Từ tư thế ngồi, Đại Ca gần như có thể nhìn thẳng vào mắc anh chàng Hartnell, bấy giờ đang đứng. Tấm thân đồ sộ của nó, độ đặc của cơ và xương nó, như đè cho cả thế giới nghiêng về phía mình. Hartnell tin chẳng ai trên đời lại có thể không nhận thấy nó khi nó đang ở gần cả. Tất nhiên, trừ khi người ấy đang bị nó săn lùng. Từng có thời anh đến ớn lạnh toàn thân mỗi khi mường tượng cảnh bị Đại Ca hoặc đồng loại của nó săn đuổi.
Đáng lẽ mình vẫn nên thấy thế, anh tự nhủ. Mình quả là một kẻ ngu xuẩn khi quen được với điều này. Bởi vì chúng đã bị Murray xích cổ, không chừa con nào. Murray đơn thuần là “Ông Chủ” đối với Đại Ca, và hệ thống thứ bậc điện tử gài trong đầu Đại Ca luôn răm rắp phục tùng mệnh lệnh của Murray, y hệt một kẻ nô lệ. Nếu Murray bảo nó giết Hartnell, con Sinh Dạng sẽ không cưỡng lại - không thể cưỡng lại. Ngoan ngoãn nghe lệnh là đặc tính cốt lõi của Đại Ca. Đó là lý do họ sử dụng gốc gen của chó.
Đại Ca ưa chạy trên tứ chi. Nó sở hữu cái đầu dẹt cùng đôi mắt đen của một con chó. Khi nhìn vào cặp mắt đấy, nếu thấy bất kỳ nét biểu cảm nào lộ ra, đó ít nhất cũng phân nửa là do người quan sát tự tưởng tượng mà thành chứ thực chất không hề tồn tại trên mặt con thú. Tuy thế, nó lại ngồi theo kiểu con người, cánh tay đặt trên cặp đầu gối co sát thân. Tư thế ấy khiến nó trông trầm mặc đến lạ, tựa như đang chuẩn bị ngâm một bài thơ tả hoàng hôn.
Chất chứa trong cái đầu ngoại cỡ của chú mày là những nỗi niềm gì vậy, Đại Ca? Liệu bên trong cái hộp sọ gia cố tích hợp máy móc của con người chó này có là một đời sống nội tâm, các suy nghĩ và xúc cảm, những cuộc độc thoại và tranh luận không? Hay liệu cũng như những gì các nhà hành vi học từng nói về mọi chủng thú vật, nó chỉ là một cỗ máy phản xạ đậm chất Skinner[1], thuần túy cấu thành từ các kích thích và phản ứng?
Hiện thời, câu hỏi ấy thiên về thực tiễn nhiều hơn. Chất chứa trong cái đầu ngoại cỡ của Đại Ca là một mớ dây nhợ, nay đang cần được xác minh xem có phải vì bị trục trặc sao đó mà đã làm hỏng hệ thống liên lạc không. Tính đến giờ, Hartnell đã chụp quét và kiểm tra và thăm dò nguyên một tiếng đồng hồ rồi, trong khi Đại Ca kiên nhẫn ngồi và le lưỡi thở vì nóng.
Lẽ đương nhiên, Ellene Asanto đã gặp các thành viên khác trong đội. Murray chắc từng định tổ chức một màn giới thiệu từ từ, càng lúc càng dẫn cô đi sâu vào trong căn phòng trưng bày kinh dị của gã. Nhưng thú vị thay, Asanto hóa ra lại rất khó dọa. Sau phen hồn vía lên mây ban đầu với Đại Ca, cô hiển nhiên đã gia cố bản lĩnh, có lẽ bằng cách nghiền ngẫm lại các thông số kỹ thuật của toàn đội mình được quyền tiếp cận.
Ong như hớp hồn cô. Cô cứ vòng đi vòng lại quanh khung sạc lớn, nơi cả đàn đang dưỡng sức, với các đơn vị mới nở ra từ nhộng theo một lịch trình chuẩn xác, nhanh chóng.
“Trông chúng cứ như... ong thường ấy,” cô bình phẩm.
“Cô nàng,” vừa dựng mô hình mạng liên lạc trên máy, Hartnell vừa lơ đễnh sửa lời. “Cô nàng, một thực thể thôi.”
“Đàn cá thể hợp thành một trí tuệ nhân tạo hiệu dụng duy nhất,” Murray trịnh trọng giải thích - gã đã chắp vá lại tâm trạng hòa nhã của mình và một lần nữa đeo lên chiếc mặt nạ từng bị lột trần. “Ong không giỏi lập luận hay hoạch định trừu tượng, nhưng độ linh hoạt trong chiến đấu và trinh sát của nó là vô đối.”
