Sau nhiều lần rẽ bên phải bên trái, họ đi vào một ngõ hẻm tối om. Cứ xét theo cảnh tượng im lìm, không người, đặc biệt ở đây, thì phần lớn nhà cửa đã bị phá hủy chỉ còn trơ lại xác không.
— Rechis! — Đrujinin ra lệnh lần cuối cùng; Piôt Vaxiliêvich quay ngoắt về bên phải, bước vào một lỗ hổng tối om ở một bức tường sừng sững ngay trước mặt.
Đrujinin đi sau, không kém phần nhanh nhẹn, cũng đã vào trong lỗ hổng. Chắc chắn không có ai theo họ. Nhưng dù có người nào theo thì thoáng đã mất hút họ rồi. Họ vừa mới trên vỉa hè, thế mà họ đã không còn đấy nữa. Họ đã biến mất, tan vào bóng tối.
Batsây bước vài bước, vấp phải đá và đứng dừng lại. Đrujinin quàng ngay lấy cánh tay ông.
— Cẩn thận! — Anh thầm thì. — Coi chừng đụng đầu đấy. Ở đây có một chiếc xà sắt. Đợi một tý, bám lấy tôi.
Lúc này họ đã đổi chỗ: Đrujinin đi lên trước và Piôt Vaxiliêvick theo sau, tay đặt lên vai bạn. Vì Đrujinin không còn là một tên S.S. mà Batsây cũng không phải là một nông dân tù tội nữa. Bây giờ họ đã trở lại chính họ rồi. Họ cảm thấy hết sức thoải mái, tấn tuồng giả trang đã kết thúc.
— Ồ! tôi toát cả mồ hôi! — Đrujinin vừa nói vừa bỏ chiếc mũ cát-két S.S. xuống và lau mồ hôi trán.
Batsây tưởng như sờ thấy được cái nóng ran trên tấm thân nhễ nhại và đôi vai cháy bỏng của bạn. Bản thân ông, mồ hôi cũng toát ra như tắm. Đến bây giờ cả hai người mới cảm thấy hết sự căng thẳng cả về thể xác lẫn tinh thần trong cuộc hành trình quá ư điên rồ táo bạo qua thành phố, với cái chết chắc chắn trên mỗi bước đi, mà lúc đầu tưởng như đơn giản, dễ dàng lắm.
Họ đi ngang một ngôi nhà bị phá hủy: chắc trước kia là một ngôi nhà vì Batsây có lúc đã đụng phải một bồn tắm dựng đứng, rồi họ tới một cái sân ngổn ngang những đồ đạc gẫy nát. Sau đó họ đi vào cái khoang thang gác sau đã bị phá hủy, và bắt đầu cẩn thận leo lên chiếc cầu thang sắt đung đưa cót két dưới chân. Ở nhiều chỗ tay vịn đã bị tung mất. Vì thế họ phải đi sát vào những mảng tường sót lại và cảm thấy các tảng đá rung rinh. Đến ngang tầng hai, thang gác mất năm, sáu bậc. Đrujinin bíu vào một thứ bàn đạp bằng sắt, tất nhiên đã rất quen thuộc với anh, trườn lên bậc nghỉ cầu thang và kéo Batsây theo. Bằng cách đó họ lên tới tầng ba, hay đúng hơn nơi mà trước kia có một tầng ba. Bây giờ ở đây, không còn tầng ba nữa, và thay vào đấy là một luồng gió ghê rợn thổi hun hút. Tất cả tầng ba chỉ còn một khoảnh đầu cầu thang nhỏ xíu với một mẩu cầu thang của cái gác xép chênh vênh trên mảnh sân thăm thẳm. Họ đứng thở một lát rồi Đrujinin bắt đầu leo lên cái gọi là cầu thang gác xép, xoắn tay cố với ra sau lưng nắm chặt lấy tay Batsây. Cầu thang đưa họ lên cái gác xép lơ lửng như có phép mầu trên tầng ba không còn nữa. Gác xép bắc trên mấy đoạn xà hình chữ H đôi từ bức tường phía trước còn đứng vững. Nhìn từ dưới lên hình như mẩu gác xép và mẩu mái nhà còn nguyên kia với cái cột ăng-ten và cả cái cửa thông hơi trên mái, là kết quả của một sự ngẫu nhiên kỳ quái nào đó sau vụ nổ. Và tất nhiên không ai lại nghĩ rằng có người ở được trên cái mẩu gác xép nhỏ xíu, chênh vênh ấy. Trừ phi nơi đó là đại bản doanh của Đrujinin.
