Bỗng Xtrenbixki, qua lỗ hổng thấy một em bé ở trong làng chạy về phía cửa “Con Dím“. Em chạy đầu trần, chốc chốc lại vấp ngã. Trông bên ngoài, hình như em sợ phải chạy giữa những xác chết giá cứng, nửa người đã bị tuyết phủ, giữa những cái chân còng quèo và tím ngắt, những bàn tay xòe ra, ngón co quắp. Nhưng cũng trông bên ngoài, em còn sợ phải đứng lại và nhìn về đằng sau hơn. Em chạy, người đầy tuyết, miệng há hốc, mặt nhễ nhại mồ hôi mặc dầu trời rét. Bằng cả hai tay, em nắm chặt một mảnh giấy nhỏ trên ngực. Và ở sau lưng em, từ miệng khe, em nghe tiếng còi, tiếng rú và những tiếng hét hăm dọa. Có lần, khi em vấp ngã, một phát súng từ bên dưới bắn lên, và viên đạn bay sát bên cạnh em làm tung một đám bụi tuyết. Em nhảy phóc dậy, cố hết sức chạy tới lỗ hổng, chỗ Xtrenbixki đang nằm dài.
— Chú ơi, đừng bắn! Chú đừng bắn! — em lấy lại hơi, kêu to rồi trao cho Xtrenbixki cái gì như một bức thư.
Xtrenbixki hiện ra ở khe hở, nắm lấy ống tay áo em bé và định kéo em vào trong động, nhưng em bé run lẩy bẩy và khóc nức nở.
— Không được, không được... cháu không thể vào hầm mộ với chú; nếu cháu vào hầm, chúng sẽ giết mẹ cháu và đốt nhà cháu. Chúng ra lệnh cho cháu chuyển thư xong phải trở về ngay. Chú cầm lấy thư và bỏ tay áo cháu ra.
Em nhìn Xtrenbixki từ dưới lên trên, mắt đầy lệ và thì thầm nhanh.
— Chú ơi! chú có biết bọn phát-xít làm tình làm tội chúng cháu thế nào không? Chú có biết đến bao giờ bọn đáng nguyền rủa đó bị đánh tan xác không?
— Sắp rồi — Xtrenbixki nói — mấy ngày nay ta đã đánh cho chúng tơi bời trước Mạc-tư-khoa, các em có biết không?
— Thỉnh thoảng! Cháu có được đọc truyền đơn... Thôi Chúa phù hộ cho chú, cháu phải chạy về ngay đây, chú nghe đấy, chúng đang thổi còi!
Sau cái khe, nghe có tiếng còi. Xtrenbixki cầm lấy bức thư.
— Của tên chỉ huy đấy — em bé nói, và chợt em thêm, nghe rất thương, rất khẩn khoản. — Chỉ có một điều, chú ơi, là đừng hàng chúng. Cứ giữ cho vững, đồng bào tin ở các chú!
Rồi em bé, không ngoảnh cổ lại, chạy trở về và nhanh chóng biến mất theo bờ khe.
Hai tay đầy đất bụi, Secnôivanenkô đặt cái xà-beng xuống, mở chiếc phong bì dài trên có ghi một câu tiếng Nga đúng đắn, nhưng dáng chữ người ngoại quốc:
“Hầm mộ. Gửi người chỉ huy đội du kích ngầm.”
Secnôivanenkô lật đi lật lại cái phong bì trong bàn tay như không biết để làm gì. Ông đưa cho người gần nhất đứng bên cạnh Xviatôxlap đọc, rồi đưa cho người xa hơn. Trong khi mọi người nhìn cái phong bì, Secnôivanenkô đã đọc xong bức thư:
“Các đồng chí du kích!“ (chấm than) — Senôivanenkô đọc, ghé sát bức thư vào ngọn đèn. — Bọn chó đểu, chúng gọi ta là “các đồng chí”. Đồ vô lại! “Hồng quân rút lui về phía Đông. Chính quyền xô-viết và Hồng quân không còn nữa (chấm). Quân đội Đức và Rumani chiến thắng đang tiến về phía Đông. (Đúng thế. Chúng đã tiến đến tận Mạc-tư-khoa để được đánh cho vỡ mõm!) Cuộc chiến đấu của các đồng chí không còn ý nghĩa nữa” (Để rồi xem). “Chúng tôi biết các đồng chí đang khốn khổ và thiếu thốn, bệnh tật và đói khát“. (Không cần phải là phù thủy mới đoán ra!) Các đồng chí phải biết là các đồng chí không thể kéo lùi bánh xe lịch sử quân sự lại được”. Bánh xe lịch sử quân sự! Quái đản thật). “Hãy hàng đi. Chúng tôi bảo đảm tính mạng cho các đồng chí trong một trại tập trung với mọi quyền lợi tù binh chiến tranh. Hạn tối hậu thư là hai mươi bốn tiếng đồng hồ. Trường hợp bác bỏ tối hậu thư, chúng tôi sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để tiêu diệt các đồng chí trong nháy mắt”. (Phải để muối lên đuôi chúng ta chứ...) “Ngài sĩ quan của chúng tôi ở ngay trước lối vào quả mìn thứ nhất“. (Vậy ra là trước cửa “Con Dím”. Ngoài cửa “con Dím“ ra, chắc chắn chúng không mảy may ngờ đến các lối ra khác. Cần lưu ý tới điều này!) Ngài sẽ mang găng trắng”.
