“Ê, tráo hồ sơ không?” David Kahner ngồi phịch xuống ghế bên cạnh, nhoẻn miệng cười toe toét.
“Hẳn đó không phải là một lời đề nghị nghiêm túc rồi.” Keram John Aslan dọn chỗ cho anh ta tại bàn, đồng thời khóa màn hình chiếc máy tính bảng của mình lại.
“Chứ sao. Còn chưa vào ngày xử đầu tiên mà tôi đã được chèo kéo tận ba lần rồi đấy.” Kahner hoàn hảo không chỗ chê: mái tóc chải chuốt như tạc bằng khuôn, loang loáng một sắc gần xanh đen; làn da ôliu không tì vết; tai đeo độc một chiếc khuyên hạt vàng. Anh ta đeo kính thông minh đời mới nhất, vét đắt vượt ngưỡng Aslan dám nghĩ đến, và cúc cổ để bung đầy táo tợn, như thể cái anh chàng này sắp được gọi đi chụp mẫu thời trang tới nơi.
“Ông còn chẳng ra trước ống kính nữa là,” Aslan chỉ ra.
“Quan trọng gì chuyện ấy đâu. Vả lại, đúng là ta sẽ không phải ra trước máy quay lớn thật, nhưng sếp bảo dễ chừng về sau sẽ có phỏng vấn đấy. Phỏng vấn, chương trình trò chuyện, quảng cáo. Thiên hạ đang cực hóng vụ này, KJ ạ. Kể từ phiên tòa Nürberg[1] đến nay, chưa bao giờ người ta lại quan tâm tới ICC[2] nhường ấy. Và được vậy là nhờ công cả vụ của ông lẫn vụ của tôi đấy.”
“Khoan đã, quảng cáo ư?” Aslan chẳng hiểu nổi anh ta có đang bỡn cợt hay không nữa. “Ý ông là, kiểu, ‘Tòa án Hình sự Quốc tế luôn uống Pepsi Cola’ ấy hả?”
Kahner lôi một chiếc máy quay tự hành ra khỏi túi. Bằng một cú chớp mắt với cặp kính, anh ta cho nó bay lên, thế rồi mỉm cười tươi rói trước ống kính nhỏ xíu, phô ra hàng tiền đạo đều tăm tắp, trắng bong như ngọc. “Thấy tôi ăn hình không, KJ? Thấy tôi có tướng trở thành con cưng của truyền thông thế giới đến nơi rồi không?”
“Không,” Aslan gắt gỏng bảo. “Có ma nào biết ông là ai đâu, trong khi báo chí tràn ngập hình ảnh cái lão khọm già Arnac kia, bởi vì lão là công tố viên chính.”
“Arnac nói sẽ cho tôi chấm mút cùng, thu xếp vài buổi chụp hình đăng báo cho tôi.” Kahner ngắm nghía những chiếc móng hoàn mỹ của mình.
“Arnac là chúa phét lác mà.”
“Cay cú vì không được cho vào đội thì nhận đi.” Cảm thấy mình hành xử hơi vụng, Kahner dang tay ra. “Mà tiện, cái quyết định ấy đúng là dở hơi. Sau vụ truy tố đám lãnh tụ Hồi giáo là ông đã ngon lành rồi còn gì.”
“Tôi vẫn chưa dứt nợ được vụ đó đâu.”
“Ô, chưa yên à?”
Aslan u ám gật đầu. “Tuần trước, máy quay bắt quả tang một tay nào đấy lúi húi bên xe tôi, và cả bãi đỗ xe bị phong tỏa suốt sáu tiếng liền. Không nhớ vụ đó à?”
“Tôi nhớ cái cảnh nhộn nhạo. Tôi đâu biết là do ông.” Kahner lắc đầu. “Dẫu vậy, thế chứng tỏ ông đã làm ăn ra trò. Đáng lẽ họ phải phân ông vào đội Campeche mới đúng.”
