả hai mươi cái xà, y đều nói “Nghỉ giải lao!” và những người khổ sai ngồi xuống nghỉ, buông thẳng chân dọc theo dẫy tường cao và lặng lẽ nhìn, xuyên qua làn nước, cái đuôi màu hồng của một chiếc mỏ neo cũ cắm dưới đáy biển và phủ kín vỏ sò li ti. Tên lính gác ngồi xuống bên cạnh và cũng nhìn chiếc mỏ neo, thỉnh thoảng lại nhổ xuống nước, giả bộ thờ ơ, đợi người ta cuộn thuốc lá và cũng mời hắn hút một hơi.

Anh em nghỉ mười lăm phút, hai mươi phút, đôi khi cả nửa giờ, và Xtrenbixki nhận thấy viên chỉ huy công trường không hề vội vã tuy có vẻ hết sức bận rộn, lo lắng. Lúc nào cũng thấy y đếm những thanh xà, ký không biết những tài liệu gì, áp giấy vào bức tường kho đổ, chạy khắp công trường, người nhỏ bé, lăng xăng, mặc sơ-mi “du côn” cổ bẻ, đi giày vàng và đội mũ rơm cứng, hất ra sau gáy để lộ cái trán đẫm mồ hôi.

Nếu trên đường đập xuất hiện người của ban giám đốc cảng — việc này cũng thường xảy ra luôn, dưới hình thức hai nhân vật nước da nâu, ăn mặc lịch sự, áo xanh đặc biệt thủy quân, quần ten-nít mầu kem, tay cầm những bản kế hoạch cuộn tròn, với một lô bút chì đủ màu cắm trong túi áo to tướng, cùng đi với chúng là một tên sĩ quan capitania còn lịch sự và đen hơn nữa, đi giày có đinh thúc ngựa, vô số những giải huân chương nhỏ và một chiếc mũ cát-két rộng thêu kim tuyến — viên chỉ huy công trường nhìn thấy chúng ở đằng xa liền hét lên một tiếng nghe rõ khiếp! “Đứng lên! Sắp hàng! Đàng trước..., bước!“ Y vung mạnh tập tài liệu đến nỗi nhiều tờ hóa đơn tuột khỏi tay bay tung lên, rồi chạy theo, miệng không ngớt quát tháo ầm ĩ: “Làm ăn kiểu gì thế? Đồ lười biếng! Đồ vượt ngục! Chúng mày chỉ giỏi mít-tinh thôi! Chúng mày thích cái “Cortea Marziale” ở Xlôbôtka chứ? Tao cho chúng mày đến đấy ngay lập tức?...

Sau đó, y chạy nước kiệu về phía những tên chỉ huy và liến thoắng báo cáo tình hình công việc trong công trường.

Ở công trường này, ít nhất theo Xtrenbixki biết, chúng đang lo khôi phục lại cái mà chúng gọi là vành ngoài, nghĩa là những sân bến bằng gỗ xây dựng phía trước những bức tường đá của cảng, và đã bị oanh tạc hư hại hồi thành phố bị bao vây. Công việc không lấy gì làm phức tạp. Vài toán mang xà gồ ở kho tới. Một đội thợ mộc đóng cọc xuống đáy biển, chỗ những cọc cũ bị oanh tạc. Các thợ chuyên môn trên tàu nối chúng lại với nhau bằng đinh sắt và lát suốt theo bức tường đá một cái sàn gỗ dày ba phân và bào ngay tại chỗ. Cạnh đó người ta nấu nhựa đường trong chảo để sơn cọc. Xa hơn một tí, tận cuối con đập chặn sóng, sừng sững một cái “búa máy” để đóng cọc xuống đáy biển.

Khu vực này dùng không phải ít người, khoảng một trăm năm mươi công nhân, chia thành nhiêu ac-ten. Mới đầu, Xtrenbixki rất khó chịu thấy công trường có vẻ hết sức trật tự. Vật liệu xây dựng xếp thành chồng, thành đống cẩn thận theo dọc công trường. Chỗ nào cũng cắm biển riêng mang số hiệu của mỗi chồng, mỗi đống. Thậm chí những cọc hoàn toàn bị phá hủy, cháy thành than vớt ở dưới nước lên cũng không bị bỏ qua, người ta đã mang ra xa hơn và cũng xếp lại gọn gàng với những biển có số hiệu riêng.

