Hôm ấy là một ngày cuối thu, ảm đạm và ẩm ướt, một ngày vừa chóng tối lại vừa kéo dài nặng nề, không mang lại một tia vui nào, cũng như không hứa hẹn một tia hy vọng xa xôi tốt lành nào cả. Những ngày tháng một như thế, làm ta buồn phát điên lên được, thường gặp ở phương Nam, nơi không thể quên được những màu sắc tươi vui và mát mẻ của mùa hạ.
Từ sáng sớm, Piôt Vaxiliêvich đi lang thang trong thành phố, cố tránh không trở lại hai lần một chỗ. Anh đi mãi từ phố này qua phố khác, ngang dọc thành phố, qua tất cả các ngả đường, nhưng vẫn không tìm đâu được một chỗ thích hợp để nghỉ chân. Ở đâu cũng không có lối thoát.
Gió mang hơi ẩm ở ngoài biển vào. Mưa lạnh lẽo rơi, khi nặng hạt, khi nhẹ nhàng, khi xối xả quất mạnh như đạn bắn, khi nhẹ nhàng bay như màn bụi mỏng. Thành phố hầu như trống rỗng. Chỉ trên các đường phố chính mới thấy những chiếc xe con của bọn Đức đi lại, phủ đầy bụi xám đường trường. Ở các ngã tư, đều có trạm gác của bọn S.S. Trên các quảng trường và các đường lớn, bọn công binh đang vội vàng xây dựng các ổ liên thanh hoặc đổ bê-tông xây công sự cốt sắt. Những chiếc áo choàng vải nhựa lóng lánh nước mưa, với những chiếc mũ kê-pi rộng cứng thêu phù hiệu vàng của bọn sĩ quan Rumani, hiện lên kỳ dị trong ánh sáng mờ đục.
Giữa những bức tường đổ nát và những thanh sắt cong queo, lúc nhúc những người mang cáng chất đầy gạch, vữa vụn. Đó là dân chúng bị chính quyền chiếm đóng động viên đến thu dọn thành phố. Nhưng có cách gì thu dọn thành phố cho gọn gàng được? Trên các tường và cột yết thị bằng bê-tông, nổi bật lên những vệt trắng của các bản công bố in bằng hai thứ tiếng của bộ chỉ huy quân sự, lời lẽ hà khắc quái gở. Dọc theo một số ngôi nhà, thấy phản chiếu trên mặt đường nhựa ướt át, những bóng đen im lìm, nối đuôi nhau, của những người đến đăng ký. Trong thời gian đầu, cái “trật tự” này, đè nặng lên lương tri mọi người, đã ngự trị khắp nơi và là niềm kiêu hãnh của bọn chiếm đóng. Dưới các cửa cổng, những người giữ cửa mang tạp-dề trắng đeo những tấm biển kim loại mới toanh.
Quân đội đã bố trí xung quanh vùng ngoại thành, trong các khu phố ngoại ô. Ở đấy, trên các sân bãi ngổn ngang những xe cộ Rumani bùn dày cộp, các “bếp lưu động” đang nhả khói; những điệu kèn tập họp không đúng điệu, đột ngột vang lên nghe ghê cả răng; tiếng ồn ào thô lỗ của đám đông, của giày bốt gióng bước đi đều; và của những mệnh lệnh nhát gừng bằng tiếng ngoại quốc, rõ ràng hơn cả những bản tuyên bố, nói lên niềm tai họa hãi hùng của nhân dân thành phố.
Batsây đi lang thang khắp thành phố, tránh các phố ngoại ô và các phố chính, ông đã chọn các khu phố tiếp giáp, những phố cùng một kiểu vạch theo một đồ án hình học, giao nhau theo góc thẳng, những đường hành lang vắng vẻ và vô tận, luôn luôn bị che phủ dưới một màn mưa mù không ngớt; ở đây, giữa những hàng dạ hợp trụi lá dài dằng dặc, ông có thể như lẩn vào khoảng không mù sương, tan đi, biến thành ma quái cũng như những cây dạ hợp ma quái ấy. Ông bước đi, thoáng qua như một bóng ma giữa những thân cây đen quét vôi trắng đến lưng chừng. Thị giác và thính giác của ông đã nhạy bén. Ông dựa được vào đâu nữa? Ông có còn kế hoạch gì nữa không? Thực ra ông không có kế hoạch gì nữa và cũng không biết dựa vào đâu nữa. Tự đáy lòng, ông chỉ còn trông mong vào một sự kỳ diệu nào đó. Ông tưởng như được một sức mạnh siêu phàm dẫn dắt. Chân bước mà gần như không biết mục đích và tại sao mình đi nữa. Như một người mộng du trên gờ mái hiên. Nhưng đồng thời ông cũng trông thấy tất cả quanh mình chính xác lạ thường, nhận ra từng vật nhỏ, từng chi tiết, từng biến đổi nhỏ nhặt nhất của cảnh vật xung quanh.