“David, họ để tôi phơi mặt ra trong vụ xử đám lãnh tụ Hồi giáo bởi vì họ nghĩ một thằng cu Hồi giáo ngoan đạo sẽ đỡ bị chỉ trích hơn, và nhìn vào đấy là biết đội sếp nhà ta có cái nhìn lệch lạc đến nhường nào về... có lẽ là về mọi thứ đấy. Đáng lo phết chứ chẳng đùa.”
Kahner trông rõ là đang định lên tiếng cam đoan rằng mọi sự đều nhờ công khối óc pháp lý sắc bén của anh hết, còn thói quen cầu nguyện của anh chẳng liên quan gì, nhưng Aslan phẩy tay gạt đi. “Giờ ông được đứng dưới ánh đèn sân khấu rồi đấy, David. Cứ tận dụng tối đa thời thế đi.”
Đúng lúc đó, hai ly espresso được mang tới, và bọn họ im lặng cho đến khi cậu bồi bàn đã rời đi. Sẽ không có chuyện họ đem tin mật ra bàn ngoài hàng quán đâu, nhưng nguy cơ sơ sẩy nói hớ luôn thường trực, và lời nói hớ ấy có thể sẽ bị lọt lên mặt báo, bóp chết một sự nghiệp pháp lý đầy hứa hẹn.
“Đằng nào thì vụ đám tép riu, tức lũ ‘chỉ làm theo lệnh thôi’ ấy, xem chừng đã xuôi chèo mát mái cả rồi. Nói không phải ngoa, nhờ tài chuẩn bị hồ sơ hết chỗ chê của tôi đấy. Arnac có thể diễn thuyết rất hùng hồn, nhưng lão sẽ chẳng biết năm nay là năm nào nếu hàng ngày không được tôi gửi email nhắc,” Kahner lè nhè.
“Vậy tiếp theo đến Murray lên thớt hả?”
Kahner toét miệng cười. “Chính tay quản chó đấy, dù rằng tên khốn này như cầm tinh con chạch vậy.”
“Không lên cao hơn được nữa à?”
“Hội đồng quản trị của Redmark đã có một đợt từ chức tàn khốc ra trò,” Kahner nhận định, “và tôi biết tại Mỹ, hàng loạt tập đoàn đã phải cho giám đốc ra điều trần trước Hạ Viện. Nhưng đến đây thì tắc tịt luôn, KJ ạ. Nếu bằng chứng cho thấy ai đó trong hội đồng có dính líu đến các vụ tấn công hóa học quả thực tồn tại, nó cũng đã bị chôn vùi rất sâu, ta bới không đến nổi. Thành thử giờ đây, chúng ta có Murray, kẻ về cơ bản đã ngồi ngoài thực địa ra quyết định, lạm dụng tài sản của Redmark để tiến hành một cuộc chiến tranh riêng. Qua lời họ tô vẽ, hắn cứ giống y một gã Kurtz thế kỉ hai mốt, bước thẳng ra từ, gì ấy nhỉ...?”
Họ nói đồng thanh, Kahner xướng tên phim, Aslan nêu tựa sách[3].
Kahner lại mỉm cười, nhưng lần này, Aslan thấy điệu cười lộ nét căng thẳng. “Ta cần Murray, KJ ạ. Đây thậm chí còn chẳng phải để đòi công lý nữa ấy - mặc dù, trời đất ơi, có tí công lý sẽ hay biết chừng nào. Phía ta nói Murray đã ra lệnh dội bom hóa học bất cứ nơi nào hắn nghĩ đang hậu thuẫn cho phe Anarchista - và, tin tôi đi, ngưỡng bằng chứng hắn đòi hỏi thấp lè tè. Chính Murray đã hạ lệnh xua chó tấn công người dân. Cuối cùng, Murray đã xóa sổ bao ngôi làng để ém nhẹm chứng cứ. Rốt cuộc, theo lời họ nói, hắn chỉ hành động một mình chứ không phải là tay sai ai cả.”
“Ông tính dùng bầy chó để chơi hắn, nhỉ?” Aslan rầu rĩ hỏi.
“Dùng mạnh.”
“Ông đang làm đời tôi thêm cực nhọc đấy, ông biết không?”
“Thế tức là ông theo nhầm phe rồi,” Kahner chỉ ra.
