“Trên lưng cõng mấy bao bột mì, khó khăn lắm Anđri mới cử động được và đi theo cô gái Tatarơ trong con đường hành lang tối tăm chật hẹp”, Pêchya đọc, thè lưỡi liếm môi khô và tái nhợt. “Chúng tôi sắp có thể thấy tất cả, chúng tôi tới gần nơi tôi đã cắm bó đuốc...“. Hoàn toàn giống như ở chỗ chúng ta, trong hầm mộ — Pêchya nói.
— Được rồi. Sau hẵng bình luận — Valentin sốt ruột.— Đọc đi!
”Và thực vậy — Pêchya đọc tiếp — những bức tường đất tối tăm bắt đầu sáng lên một tí. Họ đã tới một bãi đất bằng mà có lẽ trước kia có một ngôi nhà thờ. Ít nhất trên tường cũng còn một cái bàn hẹp dùng làm bàn thờ và ở bên trên thấy có một bức ảnh Đức Bà Đồng trinh gần như đã hoàn toàn bị xóa nhòa và phai màu. Một ngọn đèn chong nhỏ bằng bạc treo đằng trước, lờ mờ soi sáng...”
— Cậu xem, không có gì giống nhau hết —Valentin nói.
— Cái gì “không giống nhau?“
— Không có gì giống với hầm mộ của chúng ta hết. Tất cả cái đó, hoàn toàn là bịa đặt.
— Còn bó đuốc? — Pêchya nói.
— Bó đuốc, ở chỗ chúng ta, là để cho sáng, Còn ở chỗ họ, là một cái gì có tính chất tôn giáo. Thôi đủ rồi, đọc tiếp đi.
Và Pêchya tiếp tục đọc chuyện người phụ nữ Tataro thần bí nâng bó đuốc đồng dưới đất lên và châm vào ngọn đèn chong.
“Ánh sáng rõ hơn và họ cùng bước đi, khi thì được soi sáng rất rõ, khi thì bị khuất trong bóng tối đen như mực — Cảnh tượng này làm nhớ tới những bức họa của Jeracdo đenla Nôttê. Gương mặt đẹp đẽ tươi sáng, đầy sức sống và khí sắc thanh xuân của người hiệp sĩ rất trái ngược với gương mặt xanh xao và kiệt quệ của người bạn gái.”
— Không phải! — Valentin hét lên, lúc lắc hai bím tóc, mắt tức giận long lên sòng sọc. — Không phải, dù sao Anđri cũng là một tên phản quốc thực sự. Bắn chết hắn là đúng.
— Người ta đã bắn chết hắn vì cần thiết — Xiniskin nói, giọng khàn khàn, gõ những ngón tay dài trên bàn đá.
— Được rồi, cháu Pêchya đọc tiếp đi — Matriôna Têrenchiepna nói. Đừng dừng luôn như thế: "— Lối đi mở rộng ra một tí — Pêchya đọc tiếp — nên Anđri đã có thể đứng thẳng người lên. Anh chăm chú nhìn những bức tượng đất ấy, nó gợi cho anh nhớ lại những hang động ở Kiep. Giống y như trong các hang động ở Kiep, ở đây cũng có những hốc nhỏ trong tường và cách từng quãng là những ngôi mộ; thậm chí đôi chỗ, chỉ còn trơ những hài cốt vì ẩm ướt đã nhũn ra và biến thành bột. Tất nhiên, ở đây cũng đã có những nhà tu hành, và họ cũng đã trốn tránh những cơn dông tố những buồn thảm, và những sự cám dỗ của cõi đời...”
— Ngừng lại — Secnôivanenkô bỗng có ý kiến. — Bác chưa hiểu, ai đã tránh trong hầm mộ Kiep khỏi những cơn dông tổ, những nỗi buồn thảm, những sự cám dỗ trên cõi đời này thế?
— Những nhà tu hành — Pêchya nói.
— Không đúng! — Secnôivanenkô hét lên, giận dữ.
— Ở đây, viết như vậy — Pêchya khiêm tốn, nói.
— Tất cả những điều viết đó đều không đúng, khoan một tí.
Secnôivanenkô khoát tay bảo chú bé đang muốn đọc tiếp ngừng lại, rồi húng hắng ho.