Ăn mặc như ông, một cái xvitkia kiểu Mônđavi dệt tay, nhuộm bằng vỏ hành, ông không còn là ông nữa. Đầu đội mũ không vành bằng da cừu, tay cầm roi da, lưng đeo túi dết đựng bánh mì và mỡ. Gương mặt sạm nắng, đầy lông lá, với bộ râu dày đặc, bộ ria mép đen ngòm, đôi mắt nâu gần như đen hơi giống một anh chàng di-gan, tất cả những cái đó rất phù hợp với bộ y phục ông mặc; cái quần len dệt bó trong đôi tất len với đôi giày pôxtôly mũi nhọn bằng da cừu buộc dây da sống, càng làm ông giống một người Mônđavi có tuổi, ở một làng xa xôi ra chợ bán hàng, rồi từ chợ thẳng lên tỉnh mua sắm. Trong ngực, ông giấu một tấm giấy phép cư trú cũ trước cách mạng, cuộn trong một mảnh giẻ, cấp cho tên Xaya Timôfêiêvich Ulierơ, dân cày làng Buđaki, huyện Akecman, chính phủ Betxarabi, với một con dấu mới toanh của sở hiến binh Rumani. Tài liệu này do bà con dân làng cung cấp cho ông khi ông ẩn trốn ở nhà họ trong làng Buđaki, sau khi đơn vị pháo của ông bị phá hủy và ông bị bao vây. Piôt Vaxiliêvieh đã xuất trình cái tài liệu cổ lỗ sĩ này nhiều lần rồi, và đến tận bây giờ nó vẫn rất trót lọt.
Cái kế hoạch mà Piôt Vaxiliêvich đã suy nghĩ nhiều, khi ông ẩn trốn ở Buđaki, không hoàn toàn thích hợp nữa. Ông chỉ còn mỗi một mong muốn: vượt qua trận tuyến thật nhanh để trở về với đồng đội. Nhưng bằng cách nào thì ông chưa biết một tí gì. Ông đã định liều lẻn vào Ôđetxa; ở đấy ông chắc sẽ tìm được người quen, bất cứ người nào, rồi sau đó tùy hoàn cảnh mà hoạt động. Thế là ông lang thang ở Ôđetxa từ phố này sang phố khác, hy vọng tìm thấy đâu đó một chỗ trú ẩn, một bộ quần áo thành phố, và một sự giúp đỡ.
Trước hết, ở chợ, ông đi thẳng một mạch về phía ngôi nhà Kôletnisuc, nơi ông đã để lại đồ đạc. Ông đã đi qua ngôi nhà nhưng do dự không vào. Ngôi nhà như không có người ở, nhưng mặt ngoài lại được sang sửa, mới sơn lại, trên bậc cửa có một người giữ cửa lạ mặt và khả nghi, nên trông nó có một vẻ gì không lành. Người gác cửa mang tạp-dề mới tinh chưa giặt lần nào, trên ngực đính một tấm thẻ mới, nhìn theo ông, nên Piôt Vaxiliêvich cố không rảo bước, vội vã rẽ vào một góc phố.
Điều mà trước đây ông tưởng rất đơn giản và dễ dàng, nghĩa là tìm thấy bất cứ người quen nào, trú ở nhà họ, bận quần áo thành phố vào, rồi kiếm một công việc gì đó làm, tất cả cái đó, bây giờ ông thấy hình như hoàn toàn không thể được. Tất cả mọi nhà, mọi cổng, thậm chí cả các phố, các ngõ, tất cả, ông thấy hình như đã bị niêm phong kín mít bằng một con dấu vô hình, ông vấp phải những người kỳ lạ, như hoàn toàn khác hẳn những người trước kia. Ở họ, ở những người khách qua đường kỳ lạ đó, có một cái gì vừa hết sức ác cảm lại vừa hoàn toàn lỗi thời. Có một ông già khoác áo ba-đờ-xuy rộng và ngắn bằng da hải ly, đội mũ quả dưa, nách cắp gậy mềm; chiếc cổ cồn cao hồ bột gẫy góc như tấm danh thiếp để lộ cái yết hầu đỏ như mào gà tây. Ở tất cả các ngã tư, loa phóng thanh sủa bằng một thứ tiếng Nga nặng nề, hơi lỗi thời, truyền đi các bản thông cáo Đức. Nghe chỉ muốn bịt lỗ tai lại.