“Thật vậy à?”
“Hẳn ông cũng biết nếu không vì mang cái tên như thế, ông đã chẳng bị khoán cho vụ này rồi chứ nhỉ[4]?” đến đây, nụ cười đã lại được khôi phục nguyên trạng, hoàn hảo như trêu ngươi.
“Hài ghê cơ.” Aslan cau có đáp. “Mà ông biết họ có mấy con ‘Aslan’ thật luôn không? Đó là tên một mẫu mèo thử nghiệm trong chương trình Đa mẫu dạng. Mỗi tội chưa được cho tham chiến bao giờ. Khó lường lắm. Có cấy đặc chip vào người bọn mèo thì ta cũng chẳng ép nổi lũ chúng nó tuân theo ý mình. Tôi có mèo; có mấy mẫu gấu, mấy con thằn lằn quái thai, một lũ sinh vật với tâm trí kiểu bầy đàn gì đó mà chỉ nghĩ tới thôi là đã thấy rợn rồi. Thậm chí ở một căn cứ hải quân tại Malta, người ta còn đang nhốt cả mấy mẫu dạng cá heo nữa cơ. Nhưng chủ yếu toàn là chó thôi.”
“Bày chó của Murray.”
“Murray không chỉ có mỗi chó đâu,” Aslan nhắc. “Và cũng không chỉ mỗi Murray mới có chó. Tính đến nay, trên thế giới có tận một ngàn bảy trăm Sinh Dạng họ chó phục vụ trong quân đội, hiện đều đang bị nhốt trong doanh trại, và còn tầm một ngàn ba trăm con thuộc sở hữu tư nhân đã bị tịch thu, chờ phán quyết của tòa án.”
“Và ông lãnh vinh dự chuẩn bị lời bào chữa. Ông đã chọc điên ai để đến nông nỗi phải ăn cái mớ này vào mồm vậy hả?”
“Tôi tự xin đấy. Tôi đã xin được phân vào đội này.” Aslan giận dữ nhìn ly cà phê của mình.
“Ông hâm à?” Kahner ngạc nhiên thực sự. “Nếu thèm bóp chết sự nghiệp của mình đến thế, ông chỉ cần bế vợ Arnac lên giường hay gì đó là được rồi mà.”
“Họ muốn phán rằng các Sinh Dạng là vũ khí,” Aslan nói. “Họ muốn giải trừ chúng, như thể chúng là bom hạt nhân hay súng vậy.”
“Thì bọn nó đúng là vũ khí còn gì.”
“Thôi bỏ đi.” Aslan bóp trán. “Ông cứ lo xử Murray đi nhé, phần việc của tôi để đấy tôi lo.”
✽
“Anh muốn tham quan cơ sở vật chất trước không, hay chỉ gặp... thân chủ của mình thôi?”
Quãng nghỉ đầy tính toán trong câu đó chẳng hề hụt tai Aslan: đội ngũ nhân viên tại đây rõ ràng chỉ nhìn vụ việc anh phải bào chữa bằng nửa con mắt.
Các phòng giam được xây thụt xuống dưới đất, tạo thành một khu phức hợp ngầm không nóc mái, để lũ chó có thể chạy loanh quanh mảnh sân bé tẹo với một khoảng trời vuông vức nhỏ trên đầu. Một bức tường quây ngoài các phòng giam chìm, và trên đỉnh tường chằng chịt dây kẽm gai. Mọi lính gác đều được trang bị vũ khí, và dù cai ngục mang súng chẳng phải điều mới mẻ gì cho cam, cỡ nòng của chỗ súng ấy lại rất xứng mặt làm kỳ phùng địch thủ của những mẫu súng săn thú lớn từng thịnh hành trong giai đoạn thế kỷ trước.