“Còn chú gấu Paddington[2] đằng kia thì sao?”
Mật bấy giờ đang ngồi chóp chép nhai một tảng đồ ăn dày. Khi nghe thấy Asanto, nó liếc lên, nhưng không nói gì. Hartnell đoán Murray đã tạm thiết lập chế độ im lặng cho toàn đội; phô trương như gã đời nào lại muốn chia sẻ hào quang.
“Mật giữ vai trò yểm trợ hỏa lực hạng nặng và chi viện cận chiến.” Murray tiến sát đến bên tấm thân gù khổng lồ của con gấu - dù ngồi nhưng vẫn cao gấp bội bất kỳ con người đứng thẳng nào. Gã đứng trong bóng nó và vỗ bộp lên sườn nó, mắt quan sát Asanto. Trông ta đây! Ta là Ông Chủ. Ta là Người. Ta đã thuần hóa lũ thú hoang này. Mỗi tội thật ra, công tác thuần hóa đã được cáng đáng bởi một nhóm kỹ sư sinh học, lập trình viên, và nhà điều khiển học trong các phòng thí nghiệm cách đây hàng trăm dặm. Nhưng có lẽ chỉ mỗi thiết kế và tạo giống và điều chỉnh không thôi thì vẫn chưa đủ. Có lẽ phải sử dụng những tài sản như vậy mới thực sự được coi là thuần hóa. Khoản đó là chuyên môn của Murray. Hàng bao năm nay, gã đã điều hành các bầy chó cho nhiều công ty an ninh tư, gầy dựng được danh tiếng làm ăn rất hiệu quả, miễn sao không ai hỏi han gì nhiều. Bầy Đa mẫu dạng chỉ đơn thuần là gánh xiếc sát thủ mới nhất gã được bàn giao cho chỉ đạo.
“Thế còn cái thứ kia?”
Rồng biếng nhác nằm dài dưới nắng, dựng mào lưng lên để hấp thụ tối đa ánh mặt trời. Nó là một sinh vật dài thượt, mình mẩy uốn khúc, dài tận sáu mét nếu đo từ phần mõm cá sấu đến chót chiếc đuôi y hệt cây roi. Vảy của nó khi ấy mang màu nâu xám, báo hiệu nó hiện chẳng thiết tha làm gì cả. Trong số ba Sinh Dạng có xương sống, nó là thành viên khác người nhất, với chỉ cánh tay là còn mang chút nhân hình. Một con mắt hốc xoay tắc kè dán vào Asanto, như thể đang chực chờ cô đến đủ gần để lao ra vồ.
“Cu cậu cấu thành chủ yếu từ gốc tắc kè xanh và kỳ đà,” Hartnell nói, và rồi, vì cái nghề này hiếm có dịp cợt nhả, đế thêm rằng, “Buồn cười là hồi cậu ta được đưa đến, bảng kê ghi, ‘tắc kà’, và cả đám bọn tôi đều nhao nhao lên rằng, ‘Ủ ôi, chẳng ai muốn món này đâu, khỏi cần nhé?’” Lúc Hartnell nhìn sang Murray và Asanto, nụ cười héo quắt đi trên mặt anh, và sau đó gã sếp của anh đã xẵng giọng hỏi rằng anh còn việc gì cần giải quyết không, thế nên giờ anh mới ở đây.
“Anh chịu đấy, Đại Ca ạ,” anh nói với cái tảng khổng lồ, đầy răng và cơ bắp. Khi nghe thấy giọng anh, Đại Ca ve vẩy một bên tai, và Hartnell đâm tò mò, tự hỏi con Sinh Dạng thực sự hiểu được đến đâu về công việc anh đang làm. “Mọi thứ đều đâu vào đó. Chẳng hỏng hóc gì hết. Đầu mày ổn cả. Ngoan lắm.”
Vai Đại Ca khẽ giật, và máy tính bảng của Hartnell báo con người chó muốn nói chuyện với anh. Anh mở một kênh liên lạc, kết nối với thiết bị cấy trong tai mình.
Tôi muốn có giọng mới. Trong tai anh, giọng Đại Ca nghe vô thưởng vô phạt, máy móc, khác hẳn tiếng gầm gừ đủ khiến thiên hạ són ra quần khi nó nói thành lời.
“Anh, ờm...” Hartnell liếc quanh để đảm bảo Murray không lởn vởn gần đó, thế rồi lẩm bẩm đáp. “Chú mày muốn gì cơ?”