“Hừ quân chó đẻ! — Xtrenbixki hằn học ngẫm nghĩ — Chắc chắn nếu là con người chúng tao thì mày cũng chẳng chịu khó nhọc đến thế đâu. Bây giờ, mày bới đất bằng mõm, tỏ ra mẫn cán trước mắt bọn rác rưởi! Đợi đấy! Rồi một ngày kia, chúng tao sẽ tính sổ với bọn mày!”

Nhưng được vài ngày, sau khi xem xét kỹ công việc trong khu vực, Xtrenbixki nhận thấy, mặc dù được tổ chức hết sức khéo léo — nói đúng hơn là do tổ chức khéo léo như vậy — công việc đã tiến hành với tính chất kéo dài và trong một tình trạng hết sức lộn xộn. Chẳng hạn, để làm một cái cọc bằng một thanh xà, đầu tiên phải vác đi một quãng xa hai trăm mét đến chỗ thợ cưa, rồi phải vác trở lại, cũng một quãng xa hai trăm mét như thế, đến tận chỗ thợ mộc, khoảng hai trăm mét nữa đến tận chỗ nấu nhựa đường, từ đây lại phải mang, vẫn bằng tay, cái cọc đi bốn trăm mét đến tận búa máy. Về cái búa máy, thì cứ mỗi cọc lại phải chuyển dịch nó bằng tay, thành thử mất rất nhiều thì giờ. Vả lại cái búa máy hoạt động rất lạ lùng: quả tạ gang không bao giờ kéo lên hết chiều cao, vì một lý do nào đó, dây cứ đứt luôn, quả tạ rơi xuống nước, và phải vớt nó từ dưới nước lên rất lâu, vì thế lại phải yêu cầu đến thợ lặn.

Những người làm việc trong các toán ở cảng, không giống những công nhân mà Xtrenbixki thường thấy ở cảng Ôđetxa. Nói chung, nhìn bên ngoài, đó là một toán bất lương giống bọn quen ra vào các nhà tế bần thời trước cách mạng, chứ không phải là những công nhân xô-viết. Rõ ràng, chúng đã thu dung tất cả những người đến cửa. Nhưng trong đó, cũng có những người kiểu khác, những công dân xô-viết, ăn mặc sạch sẽ do Sở lao động buộc phải tới, bị cảnh sát bắt. Trong số họ, Xtrenbixki nhận thấy có vài người trí thức chân chính, giáo viên hay thậm chí là giáo sư. Một người đã có tuổi, đeo kính, mặc dù trời nóng hầm hập, vẫn mặc ba-đờ-xuy đen, mùa hạ áo trắng, với một cái ô và một rổ cà chua đầy để trên con đường đá bến cảng, không xa chỗ anh ta. Chắc chắn đó là một giáo sư không muốn cộng tác với bọn chiếm đóng và vì thế bị phạt đưa đến cảng.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026

« Lùi
LỜI GIỚI THIỆU TẬP I - Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Chương 38 Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chương 67 Chương 68 Chương 69 Chương 70 Chương 71 Chương 72 Chương 73 Chương 74 Chương 75 Chương 76 Chương 77 Chương 78 Chương 79 Chương 80 TẬP II - Chương 1 Chương 2 Chương 3 Chương 4 Chương 5 Chương 6 Chương 7 Chương 8 Chương 9 Chương 10 Chương 11 Chương 12 Chương 13 Chương 14 Chương 15 Chương 16 Chương 17 Chương 18 Chương 19 Chương 20 Chương 21 Chương 22 Chương 23 Chương 24 Chương 25 Chương 26 Chương 27 Chương 28 Chương 29 Chương 30 Chương 31 Chương 32 Chương 33 Chương 34 Chương 35 Chương 36 Chương 37 Chương 38 Chương 39 Chương 40 Chương 41 Chương 42 Chương 43 Chương 44 Chương 45 Chương 46 Chương 47 Chương 48 Chương 49 Chương 50 Chương 51 Chương 52 Chương 53 Chương 54 Chương 55 Chương 56 Chương 57 Chương 58 Chương 59 Chương 60 Chương 61 Chương 62 Chương 63 Chương 64 Chương 65 Chương 66 Chú thích
Tiến »