Nằm bên ngoài phần tường ngăn, ngay cạnh cụm phòng giam, là nền tảng tồn tại của toàn bộ chốn này: các văn phòng chuyên giải quyết công tác hành chính quốc tế. Aslan đã lái chiếc xe điện của mình tới đây và đỗ nó bên mấy chiếc xe thuộc đủ kiểu dáng và mẫu mã khác nhau của cánh lính gác và quản lý. Lúc còn bon bon trên đường, đầu óc anh chan chứa bao luận điệu ngời ngời chính nghĩa. Nhưng giờ, với những thanh âm vọng lên từ dưới hố hòa tấu thành một bản nhạc nền dai dẳng, anh cảm thấy lòng tự tin của bản thân bị sứt mẻ nghiêm trọng.
Chúng chủ yếu là tiếng chó: nguyên một bầy chó đông đảo, con nào con nấy đều to như ôn thần và đầy cáu giận; có điều xen lẫn với những tiếng gầm gừ và sủa đậm chất thú vật lại là những câu từ rõ nghĩa mồn một: van xin, chửi rủa, lăng mạ, dọa dẫm.
Đây là lần đầu tiên anh được nếm trải thực tế đằng sau lý tưởng mình đã xung phong bảo vệ. Nó khiến anh hồn xiêu phách lạc.
“Cho tôi gặp...” Gặp cái gì đây? “Cho tôi gặp cậu ta đi.”
Họ dẫn anh vào bên trong, nơi sự lệ thường lại được khôi phục trong dáng hình một chốn không gian văn phòng cách âm kín mít với các ngăn buồng làm việc và gian bếp mini, với máy tính cùng máy phôtô và cây nước nóng lạnh. Đội viên chức bận rộn nộp báo cáo và nhập liệu, chẳng ai buồn ngước lên nhìn chàng luật sư ICC mảnh khảnh cả.
Người dẫn đường mở sẵn một cánh cửa cho anh, và ngay khi bước qua đó, Aslan lập tức giáp mặt con chó.
Anh buột miệng văng tục và nhảy bật ra sau, thế rồi nghe thấy tiếng cười ồ, và từ đó nhận ra mình vừa bị chơi khăm. Mắt anh dán rịt vào bản mặt của sinh vật trong phòng, chẳng rời ra dù chỉ trong tích tắc.
Nơi ấy được bài trí như một phòng thăm tù, và anh không tài nào đoán nổi liệu đây có phải trò đùa khiếm nhã do ai bày ra không, hay chỉ đơn thuần là thành phẩm của một óc tưởng tượng nghèo nàn. Một tấm nhựa trong suốt đứng chắn giữa bọn họ, dày tới mức nhìn qua nó mà cứ ngỡ đang nhìn qua một làn nước. Tuy thế, Aslan nghi rằng nếu cái con kia mà nổi cơn điên, tấm chắn sẽ chẳng ăn nhằm gì với nó hết.
Nó đang ngồi như người, lưng khom lại và đầu chúi tới trước, nhưng tấm thân hộ pháp, cuồn cuộn cơ bắp của nó choán gần trọn phân nửa căn phòng. Nó đeo một cặp còng trông như thể vốn được thiết kế cho King Kong, và Aslan ngàn lần đội ơn sự hiện diện của cái còng ấy. Bộ hàm của nó lớn phi thường, răng nanh cả trên lẫn dưới đều hơi tòi ra khỏi cặp môi dày. Một bên tai của nó đã gần cụt hẳn, chỉ còn lại những mô sẹo lởm chởm. Ánh nhìn của nó...
Cũng như tư thế ngồi, ánh nhìn của nó toát đầy vẻ người. Dẫu rằng đôi mắt kia thuần dáng chó, vừa tròn lại vừa nâu, khi nhìn thẳng vào chúng, Aslan vẫn trông thấy một thứ hao hao con người, dõi mắt nhìn mình từ trong một ngục tù thịt nhân tạo khổng lồ.
“Luật sư à, đừng nhìn thẳng vào mắt lũ này. Làm vậy là thách thức chúng nó đấy,” người đứng bên cùi chỏ anh bảo, song Aslan chẳng nhìn nổi đi đâu khác. Anh cẩn thận bước vào phòng và hạ người xuống ghế, lôi máy tính bảng ra. Thoạt tiên, vì e ngại sinh vật đối diện mình đang như một chiếc lò xo bị nén, sẽ chồm lên ngay khi có chuyển động đột ngột, anh làm gì cũng chậm rề rề và ra dấu rõ ràng. Xét cho cùng, anh đã xem hồ sơ của nó rồi đấy thôi - ít nhất là những hồ sơ còn sót lại sau vụ tẩy dữ liệu bí ẩn ở Redmark. Tại đây nhốt nhiều chó nguy hiểm lắm, nhưng con này thuộc một đẳng cấp riêng.
