Hắc báo truyền kỳ

Hắc báo truyền kỳ

Lượt đọc: 15 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Hồi thứ nhất
thợ săn nơi núi sâu

❊ ❊ ❊

Trời cao mây nhạt, đàn nhạn bay về phương nam. Tiết trời tháng mười nhuốm màu vàng óng, lập đông đã qua, gió lạnh từng cơn thổi tới. Trong dãy Đại Biệt Sơn nằm giữa địa phận hai tỉnh Ngạc và Dự, núi non trùng điệp, lá rụng bay đầy, cỏ dại ngả vàng, một khung cảnh đầu đông hiu quạnh.

Một thợ săn trẻ tuổi chừng mười sáu, mười bảy, sau khi bán hết số thú săn được, mua về một ít gạo, từ Lý Gia Tập rẽ ra, men theo con đường núi quanh co đi về phía vùng núi sâu đầy mây mù. Chàng thợ săn trẻ này có đôi mắt hổ, trán én, tay chân linh hoạt, ánh mắt mày thanh toát lên vẻ thông minh lanh lợi, nhìn qua là biết ngay một tay leo núi vượt đèo cừ khôi.

Lý Gia Tập cách cửa ải nổi tiếng Vũ Thắng Quan không xa, tọa lạc dưới chân núi Kê Công, là một đầu mối giao thông quan trọng của người qua kẻ lại. Tuy Lý Gia Tập không lớn, chỉ có một con phố chính lót đá xanh, nhưng cũng đủ cả quán trà, tửu lâu, khách điếm và sòng bạc để tiện cho khách qua đường ăn ở, giải trí. Núi Kê Công là một thắng cảnh trong dãy Đại Biệt, đỉnh núi kỳ vĩ, đá lạ, suối trong, rừng biếc, mây mù bao phủ, đường núi u tịch quanh co, nên người qua lại Lý Gia Tập mỗi ngày không phải là ít.

Chàng thợ săn rời khỏi Lý Gia Tập, đi được chừng hai mươi dặm, đến một bãi cỏ tương đối thoáng đãng. Phía trước là một cánh rừng thưa, con đường nhỏ xuyên qua rừng mà đi. Lúc này, mặt trời đã xế chiều, ráng chiều đỏ rực, núi rừng vắng lặng, từ ngôi làng xa xa đã thấy khói bếp bay lên. Bằng khứu giác nhạy bén đặc thù của mình, chàng thợ săn chợt ngửi thấy mùi máu tanh nồng nặc trong rừng. Chàng lấy tay che nắng nhìn về phía trước, không ngờ nhìn thấy hai thi thể nằm ngổn ngang trên đường mòn trong rừng. Phía trước không xa lại có thêm hai thi thể nữa. Trong lòng hoảng sợ, chàng không khỏi quay đầu nhìn lại, có lẽ vì lúc nãy vội vã về nhà nên không để ý xung quanh, giờ mới phát hiện ra hai thi thể nam nữ nằm trong bụi cỏ bên cạnh. Chàng thầm nghĩ: "Mẹ ơi! Sao hôm nay mình đen đủi thế này! Gặp phải nhiều người chết như vậy". Ai đã giết họ? Chàng sợ đến mức không dám nhìn thêm, thầm nhủ: "Mình phải mau chóng rời khỏi chốn thị phi giết người này, nếu không, gặp phải người của quan phủ, họ bảo mình cướp bóc giết người, chẳng phải sẽ bị lôi đi chém đầu sao? Hơn nữa, trên người mình lại có một con dao săn, đến lúc đó có nhảy xuống sông Hoàng Hà cũng không rửa sạch tội".

Chàng thợ săn không dám đi theo đường núi. Chàng từng nghe người lớn tuổi nói, một người tuyệt đối không được bước qua thi thể, bước qua rồi thi thể sẽ bật dậy, ôm chặt lấy mình. Thế là chàng chạy vào cánh rừng thưa, định vòng qua đây để tìm đường về nhà. Ai ngờ vừa chạy vào rừng không bao xa, chân chàng bị vật gì đó vướng phải, "bộp" một tiếng, ngã nhào xuống đất, cả túi lương thực đeo trên vai cũng văng sang một bên. Chàng nghĩ: "Sao mình lại bất cẩn vấp ngã thế này? May mà đây là đất bằng, chứ nếu ở trên núi hay bên bờ suối, chẳng phải là mất mạng rồi sao?".

Chàng thợ săn định đứng dậy, nhưng một chân dường như bị thứ gì đó quấn lấy không thể cử động. Quay đầu nhìn lại, chàng sợ đến hồn bay phách lạc, suýt chút nữa ngất đi. Thứ túm lấy chàng không phải cỏ dại, dây leo hay gai góc, mà là một bàn tay to lớn đầy máu. Bàn tay này thò ra từ trong bụi cỏ, nơi đó cũng đang nằm một người chết.

Một người đã chết mà lại có thể thò tay ra túm lấy chân mình, mình đâu có bước qua người ông ta! Chàng thợ săn tuy ngày thường gan dạ, lúc này cũng không khỏi sợ hãi, chàng kêu lớn: "Đại thúc, cháu không có nhảy qua người ông đâu! Ông đừng bắt cháu, thả cháu ra đi, sau này cháu sẽ mua tiền giấy, hương nến đến cúng bái ông, để ông sớm được lên trời".

Một giọng nói thều thào truyền ra từ bụi cỏ: "Tiểu huynh đệ, đa tạ cậu, ta không cần tiền giấy, hương nến".

"Ông, ông, ông muốn gì? Muốn, muốn, muốn cháu mời hòa thượng, đạo sĩ đến làm lễ cầu siêu cho ông sao? Cháu, cháu, cháu không có nhiều tiền đâu, cháu chỉ là một thợ săn nghèo thôi".

"Tiểu huynh đệ, ta vẫn chưa chết".

Chàng thợ săn không khỏi mở to mắt: "Cái gì? Ông chưa chết? Ông túm lấy cháu làm gì? Cháu đâu có sát hại ông!".

"Tiểu huynh đệ, ta cầu cậu một chuyện".

"Được rồi, ông đừng nói nữa, cháu biết ông muốn cầu cháu chuyện gì, là muốn cháu cứu ông. Đại thúc, ông không cần nói cháu cũng sẽ cứu ông. Đại thúc, ông thả cháu ra trước đã, rồi cháu đỡ ông dậy, cõng ông đến trấn tìm thầy thuốc chữa trị".

"Tiểu huynh đệ, ta bị thương quá nặng, e rằng dù là Đại La Thần Tiên đến cũng không cứu sống được ta".

"Không đâu, thầy thuốc ở Lý Gia Tập y thuật cực giỏi, người trong trại của chúng cháu dù có gãy tay gãy chân ông ấy cũng chữa được".

Người kia cười khổ: "Tiểu huynh đệ, đa tạ lòng tốt của cậu. Ta biết thời gian của mình không còn nhiều, chỉ cần cậu hứa làm cho ta một việc, ta chết cũng nhắm mắt".

"Đại thúc, ông nói đi, ông muốn cháu làm việc gì?".

"Mang giúp ta một miếng vải máu".

"Một miếng vải máu?".

"Phải! Một miếng vải máu, ở trong ngực ta. Sau khi lấy ra, làm phiền cậu đến Quảng Châu một chuyến, tìm Tổng tiêu đầu Phùng của Võ Uy tiêu cục, đích thân giao miếng vải máu này cho ông ấy, tuyệt đối không được giao cho người khác, càng không được nói với bất kỳ ai là cậu có miếng vải máu này".

"Phủ Quảng Châu ở nơi nào? Có xa không?".

"Tiểu huynh đệ, phủ Quảng Châu nằm ở ven biển Nam Hải, cách đây chừng mấy ngàn dặm, cậu chỉ cần đi về phía nam, dọc đường hỏi thăm người ta là sẽ tìm được Quảng Châu".

Chàng thợ săn khó xử: "Xa thế này, cháu đi bằng cách nào đây! Cháu lớn thế này, đến Vũ Thắng Quan hay thành Tín Dương còn chưa từng đi qua".

"Tiểu huynh đệ, ta biết làm khó cậu quá. Nhưng ta đã là người sắp chết, chỉ còn biết cầu xin cậu, cậu nhất định phải hứa với ta, nếu không, ta chết cũng không nhắm mắt, làm ma cũng sẽ quấn lấy cậu".

"Không không! Tuyệt đối đừng quấn lấy cháu, cháu, cháu, cháu hứa với ông là được chứ gì".

Người kia an lòng cười: "Tiểu huynh đệ, họ Hoắc ta đa tạ cậu. Trong ngực ta còn chút bạc vụn, cậu cầm lấy, coi như phí đi đường".

"Đại thúc! Cháu không cần đâu, dọc đường cháu săn bắn kiếm sống, sẽ không chết đói đâu".

"Tiểu huynh đệ, cậu cứ cầm lấy đi, cậu không lấy thì người khác cũng sẽ lấy thôi, ta đưa cho cậu, trong lòng cũng thấy dễ chịu hơn. Tiểu huynh đệ, nhớ kỹ, sau khi gặp Tổng tiêu đầu Phùng, hãy nói với ông ấy rằng: Mỹ nhân xanh ở trong vải máu".

"Mỹ nhân xanh? Mỹ nhân xanh gì cơ?".

Thế nhưng người họ Hoắc đã nhắm mắt xuôi tay, không còn trả lời được nữa, bàn tay nắm lấy chàng thợ săn cũng lỏng ra. Chàng thợ săn ngẩn người hồi lâu mới từ từ đứng dậy, nghĩ thầm: Việc ông ấy yêu cầu mình làm, mình có nên đi hay không? Nếu không làm, liệu ông ấy có biến thành oan hồn quấn lấy mình không? Nếu làm, Quảng Châu cách xa mấy ngàn dặm, mình phải đi bao nhiêu ngày mới tới? Nhưng mình đã hứa rồi, không làm thì có lỗi với ông ấy không? Thôi bỏ đi, coi như mình xui xẻo tột cùng, hướng nào không đi, lại đâm đầu vào cánh rừng này, lại còn bị ông ấy túm được, không làm không được. Chàng thật không hiểu, người chết này, sao không bảo mình mang thứ gì khác, lại cứ phải là một miếng vải máu? Miếng vải máu này quan trọng lắm sao? Lại còn phải mang đến tận phủ Quảng Châu xa xôi vạn dặm.

Chàng thợ săn lại nhớ đến câu "Mỹ nhân xanh ở trong vải máu". Chàng thấy mơ hồ, sao một mỹ nhân xanh lại ở trong vải máu được? Mỹ nhân xanh là thứ gì? Là báu vật hay là một người? Là người? Không thể nào, người sao có thể gói trong một miếng vải máu. Xem ra e rằng là một báu vật rất quý giá, nên mới cầu mình mang đến Quảng Châu. Mình phải xem thử đây rốt cuộc là báu vật gì.

Dưới sự thôi thúc của tính tò mò, chàng thợ săn ngập ngừng một lát rồi thò tay vào ngực người chết, quả nhiên lấy ra một miếng vải máu không lớn lắm. Miếng vải máu này dường như là do người chết lúc sinh thời cắt ra từ áo mình. Trong ánh hoàng hôn, chàng nhìn kỹ, làm gì có mỹ nhân xanh nào? Chẳng có gì cả, trên vải chỉ vẽ một vài ký hiệu bằng máu. Chàng thợ săn có chút thất vọng: Chỉ là một miếng vải máu thế này mà bắt mình mang đến tiêu cục ở Quảng Châu sao? Hay là mình sờ nhầm, trong ngực ông ta còn một miếng vải máu khác gói mỹ nhân xanh?

Chàng thợ săn không yên tâm, lại thò tay vào ngực người chết, cuối cùng lấy ra từ thắt lưng của ông ta một chiếc túi vải nhỏ, túi vải cũng dính máu, bên trong dường như có vật cứng. Chàng nghĩ: Có lẽ bên trong đựng mỹ nhân xanh rồi. Thế là mở ra xem, đúng là báu vật thật, nhưng không phải mỹ nhân xanh gì cả, chỉ là mấy miếng bạc vụn và hơn mười đồng tiền xu. Chàng thợ săn lại ngẩn người, xem ra trên người người chết căn bản chẳng có báu vật mỹ nhân xanh nào, chỉ là một miếng vải máu và một cái ví tiền mà thôi.