— Tôi có một nhận xét nhỏ và xin đính chính lại một điểm, Gôgôn khẳng định là trong các hang động ở Kiep có những nhà tu hành đã tránh khỏi những cơn dông tố, những nỗi buồn thảm, và những sự cám dỗ ở cõi đời này. Có thể có những nhà tu hành kiểu đó. Thậm chí chắc chắn có như vậy. Nhưng tất cả câu chuyện trong hang động ở Kiep thực tế còn có một ý nghĩa chiến lược và quân sự nữa. Nhân dân Kiep đã trốn vào đó trong thời kỳ bị quân Mông-cổ xâm lược. Trong các hang động ở Kiep, những người thày tu thiện chiến đã cất giấu những kho vũ khí và lương thực. Họ ở trong hang động, xuất kích đánh vào sau lưng địch và đã giáng cho chúng những đòn sấm sét; Họ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc chống lại quân xâm lược, và không hề trốn tránh những cơn dông tố, những nỗi buồn thảm, và những sự cám dỗ. Bởi vậy, đứng về mặt này của câu chuyện, chúng ta phải noi theo họ một phần, nhưng nhất thiết không được tin ở Gôgôn. Ông đã rất khôn khéo, theo cách của ông ta, dẫn bạn đọc đến một lối chống cự thụ động và thậm chí đầu hàng trước những khó khăn. Về phần giá trị văn học, tất nhiên chúng ta không thể có hai quan điểm. Nhất định là hay thật. Thậm chí rất hay. Nhưng đứng về mặt lịch sử mà nói, thì sai — Secnôivanenkô nói quả quyết. Rồi ông chợt mỉm cười nhìn các đồng chí và nói thêm rất nghiêm trang, nghiêm khắc nữa là khác. — Phải chú ý tới điều đó.
— Cháu có thể tiếp tục chứ? — Pêchya hỏi, sau một lát im lặng.
— Đọc tiểp đi, đọc tiếp đi.
Nhưng chú bé vừa mới bắt đầu. “Có chỗ rất ẩm ướt dưới chân...” thì Raitxa Lvôpna chợt nói, vẻ mơ mộng — Này, các đồng chí có biết mai là Tết đầu năm không?
Cái tin bất ngờ đó đã đập mạnh vào mọi người. Từ lâu, họ đã quên bẵng mất cái thú của một ngày lễ. Họ không có cái tâm trạng như những hôm trước ngày lễ. Tết đầu năm tới, đối với mọi người, vốn thường gắn liền với bao hy vọng ở tương lai, đã làm họ vô cùng xao xuyến.
Lập tức, người ta gác quyển Bunba lại và lo chuẩn bị cho ngày Tết đầu năm. Secnôivanenkô đặc biệt vui mừng về ngày lễ này, coi đó như một dịp tốt để làm cho mọi người phấn khởi lên một tí. Ông trở nên rộng rãi và quyết dinh, nhân sự kiện này, cho đốt thêm hai bó đuốc, ngoài ngọn đèn bão công tác. Còn đối với bừa ăn tối long trọng ngày Tết đầu năm, đồng chí bí thư thứ nhất, ngoài món cháo buổi sáng mà mọi người đã quyết định dành lại, chờ bày thêm lên bàn ăn một miếng mỡ với một hộp kẹo caramen con để uống trà.
Mọi người đều biết Secnôivanenkô còn giữ trong tủ két một số rượu dự trữ rất ngon. Nói thực ra, Liônya Ximban rất chú ý đến số rượu dự trữ đó. Đã mấy lần, rất tế nhị, anh đã xa xôi lái câu chuyện đến vấn đề nóng hổi đó, nhưng Secnôivanenkô hoặc im lặng, hoặc làm ra bộ rất bận rộn. Thực tế, ông cũng rất bận. Ngồi ở bàn đá, đầu đội mũ bịt tai cúi trên tờ giấy, ông cầm mẩu bút chì chậm rãi viết gì đó. Thỉnh thoảng ông dừng lại và ngước mắt lên trời. Nhìn qua, có thể biết ông đang chuẩn bị một bản báo cáo đầy đủ cho ngày tết đầu năm, và sắp đặt chương trình tham luận, vả lại đôi khi trên môi lại thoáng một nụ cười khó hiểu.
Liônya Ximban cứ lượn quanh đồng chí bí thư thứ nhất mãi. Đôi khi Liônya ngồi vào bàn và, tì lên vai Secnôivanenkô, cố nhìn vào tờ giấy, để xem ông viết sắp xong chưa. Secnôivanenkô lấy bàn tay che phần đã viết lại và ẩy Ximban ra.
— Liônya, thôi đừng lượn quanh cái tủ két nữa.
— Nhưng tôi có lượn quanh đâu? Đồng chí thấy tôi lượn quanh à?
— Anh lượn quanh.
— Tôi lượn để làm gì nào?
— Không để làm gì cả, chắc chắn là thế. Nhưng thôi đừng mơ ước hão nữa.
— Tôi mơ ước gì nào?
— Không có gì quan trọng cả. Nhưng tôi bảo cho anh biết là những mơ ước không có cơ sở đó sẽ vẫn là những mơ ước không có cơ sở.
— Nhưng tại sao vậy, Gayrin Xêmiônôvich?— Liônya rên rỉ, giọng than vãn gần như tha thiết.
— Bởi vì đó là “dự trữ bất khả xâm phạm”.
— Thậm chí cho cả một ngày như ngày hôm nay?
— Thậm chí cho cả một ngày như ngày hôm nay.
— Thật đồng chí làm tôi ngạc nhiên quá.
— Thôi đủ rồi. Cuộc thảo luận kết thúc. Để cho tôi làm việc..