Liônya Ximban khẽ nở một nụ cười và anh thay thế chữ “trắng“ bằng một hình dung từ không thể in lên được. Secnôivanenkô nghiêm khắc nhìn anh qua đôi kính và cất cao giọng, nhắc lại:
“Ngài sẽ mang găng trắng. Cá nhân đồng chí phải đến trình diện với ngài sĩ quan đó, không được mang vũ khí. Chỉ huy quân sự.” Hết, tưởng chúng ta cũng nên ra hàng với ngài mang găng trắng đó — Secnôivanenkô nói. — Các đồng chí nghĩ sao?
Ông ngoảnh lại và bỗng trông thấy Xiniskin đứng trong hầm. Không ai thấy bác tới. Thật khó tưởng tượng, không có ai giúp đỡ mà bác vẫn đứng dậy, mặc quần áo và đến được tận đấy. Mọi người ngạc nhiên nhìn cái bóng bác dài ngoằng, gầy guộc, mặc chiếc áo ca-pốt như một chiếc áo choàng bệnh viện. Đứng thẳng, nặng nề chống khẩu súng trường, bác thở khó khăn và mỉm cười. Nhưng nụ cười mới rùng rợn làm sao. Nếu tên sĩ quan mang găng trắng có thể trông thấy nụ cười mỉm của Xiniskin, chắc hẳn sẽ lạnh cả người.
Còn Liônya thì như bị kim châm, nhảy cẫng lên, nhưng đó là vì thích thú quá nên anh mới nhảy cao đến thế.
— Không, các đồng chí ạ, các đồng chí đã bao giờ nghe những điều như thế chưa? — Anh hét lên và vỗ vào đùi. — Ồ, bọn ngu xuẩn! Chúng định gọi ai ra hàng mới được? Chúng điên rồi sao? Hình như chúng đã quên hẳn là chúng đang phải đối phó với ai rồi thì phải. Xin phép — anh vừa nói vừa cầm lấy bức thư trong tay Secnôivanenkô. — Ta đi về “góc đỏ” đi. Ta sẽ trả lời chúng. Ta sẽ viết thư cho chúng. — Đôi con mắt màu hạt dẻ của ánh sáng ngời lên tinh nghịch và giận dữ. — Ta sẽ viết cho chúng bằng những lời lẽ mà các bậc cha ông đáng kính của ta cũng không nghĩ tới khi các ngài viết cho vua Thổ, các đồng chí đã biết đấy, qua bức họa “Những người Zapôrôgơ“ của Rêpin trong Viện bảo tàng Trêchiakôp. Phải thế không, đồng chí Secnôivanenkô?
Nhưng Secnôivanenkô lấy lại bức thư trong tay Ximban nói giọng thô bạo:
— Không!
— Sao, còn không phải à? — Liônya ngạc nhiên.
— Không! — Secnôivanenkô nhắc lại và vò nát tờ giấy. Chúng đừng tưởng với bọn chó đẻ như chúng, ta sẽ gửi thư để làm vinh dự cho chúng. Ta không phải là những người Zapôrôgơ. Còn chúng, càng không phải là vua Thổ. Ta không nên đùa với chúng. Ta sẽ trả lời chúng nhưng bằng một cách khác hẳn. Chúng sẽ thấy, găng trắng như thế nào! — rồi ông ném bức thư xuống đất.
— Đúng! — Xiniskin nói. — Tôi đồng ý. Nhưng dù sao cũng phải vào sổ bức tối hậu thư.
Nói rồi, bác từ từ cúi xuống, rên rỉ, nhặt lấy bức thư thong thả vuốt cho thẳng, rồi nhét vào túi áo.
— Nikôlai Vaxiliêvich, ai cho phép bác ra khỏi giường? — Secnôivanenkô nói, nghiêm khắc.
— Tôi khỏe hẳn rồi — Xiniskin đáp, mắt ánh lên nom thật dễ sợ. — Và tôi yêu cầu đồng chí đừng trở lại vấn đề đó nữa.