Không còn cách nào khác, đã hứa rồi thì chỉ đành mang miếng vải máu có ký hiệu và ví tiền này đến Quảng Châu vậy. Dù có vất vả, vẫn hơn là tâm bất an vì bị oan hồn quấn thân. Hơn nữa, lúc còn sống cha cũng thường dạy chàng, đã hứa làm việc gì cho người ta thì nhất định phải làm, không được thất hứa, nếu không thì đừng có hứa. Cái gọi là "người mà không có tín thì không đứng vững được". Ai bảo mình sợ hãi, vội vã hứa với người ta làm gì?

Chàng thợ săn cẩn thận bỏ miếng vải máu và túi tiền vào trong ngực, nhặt lại túi lương thực lúc nãy bị vấp ngã văng ra, đang định chạy đi thì không khỏi ngoái đầu nhìn người chết trong bụi cỏ. Chàng chợt nghĩ: Mình cứ thế mà đi, để ông ấy nằm trong rừng này, nửa đêm chẳng phải sẽ bị thú dữ tha đi sao? Hoặc là cắn xé không ra hình thù gì? Như vậy có tàn nhẫn quá không? Thôi thì mình làm việc tốt, chôn cất ông ấy cho rồi. Thế là chàng lại đặt lương thực xuống, rút dao săn ra, định đào một cái hố để chôn cất vị đại thúc đã khuất này.

Chàng thợ săn đào được một lúc, lại nhớ đến sáu cái xác trên con đường núi phía bên kia. Nghĩ thầm: Mình không thể chôn một người mà bỏ mặc những người kia được? Họ chẳng phải cũng sẽ bị thú dữ tha đi sao? Họ không trách mình thiên vị sao? Thôi được, đã làm việc tốt thì làm cho trót, chôn cất tất cả bọn họ, để họ khỏi phải làm mồi cho thú dữ, rồi chạy đến trước mặt Diêm Vương cáo trạng mình thiên vị. Muốn chôn cất nhiều người chết thế này, mình chi bằng tìm một cái hố lớn thì hơn, cứ đào thế này thì đến bao giờ mới xong?

Chàng thợ săn tranh thủ ánh hoàng hôn mờ ảo tìm kiếm xung quanh, muốn tìm một chỗ trũng. Quả nhiên không xa có một cái hố lớn, thế là chàng khiêng sáu thi thể trên đường mòn trong rừng vào hố. Khi khiêng đến thi thể thứ sáu, chàng lại phát hiện cách đó không xa còn một cái xác lão già mặc áo đen. Nghĩ thầm: Sao lại có thêm một cái xác nữa? Rốt cuộc trong rừng này đã chết bao nhiêu người vậy! Không còn cách nào khác, đã động tay rồi thì thêm một người cũng chẳng sao. Chàng khiêng xong sáu thi thể bên này, lại khiêng vị đại thúc nhờ mình làm việc vào trong hố, rồi mới đi khiêng lão già kia. Ai ngờ khi đi khiêng thi thể lão già, lại phát hiện thêm một thi thể nằm cách lão già vài ba bước chân. Chàng thợ săn lại ngẩn người, sao lúc nãy mình không phát hiện ra? Chẳng lẽ mình nhìn không rõ? Không được, mình phải nhìn kỹ lại xung quanh, rốt cuộc trong rừng này đã chết bao nhiêu người.

Chàng thợ săn đi quanh thi thể một vòng, không thấy còn người chết nào khác, thế là khiêng thi thể lão già chạy đến bên hố đặt xuống, rồi quay lại tìm thi thể thứ chín. Ai ngờ khi đi chuyển thi thể thứ chín, bên cạnh lại xuất hiện thêm một cái xác nữa. Lần này, chàng thợ săn càng ngẩn ngơ. Lúc nãy mình rõ ràng nhìn kỹ là không còn thi thể nào khác, sao lại thêm một cái nữa? Chẳng lẽ thi thể này từ dưới đất chui lên? Hơn nữa, thi thể này giống hệt thi thể lão già mà mình vừa khiêng đi, cũng là một lão già mặc áo đen, không lẽ lúc nãy mình vội quá nên không nhận ra? Đành phải khiêng thi thể lão già này vứt vào hố, rồi chạy về khiêng thi thể cuối cùng. Chàng thợ săn trước sau đã khiêng tổng cộng chín người chết, đã gần xong, định khiêng nốt người cuối cùng rồi ngồi xuống nghỉ ngơi, sau đó mới xúc đất lấp hố. Khi chàng thợ săn chạy về định khiêng người chết cuối cùng, bên cạnh lại xuất hiện thêm một thi thể nữa, lần này làm chàng sợ chết khiếp. Trời ơi! Sao những xác chết này khiêng mãi không hết thế này? Chẳng lẽ mình gặp ma thật rồi! Chàng nhìn kỹ dưới ánh hoàng hôn mờ ảo, lại là thi thể một lão già mặc áo đen, giống hệt hai lão già đã khiêng đi trước đó. Chàng thợ săn sợ đến mềm nhũn cả người, không thể không tin là có ma. Chàng quỳ xuống dập đầu nói: "Lão nhân gia, ông lão ơi, cháu thành tâm thành ý chôn cất ông, ông đừng dọa cháu, nếu ông không muốn chôn cùng bọn họ, cháu sẽ đào một cái hố khác chôn ông là được chứ gì! Ông đừng chạy qua chạy lại nữa".

Trong rừng vang lên một giọng nói già nua: "Ta tất nhiên không thích chôn cùng bọn họ rồi!". Giọng nói này lúc xa lúc gần, như từ trong rừng truyền đến, lại như văng vẳng bên tai. Chàng thợ săn không khỏi nổi da gà khắp người. Đây đúng là ma nói chuyện, vì hai cái xác trước mắt chàng vẫn nằm thẳng đơ, miệng không hề cử động, nhất là vị lão già kia, miệng càng không hề nhúc nhích. Chàng run rẩy nói: "Vậy, vậy, vậy cháu đào cái hố khác chôn ông là được. Lão nhân gia, ông muốn cháu chôn ông ở đâu?".

"Ta không muốn chôn ở đâu cả!".

"Vậy, vậy cứ để đây sao? Ông không sợ thú dữ tha đi sao?".

"Thằng nhóc hỗn xược! Ngươi tưởng ta đã chết rồi sao?".

"Ông, ông, ông chưa chết?".

"Không sai! Ta đã chết rồi, nhưng Diêm Vương không muốn nhận ta, lại đuổi ta về. Ngươi cái thằng nhóc hỗn xược này ném ta vào hố người chết, ta không chạy qua chạy lại, chẳng lẽ để ngươi chôn sống ta à?".

Chàng thợ săn không thể tin vào mắt mình, người chết rồi mà Diêm Vương không nhận, lại đuổi về? Trên đời có chuyện quái đản thế sao? Đã đuổi về rồi, sao còn nằm thẳng đơ bất động trên đất? Ông ta là thực sự sống lại, hay là hồn ma đang nói chuyện?

Chàng thợ săn không phải người trong võ lâm, đương nhiên không biết một số môn võ công thượng thừa của người võ lâm, như Quy Tức Pháp, Phúc Ngữ Công, v.v. Nếu chàng là người võ lâm thì sẽ không thấy kỳ lạ chút nào. Lão già áo đen trước mắt chàng rõ ràng là một cao thủ võ lâm tuyệt đỉnh, biết Quy Tức Pháp, cũng biết Phúc Ngữ Công, tự nhiên, khinh công lặng lẽ không tiếng động của lão, e rằng là một trong những môn khinh công số một số hai trong võ lâm hiện nay, nếu không, chàng thợ săn khiêng thi thể lão ném xuống hố, chớp mắt lão lại nằm ở chỗ cũ sao được?

Chàng thợ săn vẫn kinh nghi hỏi: "Lão nhân gia, ông thực sự sống lại rồi?".

"Thằng nhóc hỗn xược, người chết rồi mà biết nói chuyện à?".

Chàng thợ săn nghĩ lại cũng đúng, người chết rồi sao biết nói chuyện được? Cha mẹ mình chết rồi cũng đâu có nói được. Liền hỏi: "Ông, ông lão đã sống lại rồi, sao, sao không ngồi dậy?".

"Ta đi mệt rồi, ngủ một lát không được sao? Thằng nhóc hỗn xược, ngươi mau khiêng cái xác bên cạnh ta đi chôn đi, đừng đến làm phiền giấc ngủ của ta nữa".

"Dạ! Dạ!".

Chàng thợ săn thực sự không biết lão già áo đen này là ma hay người, chàng vừa sợ vừa tò mò, không dám nói thêm lời nào, khiêng cái xác bên cạnh lão già rồi vội vàng chạy đi, dùng dao săn đào đất xung quanh hố lớn, chôn cất xong bảy cái xác. Lúc này chàng đã mệt đến toát mồ hôi hột, tay chân bủn rủn, ngồi bên cạnh ngôi mộ lớn nghỉ ngơi.

Một vầng trăng non đã treo trên không trung, ánh trăng như nước, tưới lên những khe đá kỳ dị của núi Kê Công một màu trắng xóa. Chàng thợ săn tựa lưng vào một cái cây nghỉ ngơi. Gió lạnh trong núi thổi từng cơn, khắp núi khắp đồi vang lên tiếng thông reo "hì hì". Mồ hôi trên người chàng đã bị gió lạnh thổi khô, chỉ thấy toàn thân lạnh buốt, liền đứng dậy, nghĩ thầm: Lão già áo đen chết đi sống lại kia giờ sao rồi? Lão vẫn ngủ ở đó à? Không sợ lạnh chết sao? Đừng có lại chết thật rồi đấy chứ?

Chàng thợ săn vốn muốn cõng túi lương thực rời đi, nhưng sự tò mò lại thôi thúc chàng quay lại con đường núi kia xem thử. Chàng thợ săn không phải là thằng nhóc hỗn xược như lão già áo đen nói, chàng bắt gà rừng, thỏ rừng rất linh hoạt, thậm chí những con sói hung ác, xảo quyệt trong núi chàng cũng dám săn, cũng biết tính toán cho bản thân. Nhưng dù sao chàng cũng là người lớn lên trong núi sâu rừng thẳm, có mặt đôn hậu, thuần phác, chân thành của người miền núi, hơn nữa lại chưa từng đi lại trong giang hồ, không chỉ phủ thành lớn chưa từng đi, ngay cả một thị trấn lớn cũng chưa từng ghé qua, không biết sự hiểm ác, gian trá và lừa lọc của lòng người, chàng lại càng không biết tính toán hay ám hại người khác. Chàng thợ săn đến xem lão già áo đen, một mặt là tò mò, mặt khác là quan tâm. Chàng thấy lão già áo đen vẫn nằm thẳng đơ ở đó không hề nhúc nhích, thầm nghĩ: Ông lão này là ngủ rồi, hay là chết thật rồi? Hay ông ta vốn dĩ là một người chết, lúc nãy chỉ là hồn ma của ông ta nói chuyện? Chàng không nhịn được tiến lại gần để nhìn cho rõ. Đúng là một cái xác, không nghe thấy tiếng ngáy như người ngủ, ngay cả hơi thở nhẹ cũng không có. Không khỏi nói: "Lão nhân gia, không phải cháu không muốn chôn ông, mà là hồn ma của ông bảo cháu đừng chôn ông, để ông nằm ở đây. Lão nhân gia, ông yên nghỉ ở đây đi, cháu đi đây, hồn ma của ông tuyệt đối đừng đi theo cháu nhé".

Chàng thợ săn lạy lão già áo đen mấy lạy, rồi dưới ánh trăng men theo con đường nhỏ trong núi đi tiếp. Nơi chàng ở còn cách đây mười mấy dặm đường, dọc đường không một bóng người. Chàng thợ săn này không nghi ngờ gì là một thanh niên gan dạ, dũng cảm. Điều này có liên quan đến nơi chàng lớn lên. Chàng mất mẹ từ nhỏ, theo cha vào núi sâu săn bắn, thường xuyên ăn ngủ ngoài trời trong rừng sâu núi thẳm, có khi nửa tháng không về nhà, cứ mãi đuổi theo dấu vết thú rừng trong núi, hang đá, miếu hoang, cổ tự, trên cây lớn, chỗ nào chàng cũng từng ở, có khi còn nhóm lửa bên khe suối thung lũng sâu nơi thú dữ xuất hiện, dựa vào cha mà ngủ. Không chỉ luyện cho chàng một thân hình cứng cáp, chắc nịch, mà còn nuôi dưỡng tính cách dũng cảm, gan dạ khác người và tài săn bắn của chàng. Không có cung tên, chàng có thể dùng đá ném trúng thỏ rừng đang chạy, dùng một con dao săn ngắn ngủn có thể hạ gục một con sói dữ. Trong giới thợ săn, chàng không nghi ngờ gì là một thợ săn xuất sắc, cầm dao săn trong tay, ba năm gã tráng hán bình thường không thể lại gần người chàng, nên chàng mới dám một mình đi đường núi trong đêm tối.