— Thế là chúng ta đã về đến nhà rồi. Đrujinin nói khi lách qua cửa gác xép.
Batsây cảm thấy dưới chân có một cái sàn, tất nhiên là sàn gác xép, một cái sàn đất, rất dốc nhưng khá chắc chắn, khá vững chãi, và trên đầu là một mái sắt.
— Misa, câu có đấy không? — Đrujinin hỏi.
— Có tôi đây — từ trong bóng tối một giọng nói rất tự nhiên, rất thân thuộc, hơi ngái ngủ nữa, đáp lại; một giọng nói không ngờ lại phát ra từ những đống vôi gạch đổ nát của một căn gác xép lơ lửng giữa trời, nằm sâu sau lưng một kẻ địch tàn bạo, mà tưởng như ở đâu đó, một buổi tối, giữa một thành phố xố-viết nhỏ, thanh bình, trong một căn buồng sinh viên đầy đủ tiện nghi.
— Thế nào cậu có hài lòng không? — Đrujinin hỏi với một vẻ đắc thắng không giấu nổi.
— Tôi đã tưởng cái gác xép của ta đi tong mất — Misa nói từ trong bóng tối.
— Nổ mạnh thế à?
— Còn phải nói! Kinh khủng! Cách hai cây số, tất cả cửa kính vỡ hết.
— Câu biết ngay chứ?
— Tất nhiên.
— Mình cũng tin chắc cậu biết ngay.
— Một thằng ngu cũng có thể biết nữa là! Có ai đến với anh đấy?
— Một nông dân cá thể vô danh người Mônđavi — Đrujinin vui vẻ nói — Piôt Vaxiliêvich ngồi xuống, anh.
— Cảm ơn. Nhưng ngồi đâu? Tôi chẳng thấy gì cả.
— Misa, đốt đèn lên một tí. Cậu cứ rúc trong tối như chuột chũi ấy.
— Có thể — anh chàng Misa vô hình vui vẻ nói — Tôi tiết kiệm nến. Để kiểm tra lại ngụy trang rồi tôi đốt đèn.
Một lát sau, có tiếng bật lửa xành xạch và một ngọn nến cháy bùng lên. Batsây thấy mình ở trong một căn buồng nhỏ, tứ phía căng vải bạt, chăn, áo ca-pốt. Trên sàn gác nghiêng, trải một mảnh dạ cũ, tất nhiên là gỡ ở một tấm cửa ra, và một chiếc ghế ô tô, lò xo chống cả lên trời. Trên đòn tay, treo một bi-đông tướng bọc dạ và một khâu Mô-de đựng trong hộp gỗ. Ở bên dưới, trên sàn nhà, có một cái hòm gỗ dán buộc dây thừng, một chiếc va-li con, loại va-li cổ bằng mây đã sờn hết, loại va-li thanh niên thường mang theo từ các tỉnh đến Mạc-tư-khoa để vào đại học. Một cây nến Rumani màu vàng gắn trong một cái vỏ hộp thịt nhà binh đặt đứng trên sàn nhà và, vì sàn nhà nghiêng, để nến không chảy lệch sang một bên, dưới hộp kê một bao diêm Rumani dán nhãn hiệu xanh đỏ. Misa là một chiến sĩ bé nhỏ, chắc nịch, vận áo bông đen, giày và xà-cạp màu hoe nâu, với đôi lông mày vàng khiến không những gương mặt tròn trĩnh của anh trở nên đặc biệt tươi tắn và hồng hào, mà mắt anh cũng ngả màu hồng.
— Làm quen nhau đi.
— Tiểu đội trưởng Vetxêlôpxki, — Misa vừa nói vừa chìa tay cho Piôt Vaxiliêvich.
— Trung úy Batsây.
— Rất sung sướng.
Họ siết chặt tay nhau và Misa ngồi xếp bằng tròn xuống tấm dạ bên chiếc hòm và chiếc va-li. Chắc chắn đó là chỗ và kiểu ngồi ưa thích nhất của anh. Piôt Vaxiliêvich nằm dài trên tấm dạ và duỗi mình khoái trá. Chân ông đau, nóng hổi, giậm giật, ông gối đầu lên chiếc mũ mềm không vành, kiểu Mônđavi và tất cả trước mắt ông cứ nhòa lẫn vào nhau, thú vị lạ thường. Ông nghe như qua làn nước giọng nói òng ọc của Đrujinin: “Anh hãy tháo đôi giày Mônđavi kia ra thì hơn...” và đến đấy ông ngủ thiếp đi.