— Tôi không ngờ đồng chí lại quá ư sắt đá như vậy — Liônya nói, thở dài và cứ loanh quanh bên tủ, luôn luôn có vẻ như chờ đợi một cái gì. Nhưng thấy vẻ nhìn của Secnôivanenkô, Ximban trố mắt sợ hãi và chuồn thẳng một mạch.
... Pêchya và Valentin nằm dài trên chiếc bàn trong phòng họp, đang soạn bài cho số Tết tờ báo tường Người Bônsêvich ngầm. Vì ngày Tết, được hoàn toàn tự do nên chúng bôi gần khắp tờ báo những tranh biếm họa. Có một tranh biếm họa lớn theo kiểu Kukrưnitxư “Thể dục buổi sáng”. Chỗ khác, là tên chỉ huy Rumani cùng với ban tham mưu của hắn bị nổ tung, hay là bà Matriôna Têrenchiepna nước mắt nhỏ ròng ròng, to như những quả nho, đang ngồi cân thức ăn bên một cái cân tiểu ly và bên cạnh cây đèn bão, là Liđya Lvôpna và Xviriđôp đang hôn nhau.
Nhưng mục chủ yếu của tờ báo là một tranh biếm họa do Liônya Ximban đề xuất và ký tên. Trên bức họa nhỏ đó, chiếm hết một phần tư tờ báo, trình bày cảnh tan rã của quân Đức trước Mạc-tư-khoa, và cảnh ngày Tết đầu năm qua hình ảnh của một chiến sĩ Hồng quân đâm lê xuyên qua người Hitle, Antônexkô, Mutxôlini và tất cả các loại thù địch của chính quyền xô-viết; những xác chết của bọn Hitle quẳng bỏ vũ khí đi lang thang trên tuyết. Và dưới tất cả cái đó, là một dòng khẩu hiệu. “Tết đến bọn Đức chó đẻ bắt đầu rút lui!“.
Ngoài ra, cũng có nhưng bài đứng đắn. Xviatôxlap đã viết một bài ngắn nói về sự cần thiết, trong dịp đầu năm 1942, phải nghiêm chỉnh chú ý đến trường hợp các em thiếu niên tiền phong Pêchya Batsây và Valentin Pêrêpêlixkaia, vì không có cách nào đến trường được nên có thể bị chậm trễ trong việc học tập. Anh đề nghị phải bắt chúng học mỗi ngày hai giờ và yêu cầu Ban chấp hành khu Đảng bộ, ngay trong dịp này, cung cấp cho các em thiếu niên tiền phong sách giáo khoa và giấy bút. Trong khi chờ đợi có sách giáo khoa, anh khuyên Valentin kèm cho Pêchya và cùng với chú ôn lại toàn bộ chương trình lớp sáu; còn riêng về phần Valentin thì ôn lại chương trình lớp tám và lớp chín theo hướng dẫn của Xviatôxlap. Ngoài ra, Xviatôxlap còn đề nghị bắt đầu ngay, không chậm trễ, đúng theo điều lệ của thiếu niên tiền phong, cho các em học một nghề nào đó thích hợp với công tác bí mật và giúp được công tác bí mật, ví dụ như vô tuyến điện và ký hiệu Morxơ.
Pêchya và Valentin tỏ vẻ hơi khó chịu, nhưng dù sao chúng cũng xếp bài của Xviatôxlap nếu không ở chỗ tốt nhất, thì cũng không phải ở chỗ khó thấy nhất. Rồi sau khi suy nghĩ, chúng cũng tự viết một bài cam kết ôn lại toàn bộ chương trình trong thời gian ở hầm mộ và chuẩn bị thật tốt cho những kỳ thi mùa xuân.
Xiniskin mang đến một bài đánh máy rất dài và rất chán về lợi ích của kỷ luật, về tinh thần cảnh giác, về ý thức tiết kiệm đối với vũ khí, đạn được và các tài sản khác của đơn vị, về những quy tắc ăn ở trong điều kiện bị bao vây, và về tất cả mọi vấn đề đại loại như vậy. Bài báo đầy dẫy những câu như “thời gian vừa qua ..“ “không chiếu cố đến một loạt khó khăn thường gắn liền với đơn vị khi chuyển sang chiến thuật chống trả tích cực”, “do cơ cấu của một môi trường không lành mạnh cho tư tưởng yên tâm, có thể dẫn tới mất cảnh giác vân vân. Đối với bài báo ký tên “Người quan sát tích cực”, có phần khó khăn. Không xếp hết được. Mà cắt ngắn thì Pêchya và Valentin không dám. Chúng đã tìm ra một lối thoát rất đơn giản: chúng dán bài bảo y nguyên như thế đối với phần có thể xếp gọn vào tờ báo được, còn cái đuôi không xếp được, chúng cứ để lủng lẳng ở bên ngoài. Nói tóm lại mọi việc đều diễn ra như thường lệ đêm trước lễ trong một xí nghiệp xô-viết nhỏ, như trên đầu họ không có bọn phát-xít đang đi lại, và xung quanh không có một tí gì nguy hiểm. Khung cảnh đó đã toát lên một niềm hứng thú rất đặc biệt.