Tình huống chàng gặp phải đêm nay, nếu là người bình thường, không bị dọa chết cũng bị dọa ngất đi. Chàng tuy giật mình, cũng có chút sợ hãi, nhưng không hề tỏ ra hoảng loạn, quay đầu bỏ chạy, mà còn có thể chôn cất người chết. Cái chàng sợ chỉ là hồn ma vô hình, nếu hồn ma thực sự muốn làm hại chàng, chàng cũng sẽ liều mạng chống trả để tồn tại, tuyệt đối không chịu ngồi chờ chết.

Năm mười bốn tuổi, cha vì làm việc quá sức, có bệnh nhỏ không chịu tìm thầy thuốc, tự tìm thảo dược trong núi chữa trị, cuối cùng kéo thành bệnh nặng, bỏ chàng lại mà ra đi. Hai năm nay, chàng một mình săn bắn kiếm sống nơi núi rừng, càng luyện cho chàng sự dũng cảm và linh hoạt. Ngoài quỷ thần ra, chàng hầu như không sợ gì cả. Tất nhiên, chuyện giết người phóng hỏa thì chàng không bao giờ làm.

Chàng đi được khoảng năm dặm, với sự cảnh giác cần có của một thợ săn, dường như phát hiện phía sau có thú dữ nào đó đang lén lút theo dõi, liền âm thầm rút dao săn ra phòng thân. Tại một khúc quanh của góc núi, chàng đột nhiên lóe người, ẩn mình sau một tảng đá để xem kẻ theo dõi là thú dữ gì. Ai ngờ nhìn lại, trên con đường phía sau chàng căn bản không có thú dữ nào, ngược lại, nơi chàng đang ẩn nấp lại có một bóng người đang đứng. Chàng vội quay đầu nhìn lại, lại kinh ngạc, người đứng sau lưng mình, không ngờ chính là lão già áo đen đã chết kia. Lão già áo đen ngược lại tỏ ra không vui nói: "Thằng nhóc hỗn xược, ngươi làm cái gì vậy? Sao vừa lóe người đã trốn sau tảng đá này? Thằng nhóc hỗn xược, ngươi gặp phải cái gì rồi?".

Chàng thợ săn ngẩn người hồi lâu: "Ông, ông, ông, ông rốt cuộc là người hay là ma?".

"Ta bây giờ cũng không biết ta là người hay là ma nữa".

"Lão nhân gia, cháu không đắc tội gì ông cả, sao ông cứ quấn lấy cháu?".

"Thằng nhóc hỗn xược, ngươi còn bảo không đắc tội ta?".

"Cháu, cháu đắc tội ông lúc nào?".

"Sao ngươi lại bỏ mặc ta ngủ trong rừng rồi một mình chạy mất? Ít nhất lúc đi ngươi cũng phải gọi ta dậy chứ, nhỡ ta bị thú dữ tha đi thì sao?".

Chàng thợ săn lại ngẩn người hồi lâu, nghĩ thầm: Ông là người đã chết rồi, sao cháu gọi ông dậy được? Người chết mà gọi dậy được thì không phải là người chết rồi! Chàng chắp tay nói: "Lão nhân gia, cháu thừa nhận đã đắc tội với ông, xin ông hãy tha lỗi cho cháu".

"Hừ! Thế còn tạm được".

"Ông chịu tha lỗi cho cháu rồi?".

"Được rồi! Ta tha lỗi cho ngươi là được chứ gì".

Chàng thợ săn vội vàng bái tạ: "Cháu Nhiếp Thập Bát đa tạ đại ân của ông, mời ông đi cho, đừng theo cháu nữa, ngày mai cháu sẽ đốt thêm nhiều tiền giấy cho ông hưởng dụng".

"Thằng nhóc hỗn xược, ngươi nói cái gì?".

"Cháu đốt thêm tiền giấy cho ông ạ, không thì ngày mai cháu ra trấn mua thêm vàng bạc mã đốt cho ông".

"Ngươi coi ta là hạng người gì? Ta là người chết à?".

"Ông không phải là người chết sao?".

"Ai bảo ta chết rồi? Chẳng phải ta đã nói Diêm Vương không muốn nhận ta, lại đuổi ta về sao?".

"Vậy, vậy, vậy ông là người sống?".

"Diêm Vương đuổi ta về, ta không phải người sống thì là cái gì?".

Chàng thợ săn Nhiếp Thập Bát thực sự không thể tin được. Ông là người sống? Người sống mà đi không có tiếng động sao? Người sống mà chớp mắt đã chạy từ trong hố ra nằm ở chỗ cũ sao? Chỉ có ma mới làm được điều đó. Chàng thợ săn vốn muốn hỏi thêm: Ông không phải là ma sao? Nhưng chàng sợ câu hỏi này làm lão già nổi giận, không dám nói ra, đành hỏi: "Ông thực sự là người sống?".

"Thằng nhóc hỗn xược, đừng nói bậy nữa! Ta đi đường cả ngày, lại còn đi một chuyến đến quỷ môn quan, bụng đói rồi, muốn theo ngươi về nhà ăn cho no bụng, ngươi không định ngay cả một bát cơm cũng không mời ta ăn đấy chứ?".

Nhiếp Thập Bát thầm nghĩ: Quỷ mà cũng biết ăn cơm sao? Thật là kỳ lạ! Được! Ta cứ để ngươi đi theo ta về nhà, xem thử ngươi ăn cơm thế nào. Vả lại, trong nhà ta có thờ một vị Quan Âm đại từ đại bi, ác quỷ nào cũng không dám bén mảng tới. Đến lúc đó, xem ngươi có sợ hay không. Hắn liền hỏi: "Ngươi thật sự muốn theo ta về nhà ăn cơm?"

"Ta không ăn cơm thì theo ngươi làm gì?"

"Lão nhân gia, trong nhà ta có thờ một pho tượng Quan Âm, ngươi nhìn thấy không sợ sao?"

"Ta sợ Quan Âm làm gì?"

Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người, thầm nghĩ: Lão quỷ này sao lại không sợ Quan Âm Bồ Tát chứ? Nghe người đời trước kể, bất kỳ ác quỷ tà thần nào, hễ thấy Quan Âm Bồ Tát đều không ai là không tránh xa. Chẳng lẽ ngươi còn hung ác hơn cả ác quỷ tà thần khác? Đến cả Quan Âm Bồ Tát cũng sợ ngươi sao? Không thể nào. Quan Âm Bồ Tát pháp lực vô biên, chỉ cần người hiển linh, bất cứ ác quỷ tà thần nào cũng đều bị thu phục. Ngươi không sợ, trừ phi Quan Âm Bồ Tát nhà ta không còn linh nghiệm nữa.

Vừa nghĩ đến việc Quan Âm Bồ Tát hiển linh, lòng Nhiếp Thập Bát lại bồn chồn không yên. Cha hắn thờ phụng Quan Âm Bồ Tát cả đời, vô cùng thành kính, nhưng không chỉ bản thân, mà ngay cả cha hắn cũng chưa từng thấy Quan Âm hiển linh lấy một lần. Thậm chí lúc cha hắn lâm bệnh nặng, Quan Âm cũng không hiển linh cứu giúp, uổng công cha hắn cả đời thắp hương khấn vái. Nếu lần này lão quỷ này tới nhà mà Quan Âm Bồ Tát vẫn không hiển linh, thì ta còn thờ phụng người làm gì nữa?

Lão già áo đen hỏi: "Thằng nhóc, ngươi đang nghĩ gì thế? Còn không mau đi?"

Nhiếp Thập Bát trấn tĩnh lại: "Được, được, chúng ta đi. Lão nhân gia, trên đường ngươi sẽ không hại ta chứ?"

"Ta hại ngươi làm gì?"

"Vậy... vậy ngươi không phải là quỷ hại người sao?"

"Nói bậy! Ta muốn hại ngươi thì đã hại từ lâu rồi, còn đợi đến bây giờ sao? Thằng nhóc, có phải ngươi muốn hại ta không?"

"Không không! Sao ta dám hại lão nhân gia chứ!"

"Thằng nhóc, nhớ kỹ đây, nếu ngươi có ý định hại ta, ta không chỉ lột da ngươi, mà còn móc cả tim ngươi ra ăn đấy."

Nhiếp Thập Bát không khỏi rùng mình. Xem ra lão quỷ hung ác này không thể đắc tội, tốt nhất nên sớm cho lão ăn no, hy vọng lão mau mau rời đi. Nhiếp Thập Bát không dám nói thêm lời nào, dẫn lão già áo đen về nhà.

Nhà của Nhiếp Thập Bát nằm trong núi Kê Công, cách thác nước suối một ngôi làng nhỏ không xa. Ngôi làng này không lớn, chỉ có bảy tám hộ gia đình, đều sống bằng nghề săn bắn, đốn củi, đồng thời trồng thêm ít rau xanh trước cửa hoặc cạnh nhà. Đi khoảng nửa canh giờ thì tới nơi. Nhiếp Thập Bát chỉ vào căn nhà tranh cô độc nói: "Lão nhân gia, đó là nhà của ta." Thế nhưng không nghe thấy lão già áo đen đáp lời, quay đầu nhìn lại thì đâu còn bóng dáng lão đâu? Trong lòng hắn lại kinh ngạc: Vừa rồi lão còn đi theo sau mình, sao chớp mắt đã biến mất? Chẳng lẽ là Quan Âm Bồ Tát nhà ta hiển linh, dọa lão không dám bám theo nữa? Nếu vậy, ta phải thờ phụng người cho tử tế mới được, sau này đi đường, tốt nhất nên mang theo cả Quan Âm Bồ Tát bên mình, để mọi ác quỷ tà thần không dám lại gần.

Nhiếp Thập Bát gọi thêm vài tiếng, không thấy lão già áo đen trả lời, đành tự mở cửa sài, đẩy cửa bước vào, dùng liềm sắt đánh đá lửa, châm đèn dầu lên.

Đúng là nhà người miền núi, nhà tranh đơn sơ, tất cả đồ đạc đều là tự tay làm, hơn nữa cũng chẳng có mấy, chế tác lại thô sơ, chỉ có một cái bàn và bốn chiếc ghế đẩu thấp. Phía chính diện là một bàn thờ, thờ bài vị tổ tiên các đời nhà họ Nhiếp, còn có một pho tượng Quan Âm bằng gỗ.

Nhiếp Thập Bát châm đèn xong, việc đầu tiên là nhìn lên bàn thờ Quan Âm, cảm kích người đã âm thầm hiển linh khiến lão quỷ không dám tới làm phiền mình. Pho tượng Quan Âm gỗ này cao chưa đầy bốn tấc, không biết xuất phát từ tay nghệ nhân dân gian nào, điêu khắc khá sinh động, ngũ quan rõ nét, mặt mang nụ cười, tay cầm nhành liễu. Đây là pho tượng đứng, xem ra niên đại đã lâu, tượng bị khói hương hun đến đen bóng. Có vẻ như thứ giá trị nhất trong nhà Nhiếp Thập Bát chính là pho tượng Quan Âm này, không biết là tổ tiên đời nào truyền lại.

Nhiếp Thập Bát đang ngắm nhìn tượng Quan Âm thì một giọng nói già nua vang lên sau lưng: "Thằng nhóc, ngươi nhìn cái gì đấy? Còn không mau đi nấu cơm?"

Hắn quay người lại, kinh ngạc đến mức không nói nên lời. Lão già áo đen không biết đã vào từ lúc nào, hiển nhiên là không hề sợ Quan Âm Bồ Tát trên bàn thờ! Xem ra Quan Âm Bồ Tát căn bản chưa từng hiển linh, mình đã mừng hụt rồi. Một lúc sau, hắn mới hỏi: "Ngươi, ngươi, ngươi vào bằng cách nào vậy?"

"Thằng nhóc, lúc ngươi vào chẳng phải ta cũng vào đó sao?"

"Vậy... vậy sao ta không thấy ngươi?"

"Lúc ngươi đẩy cửa thì ta đã vào rồi, sao ngươi thấy được?"

Nhiếp Thập Bát càng khẳng định lão già áo đen này là quỷ, hơn nữa còn là một con quỷ không sợ Quan Âm, càng không thể đắc tội. Hắn ấp úng nói: "Ta, ta, ta đi nấu cơm ngay đây, lão... lão cứ ngồi nghỉ một lát."