Tôi muốn có giọng mới.
“Không làm vậy được đâu, Đại Ca. Vụ đó nằm ngoài khả năng của bọn anh rồi.”
Đại Ca chỉ nhìn anh với ánh mắt câm lặng đầy cáo buộc mà lú chó rất thạo làm.
“Chà, nghe này. Ừ thì, có lẽ sẽ làm được đấy - kiểu, sau này ấy, một thời gian nữa. Tuy nhiên, nó hiện không hẳn là ưu tiên, cu ạ. Ý anh là, mày trò chuyện với bọn anh thế này là được rồi mà, với cả mày cũng có định nịnh nọt lũ Anarchista để vòi kẹo bánh gì đâu. Hỏi xin cái này... hơi kỳ đấy, mày hiểu chứ?”
Đến đây, nghi vấn xung quanh nguồn gốc của ý tưởng đó bắt đầu dấy lên, và Hartnell thấy ngôn ngữ cơ thể của Đại Ca thay đổi: trở nên dè dặt hơn, đầu cúi gục, tai cụp lại. Một tiếng rên khẽ, cao tới độ gần như không nghe thấy nổi, thoát ra từ bộ hàm quá khổ.
Hartnell biết Đại Ca, hoặc nghĩ rằng mình biết nó. Anh chẳng biết bao nhiêu phần trong đó là thật, bao nhiêu là do tâm trí bản thân tự nhân cách hóa con vật lên nữa, nhưng anh cảm thấy mình có thể hiểu được con Sinh Dạng. Rốt cuộc, Đại Ca vẫn mang hồn chó trong cốt tủy. Nó chào đời từ một chủng loài đã học cách thấu hiểu con người suốt hàng ngàn năm nay.
Giữa lúc quan sát Đại Ca như vậy, anh bất giác nghĩ, Cái vụ giọng mới này từ đâu mọc ra thế nhỉ? Bởi vì Đại Ca rõ ràng không muốn mình hỏi. Nếu anh hỏi trực tiếp, con chó sẽ phải trả lời. Mọi Sinh Dạng đều bị cài hệ thống thứ bậc phục tùng, đặc biệt là Đại Ca. Murray đứng đầu hệ thống đó, nhưng Hartnell đứng thứ hai.
Ý nghĩ ấy chẳng vui tươi gì cho cam. Bậc hai sẽ không bảo vệ nổi anh nếu Murray lên cơn sôi máu và hạ lệnh cho Đại Ca xé xác Hartnell. Hiếm ai phải lo ngại về một chuyện như vậy trong cuộc chơi chính trị tại chỗ làm, nhưng tại cái chốn Campeche này, Murray chẳng khác nào một ông trời con cả. Gã đã được khoán cho công việc cần làm và chẳng bị ai soi mói hết. Chừng nào gã còn làm ăn đâu ra đó, chừng ấy các tập đoàn trả lương cho gã sẽ không câu nệ phương pháp gã sử dụng.
Mình biết hàng bao chuyện từng xảy ra ở đây, thêm nhiều ý nghĩ không vui xuất hiện, và cả hồi kết tất yếu của tất cả bọn chúng nữa: Mình đã biết quá nhiều.
Anh ngước nhìn khuôn mặt ngây thơ, hung ác của con Sinh Dạng. Chú mày sẽ không làm hại anh đâu, cu nhỉ? Nhưng tất nhiên, nếu Murray muốn thì nó sẽ làm thôi. Nó nào đủ sức kháng cự.
Nó sẽ chẳng muốn đâu. Hartnell đã hơn một lần hình dung về viễn cảnh ấy, thường là ngay trước khi chai whisky lại được lôi ra. Trong các vở kịch nho nhỏ do anh tự biên tự diễn trong tâm trí, Đại Ca luôn lưỡng lự, ít nhất là trong thoáng chốc.
Anh gãi dưới hàm con Sinh Dạng, cảm nhận các thớ cơ ở đó, cảm nhận cuộc đối thoại căng thẳng giữa người và chó bên trong. “Mày khá lắm, Đại Ca ạ,” anh nhẹ nhàng nói. “Mày làm ăn khá lắm. Mày là một Chú Chó Ngoan. Để anh xem có kiếm được giọng mới cho mày không nhé.”
Một giọng hiền, cái máy diễn giải suy nghĩ của Đại Ca và truyền lại.
Hartnell bỗng thấy buồn rười rượi, mặc dù nguyên cớ ít nhiều cũng là tại chỗ whiskey. Anh tu thêm ngụm nữa và vỗ vào cánh tay Đại Ca. “Chú mày khá lắm,” anh lặp lại.
