"Tri Bách đã soạn xong chương mới trong máy tính, nhưng nơi anh ấy ở lại bị mất điện, ra tiệm net cũng không kịp nữa rồi. Tri Bách cần chuyên cần này, đành phải dùng hạ sách, nhờ tôi đăng một chương tư liệu dài ba ngàn chữ. Ngày mai, anh ấy nhất định sẽ viết thêm chương mới để bù đắp cho các độc giả, mong mọi người lượng thứ."
Bảng thời gian từ năm Đại Nghiệp thứ sáu.
Năm Đại Nghiệp thứ sáu (610):
1. Năm 610, nhà Tùy tiếp tục đào kênh Giang Nam, thông đoạn từ Trấn Giang đến Hàng Châu, dài 400 km.
2. Để phô trương sự giàu có, Tùy Dạng Đế triệu tập sứ giả và thương nhân các dân tộc thiểu số vùng Tây Vực về Lạc Dương.
3. Biến loạn tại Kiến Quốc Môn: Mùng một Tết năm Đại Nghiệp thứ sáu (610), trời chưa sáng, hàng chục người tại Đông Đô mặc áo trắng, đội khăn tang, đốt hương cầm hoa, tự xưng là Di Lặc Phật, tiến vào Kiến Quốc Môn (Đoan Môn của Hoàng thành). Người canh cửa đều quỳ lạy, nhưng nhóm người này bất ngờ cướp vũ khí của vệ sĩ, mưu đồ làm loạn. Tề Vương Kế tình cờ gặp sự việc, chém đầu toàn bộ hàng chục người này. Đông Đô lập tức truy quét gắt gao, liên lụy đến hơn ngàn gia đình.
4. Tháng ba năm Đại Nghiệp thứ sáu (610), Vương Thế Sung thay Trương Hành làm Giám Giang Đô Cung.
5. Tháng ba, ngày Quý Hợi (mùng hai), Dạng Đế lần thứ hai ngự giá du ngoạn Giang Đô.
6. Dạng Đế cho rằng các quan lại theo xa giá mặc áo lót bằng lụa không tiện hành quân, năm đó lần đầu ban chiếu: "Người theo xa giá đi xa, quan văn võ đều mặc nhung phục. Quan từ ngũ phẩm trở lên mặc áo bào tím, quan từ lục phẩm trở xuống mặc áo bào màu đỏ tía hoặc xanh lục, lại tư mặc áo xanh, dân thường mặc áo trắng, đồ tể thương nhân mặc áo đen, binh sĩ mặc áo vàng."
Năm Đại Nghiệp thứ bảy (611):
1. Tháng hai, Dạng Đế từ Giang Đô (nay là Dương Châu, Giang Tô) đi thuyền rồng vào kênh Vĩnh Tế, đến Trác Quận (nay là Bắc Kinh), hạ chiếu đánh Cao Ly.
2. Vương Bạc người Trâu Bình chính thức tụ chúng khởi sự tại núi Trường Bạch (nay thuộc Chương Khâu, Trâu Bình, Sơn Đông). Nghĩa kỳ của Vương Bạc vừa dựng lên, các nơi ở Sơn Đông đều hưởng ứng.
3. Đậu Kiến Đức làm phản tại Cao Kê Bạc (nay là phía tây nam huyện Cố Thành, Hà Bắc).
4. Địch Nhượng tụ chúng làm phản tại Ngõa Cương Trại (nay là phía nam huyện Hoạt, Hà Nam).
5. Xử La Khả Hãn của Tây Đột Quyết đầu hàng nhà Tùy, dời vào nội địa. Bộ chúng lập cháu của Đạt Đầu làm Tây Đột Quyết Khả Hãn, hiệu là Xạ Quỹ Khả Hãn.
6. Lão hòa thượng Huyền Nguyên xây dựng ngôi chùa Phật giáo đầu tiên ở vùng Đông Bắc tại Đại Hưng (Cẩm Châu), đặt tên là chùa Phổ Tế (chùa Đại Quảng Tế).
7. Lưu Bá Đạo lãnh đạo nông dân khởi nghĩa tại Bình Nguyên (nay là phía tây nam Bình Nguyên, Sơn Đông), lấy Đậu Tử Hàng (nay là vùng huyện Huệ Dân, Sơn Đông) nơi địa thế hiểm trở làm căn cứ. Lưu Bá Đạo là hào cường địa phương, nhiều đời làm quan, tài sản phong phú, thích làm hiệp khách, môn khách thường có hàng trăm người. Người khởi nghĩa tụ tập quanh ông, nhanh chóng đạt hơn mười vạn người, gọi là "A Cữu Quân".