Nhiếp Thập Bát mò vào bếp nhóm lửa, vo gạo nấu cơm, còn cắt thêm ít thịt muối, trộn với ớt, đặt lên trên cơm hấp. Ớt có thể trừ hàn, người trong thâm sơn thường rất thích ăn. Thật ra không cần lão già áo đen thúc giục, hắn cũng định nấu cơm ăn, từ sáng đến giờ hắn đi chợ Lý Gia bán thú săn, đến tận bây giờ vẫn chưa ăn gì. Cộng thêm việc chôn cất bảy cái xác kia, hắn đã vừa mệt vừa đói. Vừa nấu cơm, hắn vừa nhìn bàn thờ Táo Quân cạnh bếp, thầm nghĩ: Đến Quan Âm Bồ Tát trên bàn thờ còn chẳng có tác dụng, e là Táo Quân nhỏ bé như ngươi cũng đã sợ chạy mất tăm rồi!

Chẳng bao lâu, Nhiếp Thập Bát đã nấu cơm xong, bưng lên bàn, cung kính mời lão già áo đen dùng bữa, thầm nghĩ: Ngươi là quỷ, ta xem thử ngươi ăn cơm thế nào. Nghe người ta nói, quỷ không biết ăn cơm, chỉ ngửi hơi cơm hơi thức ăn là được, cuối cùng vẫn là người ăn chỗ cơm canh đó.

Thế nhưng, lão già áo đen ngồi đối diện hắn không những bưng bát cơm lên, mà còn gắp thức ăn ăn ngon lành.

Nhiếp Thập Bát lại kinh nghi trong lòng, chẳng lẽ lão không phải là quỷ? Thật sự là một người sống chết đi rồi sống lại sao? Trên đời này thật sự có chuyện kỳ lạ như vậy ư? Hèn gì lão không sợ Quan Âm Bồ Tát. Nhưng một người sống, sao lại đột nhiên biến mất, rồi đột nhiên xuất hiện? Lúc ngủ còn không có hơi thở? Chẳng lẽ lão là thần tiên? Thần tiên cũng biết đói bụng sao? Nhiếp Thập Bát nhất thời không phân biệt được lão già trước mắt là người, là quỷ hay là thần tiên.

Nhưng dưới ánh đèn, nhìn rõ khuôn mặt lão, đó là một ông lão gầy gò, mày trắng tóc trắng râu trắng, hai mắt như tia điện lạnh lẽo, thần thái nghiêm nghị, khiến người ta nhìn vào hơi sợ.

Nhiếp Thập Bát vừa ăn vừa thăm dò hỏi: "Lão nhân gia, ngươi thật sự từ chỗ Diêm Vương trở về sao?"

"Ta không trở về thì làm sao ngồi đây ăn cơm được?"

"Ngươi gặp Diêm Vương rồi?"

"Gặp rồi!"

"Ông ấy trông thế nào?"

"Chẳng thế nào cả, cũng giống người thôi, có mũi, có mắt và miệng."

"Sao ông ấy lại để lão nhân gia trở về?"

"Ông ấy sợ ta vặn gãy đầu ông ấy, dỡ bỏ Diêm Vương Điện, thả hết tất cả oan hồn uổng tử ra ngoài."

Nhiếp Thập Bát lại sợ đến mức không dám nói gì. Lão già này sao lại hung ác đến thế, đến cả Diêm Vương Điện cũng dám dỡ bỏ? Không sợ Diêm Vương đày xuống mười tám tầng địa ngục, vĩnh viễn không được siêu sinh sao? Chẳng lẽ Diêm Vương cũng giống người, bắt nạt kẻ yếu sợ kẻ mạnh?

Lão già áo đen lại hỏi hắn: "Thằng nhóc, ngươi hỏi mấy cái đó làm gì?"

"Ta, ta, ta chẳng làm gì cả, chỉ là hiếu kỳ, muốn biết Diêm Vương làm sao thả ngươi về thôi."

"Giờ ngươi biết rồi đấy?"

"Ta biết rồi!"

"Ngươi có muốn đi gặp Diêm Vương không?"

"Không, không, ta không muốn đi, ngươi cũng đừng lôi ta đi."

Nhiếp Thập Bát thầm nghĩ: Ta đi rồi còn về được không?

Lão già áo đen ăn xong, Nhiếp Thập Bát hỏi: "Lão ăn no chưa? Có cần ta xới thêm bát nữa không?"

"Không cần!"

"Vậy... vậy ta rót bát nước cho lão."

"Ngươi đừng bận rộn nữa, ta có chuyện muốn hỏi ngươi."

"Ồ? Lão nhân gia, ngươi có chuyện gì muốn hỏi ta?" Nhiếp Thập Bát lẩm bẩm trong lòng, ngươi sẽ không định ở lại nhà ta không đi đấy chứ?

Lão già áo đen liếc nhìn hắn: "Thằng nhóc, có phải ngươi định mang đồ cho tên tiêu sư họ Hạ kia đến Quảng Châu không?"

"Phải! Ta định ngày mai sẽ khởi hành." Nhiếp Thập Bát nói ý rất rõ ràng, là muốn nói: Lão đừng bám lấy ta nữa, ngày mai ta đi rồi. Đồng thời thầm nghĩ: Chắc lão không theo ta tới Quảng Châu đâu nhỉ?

"Thằng nhóc, trước đây ngươi quen biết tên tiêu sư họ Hạ này à?"

"Không quen."

"Vậy sao ngươi lại mang đồ cho hắn tới Quảng Châu?"

"Lão nhân gia, không còn cách nào khác, vì ta đã hứa với ông ấy lúc ông ấy sắp chết, nếu không, ông ấy chết không nhắm mắt, hơn nữa còn biến thành quỷ bám lấy ta."

"Thế nên ngươi sợ, mới hứa với hắn?"

"Thằng nhóc, ngươi đừng nghe hắn dọa, người chết như đèn tắt, trên đời này căn bản không có quỷ."

"Cái gì!? Không có quỷ? Vậy... vậy... vậy sao ngươi lại gặp được Diêm Vương? Diêm Vương chẳng phải là hoàng đế quản lý quỷ sao?"

"Thằng nhóc, ngươi tưởng ta chết thật à?"

"Ngươi chưa chết?"

"Ngươi nhìn xem, tinh thần ta rất tốt, trên người không có vết đao, cũng không chảy máu, trông giống người đã chết sao?"

Nhiếp Thập Bát ngẫm lại cũng đúng, những người chết trong rừng, có kẻ bị chém đứt nửa thân, có kẻ bị đâm xuyên ngực, ai nấy đều đầy máu, lão già này không một vết thương, cũng không có bệnh tật, sao có thể chết được! Hỏi: "Vậy... vậy sao ngươi lại nói là gặp Diêm Vương?"

"Thằng nhóc, ta cố tình dọa ngươi, xem ngươi có gan hay không. Không ngờ thằng nhóc nhà ngươi gan to thật đấy."

Nhiếp Thập Bát kêu lên: "Vậy ngươi dọa ta làm gì? Ta mà gan nhỏ một chút, không phải bị ngươi dọa chết rồi sao?"

"Dọa chết thì đáng đời, kẻ tham sống sợ chết, để lại trên đời này cũng chẳng có tác dụng gì, chỉ làm khổ người khác và chính mình."

Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người, đây là đạo lý gì chứ? Dọa chết người còn có lý à!

Lão già áo đen cười nói: "Thằng nhóc, ngươi không chết mà!"

Một lúc lâu sau, Nhiếp Thập Bát hỏi: "Vậy là ngươi chưa từng gặp Diêm Vương?"

"Trên đời này làm gì có Diêm Vương, sao ta gặp được?"

"Cái gì? Không có Diêm Vương?"

"Không sai! Không chỉ không có Diêm Vương, mà ngay cả Quan Âm trên bàn thờ nhà ngươi cũng không có."

Lão già áo đen nói câu này khiến Nhiếp Thập Bát há hốc mồm, mở to mắt. Đây là lần đầu tiên trong đời hắn nghe thấy có người dám xúc phạm thần linh, không sợ Quan Âm nổi giận giáng tai họa sao? Nếu cha hắn còn sống mà nghe được câu này, chắc chắn sẽ đuổi lão ra ngoài.

Lão già áo đen lại hỏi: "Thằng nhóc, ngươi đã từng thấy Quan Âm bao giờ chưa?"

"Ta... ta chưa. Quan Âm dễ gặp đến thế sao?"

"Ngươi chưa từng thấy sao biết có Quan Âm? Thằng nhóc, có phải ngươi nghe mấy tên hòa thượng trong chùa nói không?"

"Phải! Là các đại sư ở Linh Hoa Tự nói. Không chỉ các đại sư nói, mà người trong làng ai cũng nói thế."

"Phụ nữ trẻ con trong làng nói là do bị người khác lừa; còn mấy tên hòa thượng trọc đầu trong chùa nói, chúng không phải nói bậy thì là tự lừa dối mình. Thằng nhóc, đừng nghe mấy thứ nhảm nhí đó, trên đời này căn bản không có yêu ma quỷ quái hay thần tiên gì cả, đều là do con người bịa ra thôi."

"Họ bịa ra để làm gì?"

"Không thế thì lấy đâu ra người đốt hương bái thần, bố thí tiền hương dầu? Lấy đâu ra bạc để xây dựng những ngôi chùa lớn cho lũ hòa thượng ở? Thằng nhóc, ngươi nhìn xem nhà ngươi vất vả bao nhiêu năm, vẫn ở trong căn nhà tranh rách nát, còn chùa chiền miếu mạo của lũ hòa thượng, đạo sĩ kia, đến cái kho củi của chúng còn tốt hơn căn nhà tranh của ngươi gấp mười lần."

Nhiếp Thập Bát không nói gì, hắn nửa tin nửa ngờ những lời của lão già áo đen. Lão lại hỏi: "Thằng nhóc, trên đời này căn bản không có quỷ, càng không có chuyện bám người, ngươi còn đi Quảng Châu không?"

Nhiếp Thập Bát suy nghĩ một chút, đáp: "Đi!"

"Cái gì? Ngươi vẫn đi?"

"Lão nhân gia, cha ta lúc sinh thời dạy ta, làm người phải giữ chữ tín, đã hứa với người ta chuyện gì thì nên làm, tuyệt đối không được nuốt lời. Huống hồ vị đại thúc kia lúc lâm chung cầu xin ta, ta đã hứa mà không làm, trong lòng có an yên được không?"

Lão già áo đen nhìn Nhiếp Thập Bát bằng ánh mắt kỳ lạ, thầm gật đầu tán thưởng, hỏi: "Từ đây đến Quảng Châu ở Lĩnh Nam xa hàng ngàn dặm, ngươi không sợ vất vả sao?"

"Ta không sợ vất vả, có vất vả cũng đành chịu, ai bảo ta đã hứa với ông ấy rồi?"

"Được, được, thằng nhóc, đây là sự vất vả ngươi tự chuốc lấy, sau này đừng oán trách người khác."

"Ta oán trách người khác làm gì?"

"Thằng nhóc, vậy sau này trên đường phải cẩn thận đấy, ta đi đây!"

Lão già áo đen nói xong, thân hình lóe lên rồi biến mất, ngay cả ngọn đèn cũng không lay động lấy một chút. Nhiếp Thập Bát cảm thấy bàng hoàng, kinh ngạc, sao lão già áo đen này lại biến mất nhanh như vậy? Chẳng lẽ đêm nay mình không gặp quỷ? Mà là một vị thần tiên đến thử thách mình? Nếu lão là thần tiên, tại sao lại nói trên đời này căn bản không có yêu ma quỷ quái hay thần tiên?

Nhiếp Thập Bát luôn sống cuộc đời giản dị, chất phác của người miền núi, ngoài niềm vui khi bắt được thú rừng và sự nguy hiểm khi đấu tranh với dã thú, cuộc sống của hắn có thể nói là tĩnh lặng không gợn sóng, đối nhân xử thế hòa nhã thiện lương. Thế nhưng kể từ khi gặp những cái xác trong rừng và bị một người sắp chết nắm lấy chân, hắn đã chứng kiến một loạt chuyện không thể tưởng tượng nổi. Một miếng vải máu, người đẹp áo xanh, còn cả lão già áo đen không biết là người, là quỷ hay là thần tiên này, tất cả đã phá vỡ cuộc sống bình yên của hắn. Hắn nghi ngờ không biết mình có đang nằm mơ không, cắn ngón tay mình, cảm thấy đau nhói, rõ ràng không phải nằm mơ, mà là chuyện có thật.