...Mặt trời to, thấp, tỏa ánh rực rỡ trên đồng cỏ. Lá nho trên các cành gẫy, vàng rực như hổ phách. Một cơn gió mạnh tạt vào mặt. Biển cả hoang vắng, tàn nhẫn, quạnh hiu, thờ ơ với tất cả mọi đau thương, mọi cực hình của con người, ánh lên phía chân trời một màu lam chói lọi, một màu lục rực rỡ nhìn đến nhức mắt. Thỉnh thoảng đạn tầm xa bắn tóe nước lên thành những vòi nước trắng xóa. Từ các vườn dưa, vườn nho, đạn tầm gần bắn tung những cột đất đen ngòm, đất sét đỏ hoe, và những đám cát vàng mù mịt. Đạn nổ phủ lên mặt trời một màn tang buồn bã. Sương mù bay lượn chung quanh. Đạn đại bác rơi trúng cụm pháo, tung thật cao những mảnh bánh xe, những yên cương rách nát, những thân người, những vỏ đạn cũ. Đạn đào những hố rộng hoác và lấp lên người các pháo thủ hàng tấn đất đỏ hoe, đen ngòm và đá sỏi nóng bỏng. Anh em đã chết hết và trong bốn khẩu pháo thì ba khẩu đã câm bặt. Chỉ còn một mình Batsây sống sót. Ông không ngờ chỉ còn lại một mình. Ông vẫn chạy trên trận địa pháo, ngã xuống hố, lửa cát làm ông tối sầm mặt mũi, và ông cố hết sức hét, tai không nghe tiếng mình hét.
— Bắn! Bốn phát một! Bắn!
Ông còn cố bê được quả đạn cả bao, lắp vào pháo và bắn cầu may vào trong sương mù mờ mịt, trong ánh nắng chói lòa, về phía mà, ông cảm thấy không nhầm, sức ép địch đang dồn đến. Không thể nhìn thấy quân địch chìm lẫn trong ánh mặt trời nóng cháy. Nhưng Piôt Vaxiliêvich cảm thấy trong lòng mình trỗi dậy một ý chí chiến đấu rất đặc biệt sau bao năm sống sung sướng và hòa bình.
— Bốn phát một! Bắn! Bắn!
Ông hét đến bỏng cả cổ mà không cảm thấy đau. Quần áo ông rách tả tơi. Nhưng người ông chưa hề bị xây xát. Thật lạ lùng nhưng là sự thực. Không phải không có lý do mà người ta thường nói với ông: “Cậu tốt số!” Ông đứng sừng sững, đơn độc, trên chiến hào, giữa cụm pháo đã bị phá hủy, lau mồ hôi mặt nóng bỏng và nhớp nháp, tiếp tục chiến đấu, nổ súng trong làn khói mù mịt có vầng mặt trời, thấp như một đồng xu nung đỏ, lơ lửng trên thảo nguyên.
— Bắn! — Ông hét với bản thân ông và giật cò.
Khẩu pháo bị hỏng. Và ngay lúc đó một quả đại bác rơi xuống, rít lên trước mặt, nhưng không nổ, chỉ xới tung cồn đất chỗ Piôt Vaxiliêvich đứng. Đất nứt dưới chân. Ông ngã nhào xuống rãnh, trườn ra một cách khó nhọc; đất lại nẻ và ông dang tay nằm ngửa, tuột theo bờ chiến hào xuống lớp cát, cố với theo chiếc mũ sắt lăn phía trước. Bên trên, một tốp máy bay tiêm kích Đức bay rất thấp, vút qua như gió. Người ông phủ đầy cát và đất sét. Qua cơn ngất và nhô được lên khỏi mặt cát, ông nhìn thấy một mảnh trăng màu kim khí trắng, lơ lửng giữa trời, trên bờ chiến hào... và ông sực tỉnh.
Lâu lắm ông mới nhận ra mình ở đâu, rồi nhớ ra là đang ở trong một gác xép, nhớ lại tất cả những sự việc đã xảy ra ngày hôm đó và đòi uống nước. Nhưng người ta không cho ông uống, nói nước còn rất ít và chốc nữa sẽ có trà.