“Ờm, chào cậu,” anh gắng gượng lên tiếng, mặc dù công lực của ánh nhìn nặng trịch kia đang bắt đầu khiến anh teo quắt cả người. “Cậu là Đầu Cua nhỉ?” Anh nói chuyện như thể con vật là một đứa trẻ. Hoặc có lẽ là một con chó. Anh nói như thể không hề kỳ vọng nó sẽ hiểu lời mình.
Con chó phát ra một âm thanh ì âm sâu trong ngực. “Đại Ca,” nó nói.
Aslan sững người. “Cậu vừa...” Anh muốn hỏi, Cậu vừa nói à? tựa hồ làm vậy sẽ giúp mình xóa bỏ được thực tế ấy. Cái giọng trầm tới độ làm rung cả lớp nhựa chắn giữa bọn họ.
Anh trấn tĩnh lại. “Cậu vừa bảo... Cậu không phải là Đầu Cua à?”
Vẫn lại cái tiếng cộc lốc kia. “Đại Ca.”
Aslan chửi thề và lật giở đống tài liệu. Bọn đần kia đưa nhầm chó đến rồi. “Tôi... có phải cậu từng chiến đấu ở Campeche không? Tôi tưởng cậu là thủ lĩnh biệt đội Đa mẫu dạng của Murray mà nhỉ.”
“Ừ.”
Anh lại ngước lên, thấy con thú đang dí sít sịt mũi vào tấm chắn.
“Thủ lĩnh, là thủ lĩnh đây.” Nó cẩn thận nói, nhấn nhá câu từ theo một kiểu kỳ quặc. “Đội của tôi có Mật, có Rồng, và có Ong, nhưng tôi là thủ lĩnh.”
Tiếp tục nghiên cứu mớ ghi chú. Murray chỉ có đúng một Bầy Đa mẫu dạng, và tên của những con còn lại đều khớp cả. Aslan đoán một nhân viên nào đó đã để lẫn hồ sơ. Rốt cuộc, chẳng ai lại nghĩ điều ấy có gì quan trọng cả.
“Vậy thì, chào cậu, Đại Ca. Tên tôi là Keram. Keram John Aslan. Tôi làm việc cho Tòa án Hình sự Quốc tế.”
Nhìn vào bản mặt hung tợn, đầy thú tính kia, anh đến nẫu cả ruột, bởi lẽ trong mắt thiên hạ, cái con quái vật này còn có thể là thứ gì khác ngoài một mối đe dọa được đây?
Họ sẽ tận diệt Sinh Dạng, Aslan nhận ra. Đưa thẳng từ trại tập trung vào phòng hơi ngạt. Và chính các tòa án ra đời nhằm trừng trị tội ác diệt chủng sẽ xuống tay làm điều đó.
[1]
Một chuỗi các phiên tòa tổ chức trong giai đoạn 1945 - 1946, truy tố tội ác chiến tranh do lãnh đạo Đức Quốc Xã thực hiện trong Thế Chiến II. [N.D.]
[2]
Viết tắt của International Criminal Court, tức Tòa án Hình sự Quốc tế. [N.D.]
[3]
Tức bộ phim Tận thế đêm nay do Francis Coppola đạo diễn và cuốn tiểu thuyết Giữa lòng tăm tối do Joseph Conrad sáng tác. Cả hai đều có sự xuất hiện của một nhân vật tên Kurt, thủ lĩnh tàn bạo của một tiền đồn ẩn sâu trong nơi rừng rú. [N.D.]
[4]
Aslan là tên của Đại Sư Tử, đấng sáng thế trong bộ tiểu thuyết Biên niên sử Narnia của C. S. Lewis. [N.D.]