Nhiếp Thập Bát không nghĩ thông được những chuyện này, đành mặc kệ không nghĩ nữa. Lúc này trời đã gần sáng, hắn tắt đèn trùm chăn đi ngủ. Hắn ngủ một giấc đến tận mặt trời lên ba sào mới bò dậy, thấy bát đũa ăn xong tối qua vẫn bày trên bàn chưa dọn, cảnh tượng tối qua hắn và lão già áo đen ở cùng nhau lại hiện về trước mắt. Hắn chạy vào bếp dùng nước lạnh rửa mặt cho tỉnh táo, rồi lại đi kiểm tra quanh nhà, không thấy bóng dáng lão già áo đen đâu. Hiển nhiên đêm qua lão đã đi thật rồi, không quay lại nữa. Lúc lão chưa đi, Nhiếp Thập Bát rất mong lão mau mau rời đi, đừng làm phiền mình, hắn sợ lão từ tận đáy lòng, bất kể lão là người, là quỷ hay thần tiên, đều hy vọng đừng bám lấy mình. Hắn khẳng định, lão già áo đen này tuyệt đối không phải người thường, người thường nào dám vặn gãy đầu Diêm Vương, dỡ bỏ Diêm Vương Điện? Dám nói trên đời này không có Quan Âm Bồ Tát sao?

Thế nhưng sau khi lão đi rồi, lòng Nhiếp Thập Bát lại muốn gặp lại lão lần nữa, cảm thấy những lời lão nói là những điều mình chưa từng nghe qua, càng muốn xem thử hành động biến mất rồi xuất hiện đột ngột của lão vào ban ngày sẽ như thế nào, xem thử lão rốt cuộc là người hay quỷ.

Nhiếp Thập Bát không tìm thấy bóng dáng lão già áo đen, trong lòng có chút hụt hẫng, bèn thu dọn hành trang, chuẩn bị thực hiện lời hứa của mình, đi Quảng Châu một chuyến, hoàn thành việc mà tiêu sư họ Hạ đã cầu xin khi lâm chung. Hắn giống như những lần vào rừng săn bắn thường ngày, mang theo cung tên, dao săn và một số vật dụng sinh hoạt cần thiết, đầu đội nón lá Tín Dương, chân mang giày cỏ, một thân trang phục thợ săn, nói với người trong làng một câu: "Lần này ra ngoài, e là phải lâu lắm mới về được." Rồi từ biệt ngôi làng nhỏ, rời khỏi núi Kê Công nơi mình sinh ra và lớn lên, bước lên con đường vạn dặm xa xôi, bước vào thế giới mà mình chưa từng tiếp xúc. Hắn biết từ chợ Lý Gia đi về phía bắc là thành Tín Dương, đi về phía nam qua cửa ải Vũ Thắng là huyện Ứng Sơn, Hồ Quảng, ngoài ra hắn chẳng biết gì cả. Nhưng hắn có một kinh nghiệm từ cha mình: Con đường nằm dưới mũi mình, chỉ cần chịu khó hỏi han người khác, không có nơi nào là không đến được.

Nhiếp Thập Bát vượt qua cửa ải Vũ Thắng, lúc này đã qua giờ Ngọ, mặt trời đã ngả về tây. Vũ Thắng Quan là một cửa ải hiểm yếu nằm giữa những ngọn núi cao, dù là từ Ngạc vào Dự hay từ Dự xuống Ngạc, đều phải đi qua Vũ Thắng Quan, là nơi yết hầu của người Nam kẻ Bắc, khi chiến loạn nổ ra, nó càng trở thành nơi binh gia tranh đoạt.

Nhiếp Thập Bát lần đầu tiên nhìn thấy một cửa ải hùng vĩ như vậy, vừa qua khỏi Vũ Thắng Quan là đã thuộc địa phận huyện Ứng Sơn, Tùy Châu, Hồ Quảng, chỉ thấy núi non trùng điệp, một con đường dịch trạm uốn lượn quanh co giữa những ngọn núi, lúc ẩn lúc hiện, kéo dài đến tận trong mây trắng. Nhiếp Thập Bát dọc theo đường dịch trạm đi hơn một canh giờ, dọc đường rất ít khi gặp xe ngựa hay người đi đường, thầm nghĩ: Sao con đường lớn này lại không có người đi thế này? Lúc này, mặt trời đã lặn, bóng tối bao trùm mặt đất, những ngọn núi phía xa đã trở nên mờ ảo. Nếu ở núi Kê Công, Nhiếp Thập Bát hoàn toàn có thể tranh thủ ánh trăng để đi đường, hắn rất quen thuộc địa hình và lối nhỏ ở đó. Hiện tại, đã đến một nơi xa lạ, không dám mạo hiểm đi đường dưới ánh trăng, phải tìm nơi nghỉ chân mới được. Phóng mắt nhìn quanh, thấy phía trước có một ngôi làng, bèn vội vàng rảo bước.

Đây là một chợ nhỏ trên đường dịch trạm, tên là Đông Hoàng Điếm, cũng giống như chợ Lý Gia, không lớn lắm, chỉ có một con phố, có quán cơm, cũng có khách sạn. Nhiếp Thập Bát bước vào Đông Hoàng Điếm, nhưng trên đường phố không một bóng người, nhà nhà đóng cửa, ngay cả tiếng gà chó cũng không nghe thấy, như thể bước vào một khu chợ không người, trong lòng lấy làm lạ, chuyện này là thế nào? Đột nhiên, từ trong ngõ nhỏ lao ra hai gã đàn ông mặc áo xanh, tay cầm đao sáng loáng, quát: "Không được nhúc nhích!"

Nhiếp Thập Bát giật nảy mình, thầm nghĩ: Chẳng lẽ mình gặp phải bọn cướp rồi? Hèn gì chợ này không có người! Hỏi: "Các... các ngươi là người thế nào?"

Một gã hừ lạnh: "Chúng ta đang muốn hỏi ngươi là người thế nào đây!"

"Ta là một thợ săn."

"Thợ săn? Vậy ngươi chạy tới đây làm gì?"

"Ta đi ngang qua đây tìm chỗ nghỉ chân."

Hai gã áo xanh đánh giá Nhiếp Thập Bát một hồi lâu, một gã nói: "Xem ra hắn đúng là thợ săn." Gã kia nói: "Lão đệ, ngươi đi lại trên giang hồ chưa nhiều, không biết lòng người giang hồ hiểm ác, quỷ kế đa đoan, ngươi dám đảm bảo hắn không phải là thám tử của bọn cướp, cố ý giả dạng làm thợ săn à?"

Nhiếp Thập Bát kêu lên: "Sao ta lại là thám tử của bọn cướp chứ?"

"Bớt nói nhảm, đi theo chúng ta!"

"Các ngươi muốn dẫn ta đi đâu?"

"Điều đó còn xem ngươi có thành thật hay không! Đi!"

Nhiếp Thập Bát không biết hai người trước mắt là ai, nhưng chắc chắn không phải bọn cướp lớn. Vì bọn cướp sẽ không tự nhận mình là thám tử của bọn cướp, đã không phải cướp thì không sợ gì cả, mình đi theo họ có sao đâu?

Nhiếp Thập Bát ngoan ngoãn đi theo họ, đến trước cửa một khách sạn tên là Vân Lai, hai gã đẩy hắn vào trong. Một tên lính canh nhìn Nhiếp Thập Bát rồi hỏi: "Hai vị sư huynh, bắt được kẻ nào thế?"

"Một tên tiểu tặc giả dạng thợ săn."

Nhiếp Thập Bát lại kêu lên: "Sao ta lại là tiểu tặc chứ? Các ngươi đừng hiểu lầm."

"Đi! Ngươi gặp thiếu tiêu đầu của chúng ta rồi nói sau."

Nhiếp Thập Bát thầm nghĩ: Sao đám người này lại không giảng đạo lý thế nhỉ? Là quan lại trong triều à? Nhưng họ đâu có mặc trang phục quan binh, chẳng lẽ là tuần bộ trong huyện? Họ tới đây để bắt cướp à?

Nhiếp Thập Bát bị dẫn vào một căn phòng lớn, giữa phòng ngồi một cô gái lớn tuổi có thần thái uy nghiêm, sau lưng cô ta còn đứng hai cô gái đeo kiếm. Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người, một cô gái lớn tuổi như vậy là thiếu tiêu đầu sao? Là tuần bộ trong quan phủ à?

Một gã nói: "Thiếu tiêu đầu, chúng tôi bắt được kẻ có hành tung khả nghi này ở đầu trấn."

Vừa vào cửa, cô gái uy nghiêm kia đã nhìn chằm chằm Nhiếp Thập Bát dưới ánh đèn, cô ta gật đầu: "Mời hai vị sư huynh tiếp tục ra ngoài canh giữ, người này giao cho ta là được."

"Rõ! Thiếu tiêu đầu."

Hai gã áo xanh lui ra ngoài. Đây là lần đầu tiên Nhiếp Thập Bát bị các cô gái nhìn bằng ánh mắt nóng bỏng như vậy, khiến hắn vội cúi đầu, không dám nhìn họ, thầm nghĩ: Sao họ không biết xấu hổ, lại nhìn đàn ông như thế chứ?

Cô gái lớn tuổi quát hỏi hắn: "Nói! Ngươi là ai?"

"Chẳng phải ta đã nói ta là thợ săn trong núi sao?"

"Nhà ngươi ở gần đây? Là người của sơn trại nào?"

"Ta không sống ở gần đây, nếu ta sống ở gần đây thì đêm hôm khuya khoắt chạy đến cái chợ này làm gì?"

"Nhà ở đâu?"

"Trên núi Kê Công phía bên kia Vũ Thắng Quan."

"Ngươi chạy tới đây làm gì?"

Nhiếp Thập Bát định nói là nhận lời người khác, muốn đi Quảng Châu một chuyến, nhưng sau đó hắn nghĩ đến bảy người chết trong rừng, lỡ cô gái này truy hỏi, không nghi ngờ mình là kẻ sát nhân sao? Chuyện này không nói được, bèn nói: "Ta đi khắp nơi săn bắn, không thể tới đây sao?"

"Hừ! Săn bắn không ở trong thâm sơn, lại mò đến chợ vào ban đêm? Ngươi săn cái gì?"

Một cô gái sau lưng cô gái uy nghiêm nói: "Chợ này có thú mà săn sao? Xem ra ngươi không phải đến săn thú, mà là đến săn vàng bạc tài vật thì có."

Cô gái uy nghiêm quát lớn một tiếng: "Nói! Rốt cuộc ngươi là tai mắt của con đường nào, tới đây nghe ngóng tình hình?"

Nhiếp Thập Bát cuống lên: "Tôi rõ ràng là một thợ săn, sao các người lại tùy tiện vu oan cho người khác như vậy?"

"Xem ra ngươi đúng là tên tiểu tặc, không cho ngươi nếm chút khổ sở, ngươi sẽ không chịu khai ra. Tiểu Linh! Lên dạy cho tên tiểu tặc này một bài học."

"Tuân lệnh, đại tiểu thư."

Một thiếu nữ áo xanh phía sau rút kiếm bước tới, khua kiếm trước mắt Nhiếp Thập Bát, mỉm cười hỏi: "Tiểu tặc! Ngươi muốn ta cắt tai hay cắt mũi ngươi, mới chịu nói thật đây?"

Nhiếp Thập Bát mở to mắt: "Cô đừng có làm càn!"

"Vậy ngươi chịu khai rồi?"

"Cô bảo tôi khai cái gì?"

"Ngươi là do băng đảng trộm cướp nào phái tới đây để thăm dò hư thực của chúng ta?"

"Tôi tới đây thuê trọ, thăm dò hư thực các người làm gì? Vả lại, tôi còn không biết 'hư thực' là người phương nào."

"Tiểu tặc, ngươi thật biết ngụy biện."

"Tôi nói lời thật lòng, sao lại là ngụy biện?"

"Ngươi có tin ta cắt lưỡi ngươi trước không?"

"Cắt lưỡi tôi rồi, tôi còn nói được nữa sao?"

"Đương nhiên là không nói được, lại càng không thể ngụy biện nữa."

Đại tiểu thư uy nghiêm lên tiếng: "Tiểu Linh, đừng nói nhảm với hắn nữa, cứ rạch một nhát lên mặt hắn, cho hắn biết thế nào là đau đớn."

Nhiếp Thập Bát kêu lên: "Rạch một nhát lên mặt, đương nhiên là đau rồi! Có ai mà không đau chứ? Lại còn chảy máu nữa. Hay là cô để tôi rạch cô một cái, xem có đau không?"