Đây đó, trong các quán hàng, mấy mụ đàn bà béo quay, vẻ đanh đá, tai đeo vòng to tướng, đội mũ và mang bao tay ren, bán bánh ngọt tự làm, nến tự sản xuất, chanh Ý-đại-lợi và kẹo chua, loại kẹo “mông-păng-xi-ê” rõ ràng là của chế độ cũ, đựng trong những lọ sành, nhưng không phải những lọ sành tròn thường thấy, mà những lọ sành Rumani bốn cạnh, dán nhãn hiệu sặc sỡ. Nhiều nhất là những loại kẹo “mông-păng-xi-ê” đập vào mắt, nom rất khó chịu. Khó chịu vì những màu mực hóa học, một màu hồng lốm đốm tím, xanh lục. Còn nước ngọt đựng trong những chai con, thì có một màu hóa học, không hiểu tại sao, rất quái đản, xấu xí, một màu hoa cà như thuốc tím pha loãng.
Vứt bỏ cả tên họ, mang giấy tờ của một kẻ khác trong túi áo, ông đi như người bị lùng bắt, liếc nhìn vào các cổng ngõ đóng kín, các người gác cửa, các chủ hiệu, các toán tuần tra Đức và Rumani, các bản đồ địa lý Rumani và Tranxnixtri bày trong tủ kính các hiệu sách. Lúc nào cũng có thể bị rơi vào tay bọn phản gián địch, ông đi mỗi lúc một nhanh qua các phố sương mù, u ám, qua những hành lang bằng đá như những hành lang trong một ngôi nhà tù khổng lồ, ông tưởng như quanh mình không còn lấy một người nào thân thuộc nữa. Cuối cùng, ông biết kế hoạch của mình không dẫn đến kết quả nào cả. Chỉ còn một cách là trở lại chợ, tìm lại chiếc xe đã chở ông tới, rồi trở về Ruđaki.
Piôt Vaxiliêvich quay trở lại chợ. Đường đi chạy dọc theo ngôi trường ông học ngày xưa. Ở đằng xa, thoạt nhìn ông đã nhận ra ngay cái bóng dáng quen thuộc của nó. Ông lần theo dẫy hàng rào sắt nho dại bám chằng chịt, cái cổng vào rộng thênh thang. Trên bậc cửa trường, có mấy tên lính Rumani đứng gác. Ông đi sang hè bên kia. Sau chấn song sắt của cánh cửa rất quen thuộc ấy, lấp lánh một cái sân cũng thân thuộc: đã bao lần, thở hổn hển vì sợ trễ, ông đã chạy tới cái cửa ấy, chạy qua cái sân rải sỏi bụi bặm ấy, nghe tiếng chuông rung lần thứ ba và tiếng hộp bút lách cách trong cặp. Bây giờ ông lại sợ mình nhìn quá tha thiết vào mảnh sân đó, hiện có bọn lính ngoại quốc choàng áo ca-pốt xanh không cài khuy, tay cầm bình-toong đang đi lại.
Hai tên sĩ quan Rumani, có vẻ thuộc các đơn vị hậu cần hay tham mưu gì đó, đang tiến về phía Piôt Vaxiliêvich. Chúng đội mũ cát-két nhựa to tướng, chân mang bốt sít sao, sáng loáng, có cả đinh thúc ngựa, và tay cầm roi. Căm thù sôi sục nhưng bất lực, Batsây bỏ vỉa hè bước xuống đường, nhường chỗ cho chúng, ông cất mũ và nghiêng mình chào theo kiểu dân cày. Chúng cũng không thèm để ý đến ông, cứ tiếp tục nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp theo giọng địa phương, ưỡn ẹo bước trên những phiến đá phún thạch màu xanh nhạt của đường phố xô-viết, xem như đó là của riêng chúng cùng với nhà cửa, hàng cây dạ hợp, mảnh trời âm u trên các mái nhà ướt át.