Trời đã gần tối. Secnôivanenkô thận trọng đi trên những đường phố ngoại ô, nép người vào các dãy rào và các nhà để khỏi nổi bật quá trên nền trời xám. Mặc dù chung quanh không có một bóng người, ông vẫn cảm thấy mình không cô độc. Khi thì trước mặt, khi thì sau lưng, khi thì đâu đó bên cạnh, trong bóng tối, có tiếng bước chân đi nhè nhẹ. Có lần, ở một góc phố, nổi lên tiếng còi báo hiệu rất quen thuộc. Thế là Secnôivanenkô đứng lại và nép mình vào một gốc dạ hợp. Trước mặt ông, một chiếc xe tải chạy qua, nhảy trên những rãnh bánh xe. Khi chiếc xe tải đã biến vào bóng tối, ông nghe một tiếng còi thứ hai. Secnôivanenkô biết là mình lại có thể tiếp tục đi. Đó là người của Xiniskin đi theo để bảo vệ cho đồng chí bí thư của họ. “Hừ, mình đã làm bận cho họ!” ông nghĩ thế và mỉm cười. Thật là yên tâm khi biết quanh mình, có những người trung thành, tận tâm và mình đang được nhân dân che chở.
Sau khi đi khỏi nghĩa trang, Secnôivanenkô cuối cùng đã vào đến đồng cỏ. Nhưng ở đây cũng vậy, trên thảo nguyên tối tăm vắng lặng, ông vẫn mơ hồ cảm thấy gần đâu đó có mặt những người vô hình. Ông rảo bước, tay luôn luôn để trên ngực, ghì chặt quả thủ pháo cuộn trong bìa cứng. Ông giữ khư khư trên ngực năm tấm thẻ nhỏ với bao thương yêu và thận trọng như chính đó là những con người thật.
Khi đến gần làng Uxatôvô thì mặt trăng vừa ló ra giữa những đám mây đêm mờ. Thảo nguyên hơi sáng lên và hình như cựa quậy. Đâu đó, nghe có tiếng chó sủa. Ngay lúc đó, ông nghe đằng sau lưng có tiếng vó ngựa. Một tiếng nói khàn khàn, thô lỗ, hét lên: “Đứng lại!“ Secnôivanenkô, nằm rạp ngay xuống đất ẩm lạnh, mặt úp sấp, nhanh nhẹn rút bàn tay đang nắm quả thủ pháo trong ngực ra. Một vài đốm lửa lấp lánh và ngay gần đấy, trong những lùm cỏ dại, một viên đạn rít lên. Lập tức, một loạt súng ngắn và xa hơn, một quả thủ pháo nổ, rồi một quả khác, Secnôivanenkô thấy một con ngựa không người cưỡi phi qua dưới ánh trăng. Rồi sau nó, một con ngựa khác với một kỵ sĩ đứng lên bàn đạp, bắn trở lại, đâu đó trong thảo nguyên.
— Trốn đi! — Secnôivanenkô nghe ở đằng xa một giọng nói trẻ và thất vọng hét lên — Trốn đi!
Secnôivanenkô nhảy chồm dậy và lướt trên mặt đất ẩm ướt, chạy về phía cái khe thân thuộc. Ông lăn xuống dưới và vừa may không húc ngã Xêrafim Ivanôvich Tulyakôp khi đó đang chạy tới, súng cầm trong tay. Ba chiến sĩ thuộc phân đội của anh, người gập làm hai, chạy theo sau Tulyakôp.
Đó là toán bảo vệ Xtrenbixki bố trí sẵn để tiếp đón người bí thư.
Nói chung, Pêchya và Valenlin sống rất vất vả. Và sẽ nặng nề hơn nếu trong những niềm vui nhỏ bé của chúng không có cái thú rộng lớn của việc đi lấy nước. Nước lấy từ một cái giếng ngầm không xa “nhà”.
Người ta không những cấm Pêchya và Valentin lên mặt đất, mà đến các lối ra cũng không được đến gần. Lúc bấy giờ đã có hai lối vào. Một lối, như chúng ta đã biết, gọi là “Con Dím” cách nghĩa địa Uxatôvô không xa, và một lối xa hơn, trổ ra gần làng Kuyannich, cách đấy gần ba ki-lô-mét, gọi là “Con Vịt” để biểu dương một con vịt tình cờ chạy vào trong hầm mộ và được Ximban biến thành một bữa ăn ngon lành.
Pêchya và Valentin được phép ra giếng.
Thực ra, không phải chúng cứ cầm xô rồi đi ra giếng. Mỗi lần đi, chúng phải được người trực nhật hay người đầu bếp phụ trách việc nước nôi cho phép.
Người đầu bếp, hay nói một cách đơn giản hơn, người nấu bếp đó là bà Matriôna Têrenchiepna. Không phàn nàn, bà vùi đầu vào công việc bếp nước, dốc hết tâm sức vào đó một cách say sưa, nhiệt tình. Nhưng khốn thay, người ta lại sớm nhận thấy là bà không có tài. Thiện ý không thể thay thế được tài năng. Không có một tí tài năng nào! Về mặt bảo quản, làm thống kê, chia khẩu phần, hết sức cố gắng thì bà cũng còn có thể làm được. Thực tế, đó là một việc rất khó khăn. Để cho vật phẩm khỏi mốc, luôn luôn phải đảo, phải phơi, phải làm cho thoáng khí. Hầu hết thì giờ của bà Matriôna Têrenchiepna đều dùng vào việc chống ẩm. Còn khó khăn hơn, tỉ mỉ hơn cả việc chống gỉ. Hàng ngày bà phải sấy lại nào bột, nào đường, nào muối, nào mì. Nhưng hôm sau, ẩm lại hoàn ẩm, và lại phải sấy lại. Bà có một cái khám riêng để làm chạn đựng thức ăn. Nhưng một mùi mốc khó ngửi cứ bốc lên làm bà thất vọng. Rồi thực phẩm lại biến dần, nhanh khủng khiếp. Bà Matriôna hoảng sự thấy bột, bơ, đường bay nhanh quá.