Đại tiểu thư và hai thiếu nữ nghe thấy lời nói ngây thơ đến mức này của Nhiếp Thập Bát, cũng không nhịn được mà bật cười. Lúc này, một lão giả gần năm mươi tuổi bước vào nói: "Thiếu tiêu đầu, xem ra tiểu huynh đệ này không phải là tai mắt của bọn trộm cướp, cũng không phải người trong võ lâm, đúng là một thợ săn, thả cậu ta ra đi."

Đại tiểu thư với thân phận là thiếu tiêu đầu đứng dậy hành lễ nói: "Sử thúc, mời ngồi!"

Sau khi Sử thúc ngồi xuống liền nói với Nhiếp Thập Bát: "Tiểu huynh đệ, làm cậu chịu ủy khuất rồi! Mời ngồi!"

Nhiếp Thập Bát thở phào nhẹ nhõm: "Đa tạ lão bá."

Đại tiểu thư hỏi Sử thúc: "Thúc làm sao biết cậu ta không phải tiểu tặc?"

Sử thúc cười đáp: "Thiếu tiêu đầu, tiểu huynh đệ này phong trần bụi bặm, lời nói hoàn toàn không có chút khẩu khí của người giang hồ, hơn nữa vẻ mặt vô tà, không những là thợ săn trong núi sâu, mà còn là một chàng trai chưa trải sự đời, xin thiếu tiêu đầu đừng làm khó cậu ấy."

"Nếu thúc đã nói vậy, thì thả cậu ta ra đi."

Nhiếp Thập Bát trút được gánh nặng trong lòng, chắp tay với Sử thúc và đại tiểu thư: "Đa tạ đại bá và đại tiểu thư, vậy tôi đi đây."

Sử thúc hỏi: "Tiểu huynh đệ, cậu định đi đâu?"

"Tôi đi tìm chỗ ở chứ sao!"

"Tập trấn này đã không còn người, cậu đi đâu tìm chỗ ở?"

"Sao tập trấn này lại không có người?"

"Tiểu huynh đệ, cậu còn chưa biết sao? Có mấy toán trộm cướp sắp tới cướp phá cái trấn nhỏ này."

Nhiếp Thập Bát kinh ngạc: "Có mấy toán trộm cướp sắp tới cướp phá trấn này ư?"

Sử thúc mỉm cười: "Nếu không, người trong trấn này sao lại bỏ đi hết sạch?"

Nhiếp Thập Bát sững sờ, thầm nghĩ: Hèn gì dọc đường đi mình không gặp một ai, hóa ra là có bọn cướp lớn tới, cũng hèn gì họ bắt mình làm trộm. Sao mình vừa ra khỏi nhà đã xui xẻo, gặp phải chuyện đen đủi thế này?

Sử thúc nói tiếp: "Tiểu huynh đệ, cậu giờ này mà ra ngoài, đừng nói là không tìm được chỗ ở, nhỡ đụng độ bọn cướp, không sợ chúng chém giết cậu sao?"

"Vậy, vậy, vậy tôi phải làm sao?"

Thiếu nữ áo xanh Tiểu Linh nói: "Ngươi muốn không bị người ta chém đầu, thì phải cầu xin chúng ta thôi!"

"Cầu xin các người? Các người không sợ bọn cướp lớn sao?"

Tiểu Linh khinh khỉnh: "Cướp lớn cái gì, chỉ là một đám ô hợp, dù chúng có một hai trăm tên, đại tiểu thư nhà ta cũng không thèm để vào mắt."

Nhiếp Thập Bát nhìn họ đầy khó hiểu. Từ nhỏ cậu đã nghe cha và các chú bác trong thôn nói, binh lính với trộm cướp chẳng khác gì nhau, trộm đi như lưới, binh đi như lược. Trộm cướp cướp làng cướp trại, thường chỉ cướp của những nhà giàu có rồi vội vã rời đi; còn đại binh vừa tới, hầu như cái gì cũng cướp, như cái lược chải qua, sạch sành sanh không còn gì cả, hơn nữa thường là trộm đi rồi mới khởi binh, khiến bách tính chịu cảnh cướp bóc gấp đôi. Vì vậy người trong núi thường không sợ trộm cướp, ngược lại còn sợ quan binh hơn. Nhiếp Thập Bát cứ ngỡ họ là tuần bộ và bộ khoái của quan phủ, nên mới vội vã rời xa họ để tránh rước họa vào thân. Biết đâu tất cả mọi người trong trấn này vừa sợ trộm, vừa sợ quan binh, nên mới chạy sạch. Nhiếp Thập Bát đâu ngờ, người cậu gặp phải căn bản không phải tuần bộ hay bộ khoái quan gia gì, mà là thiếu tiêu đầu của Hùng Phong tiêu cục Trường Sa cùng bốn vị tiêu sư và hơn mười gã đường tử thủ. Họ hộ tống một chuyến tiêu từ Trường Sa tới phủ Khai Phong tỉnh Hà Nam, đi ngang qua trấn Đông Hoàng này, lúc hoàng hôn vào trấn, thấy nhà nhà đóng cửa, hộ hộ không người, như lạc vào một thị trấn chết. Sử thúc với kinh nghiệm giang hồ cực kỳ phong phú vừa nhìn đã biết có chuyện lạ. Sau khi tìm được một hai người chưa kịp rời đi trong trấn hỏi thăm, mới biết có mấy toán trộm cướp không rõ lai lịch sắp tới cướp phá thôn trại vùng này, hơn nữa còn nghe ngóng được Võ Uy tiêu cục từ Lĩnh Nam bắc thượng ngày hôm qua cũng đi ngang qua trấn này, thấy trấn không người nên hoảng hốt lên đường, ai ngờ vừa qua Vũ Thắng Quan, trong núi Kê Công liền xảy ra chuyện.

Lão tiêu sư Sử thúc giàu kinh nghiệm giang hồ vừa nghe xong đã nhạy bén nhận ra đây là cái bẫy của bọn cướp, mục đích là ép người của Võ Uy tiêu cục không dám dừng chân tại trấn nhỏ này. Cướp phá trấn nhỏ là giả, cướp tiêu trên đường hiểm mới là thật. Đừng nói là giờ đã hoàng hôn, dù là chính ngọ cũng không thể lên đường, phải ở lại trấn nhỏ, ngày mai mới lên đường, dùng một ngày để tới Vũ Thắng Quan rồi hãy dừng chân, thì không sợ bị bọn cướp cướp bóc nữa. Vì Vũ Thắng Quan có quan binh đóng giữ, là nơi đặt Tuần Kiểm Ty. Sau đó ban ngày từ Vũ Thắng Quan xuyên qua núi Kê Công, đi thẳng tới thành Tín Dương, rủi ro sẽ thấp hơn nhiều. Võ Uy tiêu cục sở dĩ xảy ra chuyện, có lẽ là vì tưởng rời khỏi trấn nhỏ là thoát khỏi bọn cướp, qua Vũ Thắng Quan là xong chuyện, có thể tiếp tục lên đường, dừng chân tại Lý Gia Tập. Ai ngờ vừa đúng lúc rơi vào cái bẫy bọn cướp đã giăng sẵn.

Sử thúc lập tức nói với thiếu tiêu đầu Dư Tái Phượng: "Dù thế nào, tối nay cứ ở lại trấn này, dù bọn cướp có tới, chúng ta cũng có chỗ hiểm để thủ, không như ở nơi đồng không mông quạnh, dễ bị bọn cướp tập kích."

Dư Tái Phượng nói: "Thúc cứ quyết định đi, đây là lần đầu con áp tiêu, mọi chuyện đều nhờ vào thúc cả!"

Dư Tái Phượng là đệ tử phái Võ Đang, Thái Cực Lưỡng Nghi Kiếm lĩnh hội được tinh túy của chưởng môn Võ Đang là Bạch Hạc đạo trưởng, là một trong những cao thủ của phái Võ Đang. Cô xuống núi chưa lâu đã đánh bại không ít cao thủ võ lâm, trên giang hồ có biệt danh là Kỳ Hồn Phượng, là con gái cả của tổng tiêu đầu Dư của Hùng Phong tiêu cục Trường Sa. Dư tổng tiêu đầu nổi danh giang hồ nhờ Kim Đao, đi nam về bắc chưa bao giờ mất tiêu, gây dựng nên cơ nghiệp Hùng Phong tiêu cục. Những tiêu sư ông thuê mỗi người đều khá nổi danh và có địa vị trên giang hồ, lại có tuyệt kỹ độc bộ võ lâm. Kim Đao Dư còn có năm vị đệ tử, ai cũng là cao thủ dùng đao, cũng trở thành tiêu sư của Hùng Phong tiêu cục.

Sử thúc là tiêu sư có thâm niên nhất trong Hùng Phong tiêu cục, có thể nói ông cùng Dư tổng tiêu đầu cùng nhau sáng lập tiêu cục này, Dư tổng tiêu đầu coi ông như anh em ruột thịt. Cây roi thép của ông không biết đã đánh bại bao nhiêu nhân vật nổi danh trên hắc đạo, trên giang hồ có biệt danh là Hoạt Uất Trì. Ông trải đời sâu, kiến thức rộng, quan hệ rộng, cả hắc đạo và bạch đạo đều có bạn bè. Lần này, Hùng Phong tiêu cục bảo vệ một chuyến tiêu quý giá tới Khai Phong, tuy là do thiếu tiêu đầu Dư Tái Phượng dẫn đội, nhưng thực chất vẫn lấy ông làm chủ. Dư Tái Phượng sở dĩ muốn áp chuyến tiêu này, chủ yếu là muốn đi lại trên giang hồ, học hỏi bản lĩnh từ Sử thúc, huống hồ cô còn là đệ tử phái Võ Đang, cô ra mặt thì người trong võ lâm sao không nể mặt? Dù có muốn ra tay cũng không thể không kiêng dè phái Võ Đang.

Chuyến tiêu này khá quý giá, có Dư Tái Phượng và Sử thúc hộ tống, Dư tổng tiêu đầu cũng yên tâm, một người kiếm pháp thượng thừa, một người cơ trí lão luyện. Họ tới Vân Lai khách điếm ở trấn Đông Hoàng, phá cửa vào ở, đồng thời phái người ra canh chừng ở hai đầu trấn, không ngờ lại đón tiếp cả Nhiếp Thập Bát...

Nhiếp Thập Bát nghe giọng điệu của thiếu nữ áo xanh, một hai trăm tên cướp mà không thèm để vào mắt, vô cùng kinh ngạc, không kìm được hỏi: "Các người là người phương nào?"

Thiếu nữ áo xanh hỏi ngược lại: "Ngươi thấy chúng ta là người phương nào?"

"Các người là người của quan phủ phải không?"

"Sao chúng ta lại là người của quan phủ được?"

Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người: "Các người không phải?"

"Chúng ta không phải người quan phủ, ngươi không cầu xin chúng ta sao?"

Sử thúc nói: "Tiểu huynh đệ, chúng tôi không phải người quan phủ, mà là người làm nghề áp tiêu trên giang hồ."

Nhiếp Thập Bát lại ngẩn người: "Làm nghề áp tiêu? Đó là nghề gì?"

Thiếu nữ áo xanh nói: "Áp tiêu mà ngươi cũng không hiểu? Chính là bảo vệ tài sản hàng hóa của người ta từ nơi này sang nơi khác. Chúng tôi đến cả lượng hàng lớn còn dám bảo vệ, chẳng lẽ không bảo vệ được ngươi sao?"

Nhiếp Thập Bát "Ồ" một tiếng: "Hèn gì các người không sợ bọn cướp lớn, tôi cứ tưởng các người là người của quan phủ chứ."

"Cái gì? Người của quan phủ thì sợ bọn cướp lớn sao?"

Nhiếp Thập Bát ngượng ngùng nói: "Vì tôi nghe các bậc cha chú trong thôn nói, quan binh sợ nhất là trộm cướp, thường là trộm đi rồi mới khởi binh."

Sử thúc hỏi: "Tiểu huynh đệ, cậu từ trước đến nay đều ở trong núi săn bắn, chưa từng đi lại trên giang hồ?"

"Chưa từng ạ, giang hồ là nơi nào vậy?" Dư Tái Phượng và hai thiếu nữ nghe vậy không khỏi bật cười, đến hai chữ "giang hồ" mà cũng không hiểu, đúng là đồ nhà quê trong núi sâu, hai vị sư huynh sao lại bắt nhầm cậu ta làm tiểu tặc chứ? Vẫn là Sử thúc nhìn chuẩn, nhìn một cái là ra ngay. Sử thúc hỏi: "Tiểu huynh đệ, cậu làm nghề săn bắn, mang theo cung tên, tên pháp bắn có chuẩn không?"

"Không chuẩn thì tôi bắt được thỏ rừng và hoẵng sao?"