“Anh đã phát hiện ra lỗi chưa?”
Hartnell liếc lên và thấy Asanto đứng đó, in bóng trên nền trời rực nắng. Chắc anh đáng lẽ phải nói gì đấy để các cổ đông yêu dấu của cô thấy an tâm, nhưng thay vào đó, anh chỉ nhún vai và khịt mũi. “Cô không cởi chúng ra bao giờ à?” Anh ra dấu về phía tấm áo khoác dài và chiếc khăn quàng của cô.
“Mấy món này được trang bị lớp chống côn trùng xịn nhất thị trường đấy,” cô bảo anh, giật nhẹ chiếc khăn. Rồi mắt cô lia sang Đại Ca. “Vậy là cái con kia cùng đội của nó cứ... được thả rông trong nửa tiếng hả?”
“Cậu chàng. Đại Ca là cậu chàng.” Hartnell đột nhiên thấy ức chế với cô, dẫu vẫn nhận ra mình kỳ thực đang ức chế với Murray và toàn bộ công việc khốn nạn này. “Đại Ca và Rồng là ‘cậu chàng’. Mật và Ong là ‘cô nàng’. Hoặc Mật là như thế, còn bọn tôi gọi Ong là cô nàng bởi lẽ đó là lối tư duy của loài người chúng ta. Ong là...”
“Chắc là người ta.”
Anh nhún vai. “Ong là một, là riêng, là duy nhất. Thật tình chứ, cô đọc bản yêu cầu kỹ thuật đối với các đơn vị chiến đấu sở hữu trí tuệ phân tán chưa? Mẹ kiếp, họ còn chẳng hề trông mong đám bọn nó sẽ có, cô biết cái gì không, trí tuệ nữa kia. Bọn nó đáng lẽ phải giống một lũ ngợm rôbốt thông minh cơ - cứ tụ một lô lại rồi yêu cầu chúng tính toán để đưa ra quyết định là xong. Mỗi tội Ong lại giống con người. Hoặc không phải người, không hẳn là người, nhưng ta có thể trò chuyện với Ong. Ong thừa sức vượt qua phép thử Turing[3]. Và làm quái có ai trong ngành trí tuệ nhân tạo thèm quan tâm đâu, vì Ong không phải là một trong những siêu máy tính não to của cái đám ấy, mà chỉ là...”
“Ong.”
“Vâng, ong chính hiệu. Xin lỗi nhé, tôi làm một tràng kinh quá.”
Cô bước lại gần, săm soi Đại Ca. “Nói tôi nghe về các cơ chế phòng ngừa đi.”
“Cơ chế phòng ngừa,” anh ngơ ngơ lặp lại.
“Nếu xích mà bị đứt thì chuyện gì sẽ xảy ra, Hart? Hẳn Đại Ca không chỉ đái bậy lên vài cái cây và cắn một anh bưu tá thôi đâu.”
“Cu cậu...” Hartnell nhấp quá vội ngụm whisky tiếp theo và lỡ hít mất già nửa vào phổi, oằn người xuống và ho sặc sụa cho đến khi được một cú vỗ mạnh trên lưng giúp thở lại như thường. “A, aha, cảm ơn nhé,” anh hổn hển nói.
Asanto đang nhìn anh chằm chằm. Kỳ thực cô đang nhìn ra sau anh, dán mắt vào Đại Ca, chủ nhân của bàn tay to bản vừa thực hiện pha cứu trợ cần thiết. “Trông kìa,” cô sửng sốt nói.
“Ngoan lắm, Đại Ca.” Hartnell ho thêm vài phát nữa. “Nếu đã đọc thông số kỹ thuật, cô đã biết về các cơ chế phòng ngừa rồi đấy.”
“Tôi chẳng thấy bóng dáng chúng đâu hết.”
“Đại Ca tuân thủ mệnh lệnh. Cậu ta đã được kết nối với một hệ thống thứ bậc nghiêm ngặt, bảo gì làm nấy. Và lúc mất liên lạc...”
“Vâng, lúc đó thì sao?”
“Đại Ca đã tiếp xúc với một trại đầy người tị nạn. Không có chỉ dẫn.” Chỉ nghĩ đến điều ấy thôi là lòng bàn tay Hartnell đã ứa mồ hôi, hoặc đúng hơn là ứa đẫm hơn nữa. Anh chẳng tài nào hình dung nổi lúc ấy, khối óc hạn hẹp của Đại Ca nghĩ gì. Anh chẳng hình dung nổi chuyện đã xảy ra thế nào. Và bản thân các Sinh Dạng cũng chẳng giúp được gì nhiều. Đường truyền liên lạc không phải thứ duy nhất bị ngắt - họ cũng không thu được bản ghi nào từ máy quay của đội trong khoảng thời gian đó. Họ chỉ có thể dựa vào khả năng thuật chuyện đầy hạn chế của Đại Ca để biết chúng đã làm gì.