Hai mắt tròn xoe, bà đến bên chiếc bàn đá của Secnôivanenkô và hơi ấp úng vì xúc động, nói thầm vào tai đồng chí bí thư thứ nhất những điều bí mật buồn bã của công việc bếp nước và giúi cho ông một mảnh báo cáo về tình hình thực phẩm dự trữ. Ông mang kính vào, nhìn Matriôna Têrenchiepna một lúc lâu, có ý khiển trách.
— Matriôna Têrenchiepna, tôi lạ cho cô thật!
Ông thường gọi bà là Matriôna Têrenchiepna mỗi lần bà làm ông không hài lòng, ông nói điều đó với cái giọng ông đã nói với bà hồi còn nhỏ về đôi giày hỏng:
— Môteska! Cô làm tôi rất buồn và rất ngạc nhiên về cô. Cô lại làm rách giày nữa rồi! Rách không chữa được nữa. Chẳng thợ giày nào nhận đâu. Thật tôi chịu không biết dùng cô vào việc gì nữa. Cô sờ vào đâu là hỏng đấy. Sờ vào đâu là hỏng đấy!
— Chú Gayrick! Có phải lỗi tại tôi đâu! — Cô bé Môchya đáp và thẹn quá, không những mặt, tai, cổ đỏ ửng mà thậm chí bàn tay cũng đỏ và nước mắt cứ trào ra.
Có lẽ hồi đó bà có lỗi thực. Thực tế bà sờ vào đâu là hỏng đấy. Nhưng bây giờ bà không có lỗi gì cả. Bà đã cố gắng hết sức để quản lý bếp nước thật tiết kiệm. Nhưng có một điều ai cũng biết là thức ăn thường có cái tệ hay “bay”, nhất là khi có ít mà lại nhiều miệng ăn. Giống hệt hồi nhỏ, Matriôna áp tay lên ngực thốt lên, giọng rất nhỏ, như tiếng chim con hót trong cổ:
— Chú Gayrick! — cả đời bà vẫn gọi ông như thế, “Chú Gayrick” — Chú Gayrick, xin Chúa cứ trừng phạt tôi, chính bản thân tôi cũng không thể hiểu được. Tôi đã để dành, nhưng ngày nào thực phẩm cũng cứ hết nhiều. Thực vậy, tôi không biết làm thế nào nữa! Thật là vô lý.
Rồi bà rưng rưng nước mắt.
— Cô ấy không biết làm gì nữa! — Secnôivanenkô lẩm bẩm. — Cô ấy không biết nữa! Thế thì ai biết? Xem lại khẩu phần xem.
Ông cầm bút chì và cả hai người, cúi trên bàn đá, thì thầm nói chuyện với nhau một lúc về bản phân phối.
Nhiều ít, việc đó bà Matriôna còn có thể xoay xở được. Nhưng việc bếp nước thì không ổn tí nào. Ba nấu nướng bằng hai cái bếp “dầu hỏa“, rất cẩn thận, chăm chú, tuy không phải dở quá nhưng chẳng ngon lành màu mỡ gì cả. Tất nhiên những người hoạt động bí mật không đòi hỏi phải thật ngon lành màu mỡ. Chỉ cần được ăn no là đủ.
Vậy là muốn ra giếng phải được bà Matriôna Têrenchiepna cho phép. Nhờ đó cũng đơn giản đi nhiều.
— Mẹ, chúng con đi ra giếng đây — Valentin nói.
— “Ai ra giếng sẽ không trở về” — Pêchya nghiêm nghị nói, lắp lại câu châm ngôn học được những người du kích của Tutyakôp.
— À phải, xin lỗi: “đi lấy nước”. Mẹ, Pêchya với con, chúng con đi lấy nước. Mẹ cho phép nhé?
— Ừ, được, các con đi đi. Các con đi dạo chơi một tí. Các con đi mà thở một tí không khí trong sạch.
Chúng lấy mấy cái xô treo ở đinh gỗ trong khám bếp, phía trên hai bếp dầu hỏa vo vo suốt ngày đêm, còn bà Matriôna thì lau mặt rồi đưa cho chúng cây đèn bão và một bao diêm. Bà dặn dò chúng lần cuối cùng:
— Đừng vặn bấc cao quá, phải tiết kiệm dầu. Chỉ cần đỏ một tí vừa để đi thôi. Và hễ tới giếng rồi thì tắt đi, đừng để đỏ vô ích. Khi trở về lại đốt lên. Đừng để đổ nước ra đường, nhớ bước cẩn thận. Diêm chỉ để dùng khi thật cần thiết thôi. Các con có mười sáu que, phải mang về ít nhất mười ba que!
Bà còn nói nhiều nữa và lầm rầm sau lưng chúng, nhưng chúng đã không nghe gì nữa, đi xa dần vào một đường hành lang rất hẹp, có chỗ còn hẹp hơn hay rộng ra một tí và có nhiều đoạn ngoặt đột ngột.