"Vậy tên pháp của tiểu huynh đệ rất chuẩn rồi, không biết có thể biểu diễn vài chiêu cho chúng tôi xem không?"

"Ở đây không có thú rừng, cũng không có chim bay, tôi bắn vào đâu?"

"Tiểu huynh đệ, việc đó có gì khó? Tôi ném một chiếc tách trà ra ngoài cửa sổ, không biết tiểu huynh đệ có bắn trúng không?"

"Được! Tôi thử xem." Nhiếp Thập Bát tháo cung xuống, đặt một mũi tên lên, "Đại bá, người ném tách trà đi." "Tiểu huynh đệ, cậu chuẩn bị đi!"

Cổ tay Sử thúc kình lực khá mạnh, một chiếc tách trà màu trắng văng ra ngoài cửa sổ, bay vào bầu trời đêm như sao băng. Nhiếp Thập Bát "bằng" một tiếng, mũi tên còn nhanh hơn sao băng bắn ra, chỉ nghe "cạch" một tiếng, chiếc tách đang bay bị mũi tên bắn trúng, vỡ thành mấy mảnh, rơi xuống đất. Dư Tái Phượng và hai thiếu nữ bên cạnh cùng kinh ngạc, không ngờ tên thợ săn nhỏ này lại bắn chuẩn đến vậy, nằm ngoài dự đoán của họ. Sử thúc khen một câu: "Tiểu huynh đệ, quả là thần tiễn!"

Nhiếp Thập Bát hỏi: "Đại bá, lần này người tin tôi là thợ săn rồi chứ?"

Sử thúc ngẩn người, lập tức hiểu Nhiếp Thập Bát hiểu lầm ý mình, cười nói: "Tiểu huynh đệ, đừng hiểu lầm! Sao tôi lại không tin cậu là thợ săn được? Vừa rồi tôi chỉ muốn xem tên pháp của cậu, không có ý gì khác."

Thiếu nữ áo xanh nói với cậu: "Nếu đại thúc không tin ngươi là thợ săn, thì đã gọi chúng ta thả ngươi ra sao? Biết đâu ta đã dùng kiếm xẻo tai xẻo mũi ngươi từ lâu rồi."

Dư Tái Phượng vội quát nhẹ: "Tiểu Linh, không được vô lễ với người ta! Còn không mau mời tiểu huynh đệ ngồi?"

Tiểu Linh thè lưỡi, cười với Nhiếp Thập Bát: "Tiểu huynh đệ, mời cậu ngồi đi!"

"Không, không! Tôi đứng là được rồi!"

Vừa rồi Sử thúc mời cậu ngồi, Nhiếp Thập Bát không dám ngồi, đứng nói chuyện, giờ thiếu nữ lại mời cậu ngồi, liền vội vã từ chối.

Dư Tái Phượng tuy tính tình bướng bỉnh, đôi khi không nói lý lẽ, nhưng cô vẫn là đệ tử danh môn chính phái, rất trọng người có tài, mỉm cười hỏi: "Tiểu huynh đệ! Có phải cậu vẫn còn trách chúng ta vì hành động bất lịch sự vừa rồi không?"

"Không, không! Trước khi bọn cướp tới, tôi đột nhiên xông vào, không thể trách các người được."

"Đã vậy, sao tiểu huynh đệ không ngồi xuống?"

"Vậy... vậy tôi đa tạ tiểu thư."

Một thiếu nữ áo xanh khác dâng lên một chén trà: "Tiểu huynh đệ, mời dùng trà."

Nhiếp Thập Bát lại vội vàng đứng dậy, tỏ ra hơi lúng túng, vội nói: "Không cần, không cần! Tôi tự làm được." Quả thật, Nhiếp Thập Bát lớn chừng này chưa từng có ai dâng trà cho mình, cậu khát nước thì hoặc là uống nước suối trong núi, hoặc là xin một bát nước nhà người ta, người ta thường bảo cậu tự ra giếng mà múc nước uống, nào có ai dâng trà cho cậu? Huống hồ người dâng trà lại là một thiếu nữ xinh đẹp.

Dư Tái Phượng lại nói: "Tiểu huynh đệ luyện được tên pháp giỏi như vậy, không biết còn luyện qua môn võ công nào khác không?"

"Võ công? Võ công gì cơ?"

"Chính là đao pháp, kiếm pháp dùng để giao chiến, chém giết với người khác ấy? Tiểu huynh đệ chưa từng luyện sao?"

"Chưa từng, ngoài việc bắn tên, ném đá, vung gậy gỗ ra, tôi chẳng luyện gì cả, tôi lại không muốn đi lính đánh trận, luyện đao pháp kiếm pháp làm gì?"

"Tiểu huynh đệ săn bắn trong núi sâu rừng rậm, nhỡ gặp phải kẻ ác, trộm cướp, không có chút võ nghệ phòng thân thì không nguy hiểm sao?"

"Trong núi sâu rừng rậm, tôi sẽ không gặp nguy hiểm gì đâu."

"Ồ? Gặp phải bọn cướp cũng không nguy hiểm sao?"

"Tôi sẽ không gặp phải chúng đâu."

"Tại sao?"

"Vì bọn chúng còn chưa tới gần tôi, tôi đã phát hiện ra chúng rồi, đã trốn đi thật xa, trong núi sâu cỏ cây nhiều thế kia, chỗ nào mà chẳng trốn được."

"Gặp phải trên đất bằng thì làm sao?"

"Tôi có thể chạy mà!"

Thiếu nữ áo xanh Tiểu Linh hỏi: "Ngươi chạy nhanh lắm sao?"

"Đúng vậy, tôi chạy rất nhanh, có khi còn nhanh hơn cả thỏ."

Dư Tái Phượng và những người khác không khỏi bật cười. Đột nhiên, một tín hiệu màu đỏ bay lên không trung, Sử thúc vừa nhìn thấy liền nói: "Không ổn! Bọn cướp tới rồi!"

Dư Tái Phượng nhíu mày: "Được! Để ta ra gặp chúng!"

Sử thúc nói: "Thiếu tiêu đầu, cô đừng ra mặt trước, để tôi ra chào hỏi chúng một tiếng, nếu có thể tránh được trận giao chiến này, chúng ta bỏ chút bạc cũng đáng." "Nếu chúng không đồng ý thì sao?"

"Nếu vậy, chỉ còn cách dùng đao kiếm mà nói lý lẽ thôi!"

"Được! Thúc mau đi đi." Sau đó Dư Tái Phượng nói với thiếu nữ áo xanh còn lại, "Tiểu Bình, đi thông báo cho mọi người chuẩn bị, trông coi phòng xe tiêu, không có việc gì thì tuyệt đối không được rời đi." Tiểu Bình vâng lệnh đi ngay, Sử thúc cũng đi ra ngoài. Lúc này, một hán tử mặc đồ xanh chạy vào, Nhiếp Thập Bát nhìn một cái, chính là người đã đưa mình tới khách điếm này ở đầu trấn. Dư Tái Phượng hỏi: "Vương sư huynh, xảy ra chuyện gì rồi?" "Thiếu tiêu đầu, bọn cướp tới không ít, hơn một trăm người, đã bao vây toàn bộ trấn rồi." Đôi mắt phượng của Dư Tái Phượng lóe lên sát khí, nghiến răng nói: "Nếu chúng không biết điều, thì đừng trách ta tàn nhẫn! Vương sư huynh, bảo người bên ngoài rút về khách điếm, không có lệnh của ta, ai cũng không được ra tay."

"Rõ!" Hán tử họ Vương quay người đi mất.

Dư Tái Phượng nhìn Nhiếp Thập Bát đang sững sờ như phỗng, hỏi: "Tiểu huynh đệ! Cậu định thế nào?"

"Tôi, tôi phải làm thế nào?"

Tiểu Linh nói: "Cùng chúng ta giết bọn cướp đi!"

Nhiếp Thập Bát vội xua tay: "Tôi, tôi không làm được."

"Ngươi bắn tên chuẩn như vậy, sao lại không làm được?"

"Cô muốn tôi dùng nó để giết người?"

"Ngươi tưởng ở đây có thú rừng cho ngươi bắn giết à?"

"Không! Không! Cha tôi dặn tôi rồi, tên của thợ săn chỉ dùng để giết thú rừng, không được làm hại người."

Dư Tái Phượng không khỏi nhíu mày: "Tiểu huynh đệ, vậy cậu tự tìm chỗ trốn đi! Đừng để bọn cướp giết cậu."

"Các người, các người không trốn à?"

Tiểu Linh nhìn cậu đầy khinh bỉ: "Chúng ta không nhát gan, tham sống sợ chết như ngươi."

Câu này thực sự đã làm tổn thương lòng tự trọng của một thợ săn dũng cảm, khơi dậy sự kiêu ngạo của Nhiếp Thập Bát, nhất là ánh mắt coi thường của Tiểu Linh, còn khó chịu hơn cả bị roi quất, cậu nhảy dựng lên: "Ai nhát gan như chuột, tham sống sợ chết chứ?"

"Được thôi! Ngươi không tham sống sợ chết, thì cùng chúng ta giết bọn cướp đi!"

Dư Tái Phượng nói: "Tiểu Linh, đừng ép người ta. Tiểu huynh đệ không biết võ công, sao có thể cùng chúng ta giết cướp? Ngươi đây chẳng phải bảo cậu ta đi chịu chết vô ích sao?" Tiểu Linh nói: "Tiểu thư, con không ép cậu ta! Con chỉ muốn cậu ta dùng cung tên bắn bọn cướp từ xa, đừng để bọn chúng giết vào đây."

Lúc này, bên ngoài khách điếm lửa cháy khắp nơi. Sử thúc đang nói chuyện với bọn cướp ở ngay cửa chính khách điếm. Sử thúc không hổ là người giang hồ lão luyện, ông chắp tay nói: "Các vị anh hùng, hảo hán, Sử mỗ xin có lời! Nếu trước đây tiêu cục có điều gì đắc tội và không chu đáo, mong các vị lượng thứ, sau này Sử mỗ nhất định mang lễ vật, đích thân đưa thiếp bái phỏng, tới tận cửa nhận tội."

Nhiếp Thập Bát nghe xong cảm thấy kinh ngạc, bọn họ chẳng phải một đám trộm cướp sao? Sao lại là anh hùng hảo hán? Sử thúc có gì đắc tội với họ chứ? Cậu nhìn ra ngoài cửa sổ, chỉ thấy trong ánh lửa, hơn mười gã đại hán vạm vỡ đang đứng trên bãi đất trống trước cửa khách điếm, trong đó một đại hán mặc đồ bó sát người, che mặt, chắp tay đáp lễ nói: "Sử tiêu sư đừng khách sáo, tại hạ cùng các huynh đệ đột nhiên mạo muội tới đây, có gì kinh động, mong Sử tiêu sư thứ lỗi."

"Anh hùng khách sáo rồi! Tiêu cục chúng tôi từ trước đến nay có thể đứng vững trên giang hồ, đều nhờ các vị anh hùng hào kiệt các nơi nể mặt chiếu cố, mới có bát cơm ăn. Đêm nay tiêu cục chúng tôi mượn chỗ quý nghỉ lại một đêm, ngày mai mượn đường đi qua, mong các vị giơ cao đánh khẽ, tha cho Sử mỗ. Sau này các vị có điều gì bất tiện, tiêu cục và Sử mỗ nhất định dốc toàn lực, để báo đáp ơn chiếu cố đêm nay của các vị."

Nhiếp Thập Bát nghe xong lại càng mù mịt khó hiểu, đây chẳng phải là trấn nhỏ do quan phủ cai quản sao? Con đường đi lại chẳng phải đường quan đạo sao? Sao lại là nơi của cái đám anh hùng hảo hán gì đó này? Còn phải mượn đất mượn đường của họ?