“Mấy đứa chúng nó đi tìm địch,” Hartnell giải thích. “Chúng đã... chúng đã làm rất tốt, tốt lắm đấy. Nghe chưa, Đại Ca? Chó Ngoan, ngoan lắm. Chúng tiến vào và, thế nào nhỉ, không hiểu sao chẳng chuyện gì xảy ra hết, và Ong sục sạo tìm vũ khí - làm ăn hơi cẩu thả vì chúng không được đào tạo để thực hiện những việc kiểu vậy, nhưng bằng cách nào đó, chúng đã làm điều đúng đắn.”
“Một chương trình thứ cấp nào đó chăng?” Asanto đề xuất.
Mình cần phải khớp mỏ lại ngay. Mình thực sự chỉ cần gật gù và giữ im lặng thôi. “Không,” miệng Hartnell khẳng định, bất chấp đã được toàn thân can gián. “Chúng đã quyết định hành động như thế. Đó là lý do Đại Ca đầy ưu việt hơn một con rô bốt. Đó là lý do các Sinh Dạng chính là tương lai.” Mang điều đó về bẩm với các cổ đông nhà cô đi.
“Và sau đó giao tranh bùng nổ,” cô chỉ ra.
“À, ờ, vâng, nhưng chuyện cơ bản là một lô một lốc Anarchista chường mặt đến và bắt đầu xả súng. Và tôi không biết chúng đến đó để làm cái quái gì - liệu chúng tính dời dân tị nạn đi chỗ khác hay bắt tân binh, hay về thăm hỏi bà nội ốm yếu. Nhưng chúng trông thấy đội nhà ta, và Đại Ca trông thấy chúng và xác định rất chuẩn xác rằng chúng là địch. Và dân thường đã bỏ chạy, và căn cứ vào mức thương vong dân sự tương đối thấp, tôi đoán đội nhà ta hẳn đã yểm hộ cuộc tháo chạy của bọn họ.”
“Thật hả?” Cô nghe có vẻ không tin.
Hartnell mở miệng, nhưng rồi lại ngậm vào. “Tôi không biết,” anh lẩm bẩm. “Trong đội lính Redmark có vài người bảo thế, nhưng tôi không biết đâu.” Anh nở một nụ cười yếu ớt với con Sinh Dạng. “Đôi khi anh chẳng hiểu nổi chất chứa trong cái đầu ngoại cỡ của chú mày là những nỗi niềm gì, Đại Ca ạ. Và anh biết nếu được thì mày sẽ nói anh nghe ngay.” Và anh một lần nữa trông thấy điều đó, thấy cái thế gù và cúi gằm đầu tỏ ý, Xin đừng hỏi tôi; cái tiếng rên ư ử tội lỗi của một con chó.
“Mày làm ăn khá đấy, cu,” anh nói, và lại gãi hàm con Sinh Dạng. Không như Đại Ca, anh có thể nói dối ngọt xớt mỗi khi cần, và còn lâu mới có chuyện anh hé răng nửa lời với Asanto về mệnh lệnh Murray đã cố đưa ra khi mất liên lạc; về cách Murray đang tiến hành chiến tranh với bang Campeche, chống lại cả quân Anarchista lẫn dân thường.
[1]
Tức B. F. Skinner, nhà hành vi học người Mỹ nổi tiếng giai đoạn thế kỷ XX. Skinner tin hành vi của một sinh vật được hình thành từ quá trình phản ứng với các kích thích trong môi trường, chứ không nhất thiết xuất phát từ những suy nghĩ hay động lực nội tại. [Chú thích của người dịch, sau đây viết tắt là N.D.]
[2]
Một con gấu nổi tiếng trong văn học thiếu nhi Anh Quốc. [N.D.]
[3]
Phương pháp đo lường độ thông minh của máy móc do nhà toán học Alan Turing đề xuất. Trong phép thử này, một cỗ máy sẽ trò chuyện với con người bằng ngôn ngữ tự nhiên. Nếu người đối thoại không nhận ra nổi mình đang nói chuyện với máy, cỗ máy sẽ được coi là đã sở hữu trí thông minh tương đương con người, và đã vượt qua phép thử Turing. [N.D.]