8. Sơn Đông, Hà Nam xảy ra lũ lụt lớn, nhấn chìm hơn ba mươi quận. Mùa đông, tháng mười, ngày Ất Mão (mùng ba), đá Đê Trụ trên sông Hoàng Hà sụp đổ, chặn dòng chảy khiến nước sông chảy ngược hàng chục dặm.
Năm Đại Nghiệp thứ tám (612):
1. Tùy Dạng Đế Dương Quảng đích thân dẫn 1,13 triệu quân, chia làm hai đường thủy bộ chinh phạt Cao Câu Ly.
2. Đại tướng Cao Câu Ly là Ất Chi Văn Đức đánh bại nhà Tùy trong trận Tát Thủy.
3. Tùy Dạng Đế ra lệnh độ tăng, thông qua thi cử toàn quốc để chọn 14 người xuất gia, nhưng người ứng thí phải đủ 18 tuổi.
4. Trong trận Liêu Đông, Đoạn Văn Chấn là Tả Hầu Vệ Đại tướng quân, trên đường mắc bệnh nặng. Tháng hai trước khi lâm chung, ông dâng sớ cho Dạng Đế, chỉ ra rằng nên đánh bất ngờ để nhanh chóng chiếm Bình Nhưỡng, nếu chần chừ không quyết thì không phải là thượng sách. Tháng ba năm Đại Nghiệp thứ tám (612), Đoạn Văn Chấn chết trên đường chinh phạt Cao Ly.
5. Mạch Thiết Trượng tử trận bên bờ sông Liêu.
6. Tháng ba, quân Tùy làm cầu phao vượt sông Liêu. Các quân lần lượt lên bờ, đại chiến ở bờ đông, quân Cao Ly đại bại, chết hàng vạn người. Quân Tùy thừa thắng vây thành Liêu Đông. Dạng Đế sau đó đến Liêu Đông, hạ chiếu xá thiên hạ, lệnh Hình bộ thượng thư Vệ Văn Thăng, Thượng thư hữu thừa Lưu Sĩ Long an phủ dân vùng Liêu Tả, miễn thuế mười năm, thiết lập quận huyện để thống trị.
7. Thành Liêu Đông công phá mãi không được, tháng tám Dạng Đế hạ chiếu rút quân, lấy đất Cao Ly chiếm được lập thành quận Liêu Đông.
8. Năm đó, trong nước đại hạn, dịch bệnh hoành hành, phía đông núi Hào đặc biệt nghiêm trọng.
9. Trương Hành đã bị xóa tên làm dân thường về quê, Dạng Đế thường sai thân thuộc của Trương Hành theo dõi hành động của ông. Dạng Đế từ Liêu Đông trở về, thiếp của Trương Hành tố cáo ông oán hận Dạng Đế, phỉ báng triều chính, Dạng Đế hạ chiếu lệnh Trương Hành tự sát tại nhà.
Năm Đại Nghiệp thứ chín (613):
1. Lần chinh phạt Cao Ly thứ hai thất bại: Tháng giêng, Dạng Đế lại ra lệnh tập trung quân các nơi về Trác Quận (nay là Bắc Kinh). Chiêu mộ dân làm Kiêu Quả, đặt các chức Chiết Xung lang quan để thống lĩnh. Tu sửa thành cổ Liêu Đông để chứa quân lương. Khôi phục quan chức cho Vũ Văn Thuật, chuẩn bị đánh Cao Ly lần nữa. Tháng tư, Dạng Đế đến Liêu Đông. Sai Vũ Văn Thuật và Thượng đại tướng quân Dương Nghĩa Thần tiến quân đến Bình Nhưỡng, Tả quang lộc đại phu Vương Nhân Cung xuất đạo Phù Dư. Vương Nhân Cung tiến đến Tân Thành, quân Cao Ly hàng vạn người chống trả, Nhân Cung soái 1.000 tinh kỵ đánh tan, quân Cao Ly đóng cửa thành cố thủ. Dạng Đế lệnh chư tướng công thành Liêu Đông, phi lâu, vân thê, địa đạo bốn mặt cùng tiến, ngày đêm không nghỉ, nhưng quân Cao Ly ứng biến chống trả, hơn hai mươi ngày không hạ được, đôi bên thương vong nặng nề. Dạng Đế thấy công mãi không được, lại lệnh làm hơn triệu túi vải, chứa đầy đất, muốn đắp thành đại lộ Ngư Lương rộng ba mươi bước, cao bằng thành, cho chiến sĩ leo lên công thành; lại làm xe lâu tám bánh, cao hơn thành, kẹp hai bên đường Ngư Lương, muốn bắn xuống trong thành. Đang hẹn ngày công phá, Dạng Đế nghe tin Dương Huyền Cảm khởi binh, vô cùng sợ hãi, lập tức rút quân, quân tư, khí giới chất như núi đều bỏ lại không màng. Hậu quân hàng vạn người bị quân Cao Ly truy kích, hàng ngàn người già yếu bị giết.