Một tiêu cục sở dĩ có thể đứng vững trên giang hồ, đi nam về bắc hộ tiêu thông suốt, ngoài việc người mở tiêu cục võ công cực giỏi ra, còn cần một chỗ dựa vững chắc phía sau. Chỗ dựa vững chắc này, không phải là môn phái có uy vọng cực lớn trong võ lâm, thì cũng là những nhân vật có quyền thế trong quan phủ, mới khiến người trên hắc đạo các nơi không dám tùy tiện mạo phạm. Bằng không, dù ngươi có nhận được tiêu, các cao thủ của phái kia chắc chắn sẽ tìm tới cửa trả thù, hoặc san bằng sào huyệt của ngươi, kết quả là mất cả mạng. Nếu chỗ dựa là nhân vật có thế lực trong quan phủ, sẽ càng phái đại binh tới vây quét, treo bảng truy nã khắp nơi, khiến ngươi không còn chỗ dung thân. Tất nhiên, điều này đối với những tên đại đạo đơn độc, hành tung bất định thì không có tác dụng lớn. Vì thế người mở tiêu cục đều giỏi việc tạo dựng quan hệ với các bên, nhất là các hào cường có thế lực và những nhân vật hắc đạo nổi danh các nơi, càng phải tạo dựng quan hệ tốt, dịp lễ tết đều phái người tới các nơi tặng lễ, đem một phần tài sản kiếm được chia cho họ, cầu mong sự bình an trên đường. Đôi khi những tên đại đạo này tới nơi tiêu cục đóng quân, tiêu cục không những tiếp đãi nhiệt tình, còn phải bảo đảm an toàn cho họ, bằng không, dù võ công của tiêu đầu có giỏi đến đâu, chỗ dựa có lớn đến mấy, cũng khó mà áp tiêu trên giang hồ.

Vì vậy, tiêu cục thường có qua lại với một số đại đạo, lợi dụng lẫn nhau, bảo vệ lẫn nhau. Trong mắt họ, đây chính là cái gọi là nghĩa khí giang hồ. Hùng Phong tiêu cục Trường Sa từ khi thành lập tới nay chưa từng mất một chuyến tiêu nào, có thể thông suốt không bị cản trở, chính là nhờ xây dựng được mối quan hệ tinh tế này với các nhân vật hắc đạo các nơi, mỗi năm đều bỏ ra một khoản tài sản lớn để hiếu kính những nhân vật hắc đạo này. Từ đó khiến tiêu cục ngày càng thịnh vượng, lập chi nhánh ở các phủ lớn, hơn nữa còn liên lạc với các tiêu cục khác các nơi, cùng nhau chuyển tiêu. Một số tiêu cục nhỏ ở địa phương cũng bị nó nuốt chửng.

Nhiếp Thập Bát làm sao biết được những mối quan hệ tinh tế này? Cho nên một số danh môn chính phái không cho phép đệ tử của mình mở tiêu cục, sống bằng nghề áp tiêu, chính là vì lý do này, để tránh việc đệ tử của mình giao du với người trên hắc đạo, trở nên đen trắng lẫn lộn, thị phi không rõ, tổn hại đến danh tiếng môn phái.

Tất nhiên, với tư cách là chủ tiêu cục, nếu tổng tiêu đầu không có võ công thượng thừa, dưới tay không có một đám cao thủ võ lâm, sau lưng không có chỗ dựa nhất định, thì nhân vật hắc đạo cũng căn bản không thèm nể mặt.

Khi nhóm đạo tặc này xuất hiện tại Vân Lai khách sạn, trong lòng Sử thúc đã thầm thì tính toán: Những hào kiệt trên lộ trình này, bất kể là đường thủy hay đường bộ, như Cái Bang ở núi Quân Sơn hồ Động Đình, Song Nghỉ ở Trường Sa, Tam Hùng ở Đồng Bách, trại nhà họ Tiêu ở núi Đại Hồng thuộc Tùy Châu, năm hổ nhà họ Tưởng ở Thiên Trung Sơn thuộc Trú Mã Điếm, v.v., mỗi dịp lễ tết đều đã nhận quà biếu, tuyệt đối sẽ không ra tay với tiêu cục. Vậy đây là cường nhân từ đâu tới? Liệu có phải là đám đạo tặc mới ra đời, chưa từng nghe danh Trường Phong tiêu cục nên mới cả gan tới cướp tiêu của bọn họ? Khi Sử thúc chào hỏi đám người kia, nhận thấy kẻ cầm đầu bịt mặt, trong lòng liền hiểu ra vài phần. Đây có lẽ là đám đạo tặc mới vào nghề, không muốn để lộ chân diện mục, cực kỳ muốn phô trương thực lực để ép tiêu cục mỗi dịp lễ tết phải chuẩn bị lễ vật cho chúng. Với lần đầu giao thiệp, người của tiêu cục không tiện hỏi đối phương là người ở ngọn núi nào. Nếu không sẽ khiến đối phương hiểu lầm rằng tiêu cục sau này sẽ tìm họ tính sổ, dẫn đến một trận chém giết đẫm máu. Vì vậy, Sử thúc dùng lời lẽ thăm dò ý định của đối phương trong đêm nay. Chỉ cần không phải cố tình tới cướp tiêu thì mọi chuyện đều dễ nói. Đây là điều mà Nhiếp Thập Bát mãi vẫn không hiểu được.

Tên hán tử mặc gấm bịt mặt nói: "Báo đáp thì chúng ta không dám mong, Sử tiêu sư, ý chúng ta đến đêm nay là..." Sử thúc vội nói: "Biết! Biết cả rồi, chắc là các vị đang có chút khó khăn, tại hạ đặc biệt chuẩn bị hơn một trăm lượng bạc để hiếu kính các vị, mong các vị tạm thời nhận cho, sau này mỗi dịp lễ tết, nhất định sẽ có một phần hậu lễ dâng lên."

Nhiếp Thập Bát suýt chút nữa không dám tin, hơn một trăm lượng bạc cứ thế mà dâng không cho đám anh hùng hảo hán đang cầm đao lửa này sao? Hơn một trăm lượng bạc, đủ cho tất cả người trong thôn của mình ăn tiêu hai ba năm, mà còn có lễ gửi mỗi dịp lễ tết nữa ư?

Dư Tái Phong cũng là lần đầu thấy Sử thúc giao thiệp với đạo tặc, thầm nghĩ hèn gì cha mình mỗi dịp lễ tết lại phái không ít người mang từng đợt quà cáp và bạc đi khắp nơi lo liệu. Mở tiêu cục như vậy thì có gì vẻ vang? Chẳng phải là tiếp tay cho đạo tặc, trở thành đồng bọn với chúng sao? Thế thì nhân gian còn chính nghĩa gì nữa?

Thực ra đây cũng là cách chẳng còn cách nào khác của Sử thúc khi lăn lộn trên giang hồ. Trừ khi đừng mở tiêu cục trên giang hồ, nếu không thì hắc đạo hay bạch đạo đều phải mua chuộc quan hệ, bằng không thì một tấc cũng khó đi. Đúng như người ta thường nói "phá tài tiêu tai", tiền kiếm được trên giang hồ thì dùng trên giang hồ, ngươi sống được, ta cũng sống được.

Tên mặc gấm bịt mặt cười lớn: "Sử tiêu sư, đừng hiểu lầm ý định của tại hạ và các huynh đệ, chúng ta không phải tới để xin bạc."

Sử thúc hơi sững người, nói: "Các vị không phải là chê ít chứ? Chuyện này dễ thương lượng, Sử mỗ bạo gan thêm năm mươi lượng nữa, không để các vị đi tay không về."

"Sử tiêu sư, ngài cứ yên tâm, chúng ta đối với chuyến tiêu mà quý cục đang bảo vệ, tuyệt đối không có ý định ra tay."

Sử thúc ngơ ngác: "Ồ? Ý các vị là..." Sử thúc thầm nghĩ: Không lẽ tới tìm thù oán?

"Không biết các vị muốn mượn Sử mỗ thứ gì?"

"Lam Mỹ Nhân!"

Đến lúc này, không chỉ Sử thúc ngơ ngác, Dư Tái Phong ngơ ngác, mà Nhiếp Thập Bát nghe xong còn kinh ngạc hơn? Lam Mỹ Nhân? Chẳng lẽ là Lam Mỹ Nhân được nhắc đến trên mảnh vải máu mà vị Hạ thúc kia gửi gắm cho mình trước lúc lâm chung? Lam Mỹ Nhân sao lại ở đây? Chẳng phải ở trong mảnh vải máu sao? Hơn nữa, Lam Mỹ Nhân rốt cuộc là một mỹ nhân, hay là một món bảo vật quý giá? Nhiếp Thập Bát không khỏi nghi hoặc lắng nghe tiếp.

Sử thúc ngơ ngác: "Lam Mỹ Nhân!"

"Không sai, tại hạ tới vì Lam Mỹ Nhân, tuyệt đối không phải vì chuyến tiêu quý cục đang áp tải."

"Anh hùng xin thứ lỗi, trong số tiêu chúng ta bảo vệ lần này, không có người nào tên là Lam Mỹ Nhân cả." Tên mặc gấm bịt mặt cười lạnh: "Sử tiêu sư, đừng giả ngốc với tại hạ nữa! Lam Mỹ Nhân là một món bảo vật hiếm có trên đời, không phải là một nữ tử. Việc này trên giang hồ ai ai cũng biết, với thân phận của Sử tiêu sư, lẽ nào lại không biết?"

"Sử mỗ thực sự không biết."

"Được! Tại hạ không cần biết ngài biết hay không, chỉ muốn mượn Sử tiêu sư dùng một chút, sau này sẽ trả lại nguyên vật, ta nghĩ Sử tiêu sư sẽ không đến mức không nể mặt chứ?"

"Sử mỗ quả thực không có món bảo vật này, nếu có, cho các vị mượn xem thì đã sao?"

"Sử tiêu sư là không muốn cho mượn?"

"Sử mỗ phải nói thế nào, các vị mới tin?"

"Sử tiêu sư, ngài có thể mở tất cả các rương trên xe tiêu ra cho tại hạ xem được không?"

Yêu cầu tiêu cục mở tất cả các rương đang bảo vệ ra, đây chẳng khác nào một sự sỉ nhục và khinh thường cực lớn đối với tiêu cục, người làm nghề bảo tiêu không thể nào dung thứ được. Đừng nói là trên rương có niêm phong của chủ hàng và khóa tốt, dù không có thì cũng không thể để người khác mở ra. Nếu không, hàng hóa khi đến tay người nhận sẽ khiến họ nghi ngờ, hơn nữa còn làm tổn hại danh dự của tiêu cục. Một ngọn lửa giận dữ bùng lên trong lòng Sử thúc, đây quả thực là ức hiếp người quá đáng, đối phương căn bản không coi mình ra gì. Nhưng Sử thúc nghĩ lại, tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu, cố gắng nén giận xuống, nói: "Các hạ yêu cầu như vậy là phá hỏng quy củ của tiêu cục, thứ cho Sử mỗ không thể đáp ứng."

"Tại hạ cũng biết quy củ của tiêu cục, nhưng xin Sử tiêu sư yên tâm, dưới tay tại hạ không ít người tài, có kẻ biết mở khóa, có kẻ giỏi bóc niêm phong rồi dán lại như cũ, sau khi mở ra xem xong, mọi thứ vẫn y nguyên, sẽ không làm hỏng danh dự của quý cục."

"Nếu sau khi các hạ xem xong mà không có thì sao? Có phải sẽ rút lui không?"

"Xin lỗi, trong rương không có, tại hạ đành phải lục soát hành lý và thân người của tất cả mọi người trong quý cục."

"Cái gì? Các hạ muốn lục soát tất cả chúng ta?"

"Tại hạ quyết tâm phải mượn được món bảo vật này."

Lục soát thân thể, đây lại càng là sự sỉ nhục lớn lao. Nếu để đạo tặc lục soát, sau này còn mặt mũi nào mà đi lại trên giang hồ? Hùng Phong tiêu cục còn có thể tồn tại được nữa không? Sử thúc dù là người gỗ cũng phải nổi giận, lạnh lùng nói: "Ta thấy các hạ không phải tới mượn bảo vật gì, mà là cố tình tới gây sự."

"Sử tiêu sư muốn nói thế nào cũng được."

Một tên đạo tặc phía sau kẻ mặc gấm nói: "Chúng ta chính là cố tình tới gây sự thì đã sao? Chọc giận chúng ta, chúng ta không những cướp sạch tiêu, mà còn tiễn cả người xuống âm phủ."

Bất thình lình, một bóng người lướt xuống, nói: "Sử thúc, người tránh ra, để con nói chuyện với bọn chúng."

Người tới không phải ai khác, chính là thiếu tiêu đầu đang giận dữ tột độ - Dư Tái Phong. Nàng đã nghe rõ mồn một trên lầu khách sạn, thấy đám đạo tặc ngang ngược vô lễ như vậy, làm sao còn nhẫn nhịn được nữa? Nàng nhảy vọt từ cửa sổ xuống, mắt như điện lạnh, mặt tựa sương giá, trong giọng nói dịu dàng ẩn chứa sát khí: "Các người muốn xem xe tiêu của chúng ta cũng được, nhưng bổn cô nương lại muốn mượn các người một thứ trước."

Dịch Thuật: Gemini AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 14 tháng 6 năm 2026

Truyện bạn đang đọc dở dang