— À, này, các đồng chí — Secnôivanenkô nói. — Ngay bây giờ, chúng ta chưa nên triệt hẳn cửa “Con Dím”. Tôi nghĩ chúng ta còn có thể sử dụng nó một lần cuối cùng nữa. Xong, chúng ta sẽ bịt hẳn nó lại và đi lối cửa sau. — Ông rướn cặp lông mày lên, đầy ý nghĩa. — Chúng ta sẽ đi lối cửa sau. Phải.
... Đúng đêm hôm đó, Tulyakôp và Ximban đã xuất kích để lên mặt đất; họ không dùng cửa “Con Dím” bấy giờ đã bị quân Đức và quân Rumani canh gác, cũng không phải cửa “Con Vịt” quá xa làng Uxatôvô, mà dùng cái giếng. Trước hết Liônya Ximban vốn lanh lẹn như một con mèo, khuỳnh hai khuỷu tay tì vào thành giếng, trèo lên và lấy rìu đục chỗ để chân. Anh buộc một sợi thừng dài và chắc chắn vào trụ giếng.
Gần sáng, khi bọn lính gác cảnh giác nhất cũng đã ngủ say, Tulyakốp và Ximban, mang theo mìn chiến lợi phẩm, ra khỏi giếng lên mặt đất.
Trời gần như không băng giá nữa. Như thỉnh thoảng vẫn hay gặp ở miền Nam, giữa mùa đông có lúc tuyết tan đột ngột.
Gió biển man mát thổi và sao lấp lánh theo một nhịp rất đều tưởng như chốc chốc có một bàn tay vô hình mơn trớn, vuốt ve.
Trên đỉnh đầu, trời xám ngắt, nhưng về phía chân trời thì tối om và trên mặt tuyết mờ đục vắng vẻ, lại đen như nhung.
Túlvakôp và Ximban đi qua vườn trường không ai canh gác, đến ngay ngôi trường và đặt vào đó ba quả mìn. Hai quả trong trường, ở chỗ cửa sau, và một quả vào đâu đó ở cửa cổng. Họ đã bò rất chậm, qua vườn, họ đã nằm dài rất lâu trong tuyết ướt sũng lắng nghe từng tiếng động khả nghi trước mỗi cây táo bị thỏ rừng nhấm nên công việc đã kéo dài ít nhất mất hai tiếng đồng hồ. Khi họ trở về đến giếng, tất cả gà trong làng Uxatôvô đã gáy ba lần. Họ trèo xuống giếng, tìm cây đèn, đốt lên và cuối cùng về tới doanh trại
Trong doanh trại, anh em đón họ từ lâu. Mọi người đã tập hợp, mang theo vũ khí và chỉ còn chờ hiệu lệnh để chuyển sang giai đoạn hai của cuộc chiến đấu trá hình. Ngay lập tức toàn phân đội tiến thẳng ra phía cửa “Con Dím”. Đến đấy, họ ra cả bên ngoài và nổ một loạt súng chỉ thiên khủng khiếp. Trong hầm mộ còn rất ít đạn nhưng, nhân dịp này, Secnôivanenkô đã ra lệnh cho mỗi người được bắn hết một hộp. Họ bắn từng loạt, từng nhóm và từng đợt theo mệnh lệnh. Xêrafim Tulyakôp bắn liên thanh từng loạt dài. Ximban, thong thả quả một, ném một ít lựu đạn. Khi nổ chúng chiếu sáng cả đất, trời, và xác tù binh bị bắn chết. Đồng thời, họ cố “Hura!” thật to. Họ làm ầm ỹ đến đỗi từ xa, tưởng như cả một tiểu đoàn đang xung phong.
Rất nhanh, đây đó, đèn điện bật lên. Nghe có vài phát súng của bọn lính canh hay của bọn tuần tiễu. Pháo hiệu xanh đỏ bay vọt lên không trung xám ngắt, kèn báo động thổi, ở Uxatôvô, một tia chớp vạch ngang trời, một cột khói dựng lên, một tiếng nổ chuyển đất. Có lẽ tên chỉ huy nghe báo động, tỉnh dậy, đã cùng với toàn bộ cơ quan tham mưu nhảy bổ ra ngoài thềm, nơi Tulyakôp và Ximban mới bò qua cách đây không lâu lắm. Rồi khi tiếng nổ thứ nhất chưa hết vang, lại nghe tiếng nổ thứ hai, yếu hơn tiếng thứ nhất một tí, nhưng cũng khá mạnh. Có lẽ chiếc xe xích sắt trực ban khi chạy qua cổng trường đã đâm bổ lên quả mìn kia.
— Đấy, thư ta gửi cho vua Thổ đấy — Secnôivanenkô nói, sau khi mọi người đã nhanh chóng xuống cả dưới đất, và lối vào “Con Dím“, hoàn thành xong nhiệm vụ, đã được cài mìn và bít hẳn lại vĩnh viễn.