2. Cha của Lý Mân là Hộ bộ thượng thư Lý Tử Hùng theo Dương Huyền Cảm khởi binh làm phản, mưu đồ lật đổ nhà Tùy.
3. Tháng giêng, người Linh Vũ (nay là phía tây nam Linh Vũ, Ninh Hạ) là Bạch Du Sa khởi nghĩa, cướp ngựa quan, liên kết với Đột Quyết ở phía bắc, quân số lên đến hàng vạn. Vì Bạch Du Sa xuất thân nô lệ, bị vu là "Nô tặc".
4. Tháng ba, Mạnh Hải Công ở Tế Âm (nay là phía tây bắc Tào Huyện, Sơn Đông) khởi nghĩa, chiếm giữ Chu Kiều, tiến chiếm hai châu Tào, Đái, quân số đến ba vạn. Thấy người đọc sách sử là giết ngay. Sau bị Đậu Kiến Đức bắt. Sau khi Đậu Kiến Đức thất bại, Mạnh Hải Công cũng bị quân Đường giết.
5. Tháng ba, người quận Tề (nay là Tế Nam, Sơn Đông) là Mạnh Nhượng khởi nghĩa, từng liên kết với Vương Bạc, sau đó nam hạ Giang Hoài, quân số đạt hơn mười vạn, bị tướng Tùy là Vương Thế Sung đánh bại, chạy về phía bắc theo quân Ngõa Cương.
6. Tháng ba, người Bắc Hải (nay là Ích Đô, Sơn Đông) là Quách Phương Dự khởi nghĩa, tự xưng Lư Công, quân số đến ba vạn, từng chiếm thành quận. Sau bị tướng Tùy là Trương Tu Đà đánh bại.
7. Tháng ba, người Bình Nguyên (nay là phía tây nam Bình Nguyên, Sơn Đông) là Hách Hiếu Đức tụ chúng hàng vạn khởi nghĩa, cùng các bộ của Vương Bạc, Tôn Tuyên Nhã... tổng cộng hơn mười vạn kết thành liên quân, bị tướng Tùy là Trương Tu Đà đánh bại, sau gia nhập quân Ngõa Cương.
8. Tháng ba, người Yếm Thứ (nay là phía nam Vô Đì, Sơn Đông) là Cách Khiêm khởi nghĩa, lấy Đậu Tử Hàng làm căn cứ, xưng Yên Vương, quân số đến hơn mười vạn. Năm Đại Nghiệp thứ mười hai (616) của Tùy Dạng Đế, bị tướng Tùy là Vương Thế Sung đánh bại, Cách Khiêm bị giết, bộ tướng Cao Khai Đạo thu gom tàn quân tiếp tục chống Tùy.
9. Tháng ba, người Bột Hải (nay là Dương Tín, Sơn Đông) là Tôn Tuyên Nhã khởi nghĩa, lấy Đậu Tử Hàng làm căn cứ, quân số đến mười vạn, tự xưng Tề Vương. Từng liên kết với các bộ Vương Bạc, Hách Hiếu Đức, Trương Kim Xưng, Cao Sĩ Đạt..., nhiều lần đánh bại quân Tùy.
10. Tháng sáu, Lễ bộ thượng thư Dương Huyền Cảm khởi binh tại Lê Dương (nay thuộc huyện Tuấn, Hà Nam), tiến vây Đông Đô.
11. Tháng bảy, Lưu Nguyên Tiến ở Dư Hàng (nay là Hàng Châu, Chiết Giang), Hàn Tương Quốc ở Lương Quận (nay là Thương Khâu, Hà Nam) đều khởi binh hưởng ứng Dương Huyền Cảm. Bộ chúng của Lưu Nguyên Tiến đến hàng vạn, tiến chiếm Ngô Quận (nay là Tô Châu, Giang Tô), xưng Thiên tử, đặt trăm quan. Sau đánh với Vương Thế Sung, bại trận tử trận. Bộ chúng của Hàn Tương Quốc đến hơn mười vạn, từng được Dương Huyền Cảm bổ nhiệm làm Hà Nam Đạo Nguyên soái, tháng tám bại trận tan rã và bị giết.
12. Mùng tám tháng chín, người Đông Hải là Bành Hiếu Tài tụ chúng làm giặc, có hàng vạn bộ chúng. Mùng bảy tháng mười, giặc soái Lữ Minh Tinh vây Đông Quận, Hổ Bôn lang tướng Phí Thanh Nô đánh bại Lữ Minh Tinh.
13. Mùng chín tháng mười một, Hữu Hậu Vệ tướng quân Phùng Hiếu Từ đi đánh Trương Kim Xưng tại Thanh Hà, Phùng Hiếu Từ bại trận tử trận.
14. Tháng mười hai, Phụ Công Thạch và Đỗ Phục Uy dẫn đội ngũ khởi nghĩa phản lên núi Trường Bạch (nay thuộc huyện Chương Khâu), hội quân với nghĩa quân Tả Tài Tương. Chẳng bao lâu, do không được tin tưởng, hai người lại dẫn bộ chúng rời đi, tháng mười hai năm sau tiến vào Hoài Bắc.
Năm Đại Nghiệp thứ mười (614):
(1) Mùa xuân, tháng hai, ngày Tân Mùi (mùng ba), Dạng Đế hạ chiếu lệnh văn võ bách quan bàn việc xuất binh chinh phạt Cao Ly. Suốt mấy ngày, không ai dám lên tiếng. Ngày Mậu Tý (ngày 20), Dạng Đế hạ chiếu lần nữa trưng phát quân đội toàn quốc, chia làm trăm đường cùng tiến.
(2) Ngày Đinh Dậu (ngày 29), giặc soái ở Phù Phong là Đường Bật ủng lập Lý Hoằng Chi làm Thiên tử, có mười vạn bộ chúng, tự xưng Đường Vương.
(3) Tháng ba, ngày Nhâm Tý (ngày 14), Dạng Đế đi Trác Quận, trên đường binh sĩ liên tục đào ngũ. Ngày Quý Hợi (ngày 25), Dạng Đế đến Lâm Du Cung, tế Hoàng Đế ở ngoài đồng, chém binh sĩ đào ngũ rồi bôi máu người chết lên trống, nhưng đào ngũ vẫn không dứt.
(4) Mùa hạ, tháng tư, Du Lâm thái thú người Thành Kỷ là Đổng Thuần giao chiến với giặc soái Bành Thành là Trương Đại Hổ tại Xương Lự, Đổng Thuần đại bại Trương Đại Hổ, chém hơn vạn thủ cấp.
(5) Ngày Giáp Ngọ (ngày 27), xa giá Dạng Đế đến Bắc Bình.
(6) Tháng năm, ngày Canh Thân (ngày 26), giặc soái Diên An là Lưu Già Luận tự xưng Hoàng Vương, đặt niên hiệu là Đại Thế, có mười vạn bộ chúng.
(7) Mùa thu, tháng bảy, ngày Quý Sửu (ngày 17), xa giá Dạng Đế tạm dừng tại Hoài Viễn Trấn.
Tháng tám, ngày Kỷ Tỵ (mùng bốn), Dạng Đế từ Hoài Viễn Trấn rút quân về triều.
Tháng mười một, ngày Bính Thân (mùng hai), Dạng Đế xử tử Hộc Tư Chính ngoài cửa Kim Quang.
(8) Ngày Ất Tỵ (ngày 11), cử hành lễ tế tại vùng ngoại ô phía nam Tây Kinh. Dạng Đế không trai giới ở Trai Cung.
(9) Ngày Ất Mão (ngày 21), người Hồ ở quận Ly Thạch là Lưu Miêu Vương dẫn chúng làm phản, tự xưng Thiên tử, có mấy vạn bộ chúng, tướng quân Phan Trường Văn dẫn binh đánh dẹp Lưu Miêu Vương nhưng không thắng.
(10) Giặc soái quận Cấp là Vương Đức Nhân có mấy vạn bộ chúng, chiếm giữ núi Lâm Lự làm giặc.
(11) Tháng mười hai, ngày Nhâm Thân (mùng chín), Dạng Đế đến Đông Đô, đại xá thiên hạ; ngày Mậu Tý (ngày 25), ông tiến vào Đông Đô.
(12) Giặc soái Đông Hải là Bành Hiếu Tài cướp bóc khắp Nghi Thủy. Bành Thành lưu thủ Đổng Thuần dẫn binh đánh dẹp và bắt được Bành Hiếu Tài. Đổng Thuần tuy đánh đâu thắng đó, nhưng giặc cướp lại ngày càng nhiều. Có người vu cáo Đổng Thuần nhút nhát, Dạng Đế nổi giận, lệnh người đeo gông Đổng Thuần giải về Đông Đô xử tử.