Ngồi trước bữa sáng thịnh soạn kiểu Mỹ của nhà hàng Ritz-Carlton New York, tôi mệt mỏi ngáp dài.
– Anh ngủ không ngon sao? Andie lo lắng hỏi.
Bàn chúng tôi nhìn xuống Central Park. Gió thổi làm lay động mặt đất dưới gốc những cây du.
– Chán thật.
– Sao cơ, chán ư? Andie vừa hỏi vừa phết mứt cam lên mấy miếng bánh mì nướng.
– Saint-Ex chán ngắt! Tôi đã thử đọc Đô thành tối qua. Cả những câu chuyện kể về chiến tranh của ông ấy nữa. Tôi đã dành một phần đêm cho việc đó. Chán ngắt!
– Thật sao?
– Hoàng tử bé thì nhẹ nhàng. Tinh tế. Thú vị. Nhưng những tác phẩm khác thì… Những phép ẩn dụ của ông ấy về Chúa, con người, hành tinh… Chả khác gì một giáo trình triết học trộn với một bài thuyết giáo của cha xứ.
Andie mỉm cười. Cô chỉ quay nhìn về phía ban công và nhấm nháp miếng thịt hun khói.
– Tôi tin chắc là trong thâm tâm, cô cũng nghĩ như tôi!
Cô không đáp lại.
– Saint-Ex đã trở thành một gã chán ngắt, không phải sao? Ích kỷ, dối trá, huênh hoang. Cứ như thể người viết ra câu chuyện cổ tích cho trẻ em này không phải ông ấy!
Andie bỗng ngồi thẳng dậy.
– Vậy thì ai?
– Hoàng tử bé! Chính ông ấy, Saint-Ex, nhưng trước khi trở thành một người trưởng thành chán ngắt. Trước khi những gì còn lại từ đứa trẻ vui vẻ kia hoàn toàn chết hẳn bên trong ông.
Andie suy nghĩ. Rất lâu. Rồi cô nói:
– Lên đường thôi!
☆ ☆ ☆
Tôi tiếp tục ngáp suốt chặng đường ngồi trên xe taxi.
Andie đã giải thích với tôi rằng nhờ các mối quan hệ của Marie-Swan và Oko Dòlo, những người trông giữ bảo tàng sẽ mở cửa một phòng đặc biệt để chúng tôi có thể tra cứu bản thảo gốc.
Tôi ngáp dài khi đứng trước cửa bảo tàng. Rồi ở quầy vé. Tôi chỉ thực sự tỉnh táo khi chúng tôi bước vào phòng đọc của Thư viện và Bảo tàng Morgan, giữa bốn bức tường đầy sách cao chất ngất đến khó tin, những bức tường thành bằng sách, một pháo đài được bảo vệ bằng sách.
Tôi và Andie lơ đãng nghe người hướng dẫn nói về bộ sưu tập ba trăm năm mươi ngàn cuốn sách, những độc bản, những cuốn Kinh Thánh của Gutenberg, những bản nhạc của Mozart hay của Beethoven, những tranh minh họa của Van Gogh. Chúng tôi đi theo anh ta đến tận hầm ngầm VIP nơi bản thảo mà Saint-Exupéry tặng cho Sylvia Hamilton vào ngày ông lên đường đang chờ đợi chúng tôi.
Andie, tươi tắn như một cây cỏ ba lá được sương đêm rửa sạch, nhét vào tay tôi một cuốn Hoàng tử bé khổ bỏ túi. Cô không lấy bất cứ cuốn nào cho chính mình, vì đã thuộc lòng cuốn sách. Tôi mở sách ra và hỏi:
– Chúng ta tìm gì đây?
– Chỉ có những đứa trẻ mới biết chúng tìm gì…
Tôi thè lưỡi với cô!
– Tôi nói đùa đấy, thưa ngài phi công! Chúng ta phải chơi trò tìm điểm khác biệt, phải tìm ra tất cả những gì thay đổi giữa bản tiếng Pháp, xuất bản năm 1946, mà Saint-Exupéry chưa bao giờ nhìn thấy, với cuốn sách thực sự mà có lẽ ông đã viết nếu ông không đi tham chiến.
Mỗi tờ trong tập bản thảo đều được trưng bày, bảo vệ bởi một tấm kính. Những bức phác họa tranh vẽ Hoàng tử bé và những trang văn bản. Nét chữ của Saint-Exupéry gần như không đọc nổi, thường xuyên bị gạch xóa, được đánh dấu bằng những mũi tên, những chữ viết bên lề. Tôi phải tập trung.
Hỏng rồi!
Andie hích khuỷu tay vào người tôi.
– Ồ, anh nhìn này, Neven. Anh nhớ không, khi chúng ta đến gần bờ biển Bắc Mỹ, tôi đã nhắc cho anh nhớ câu này của Saint-Exupéry.
Nếu hai tỷ người sống trên Trái đất
cứ đứng hơi sát nhau một chút, như trong một buổi mít tinh, họ sẽ dễ dàng lọt thỏm trong một quảng trường.
Ta có thể lèn cả nhân loại vào một hòn đảo bé tí bé tẹo trên Thái Bình Dương.
Và hãy đọc kỹ bản gốc đi.
Tôi đánh vần. Ở đoạn này, Saint-Exupéry có vẻ cẩn thận hơn.
Nếu Manhattan được phủ kín bằng
những tòa nhà năm mươi tầng
và nếu con người đứng cạnh nhau
xếp đầy tất cả các tầng của các tòa nhà này,
thì toàn thể nhân loại có thể sống ở Manhattan.
– Dù sao chuyện này cũng thật lạ lùng, Andie bùng nổ, phấn khích đến điên cuồng. Tại sao lại thay đổi toàn bộ đoạn này? Tại sao lại chọn thay thế địa danh Manhattan bằng một hòn đảo lạc lõng giữa đại dương?
Tôi không có bất cứ ý tưởng nào về điều này!
Tôi ngờ rằng Andie đã ghi nhớ tất cả những chuyện này trong một góc tâm trí. Tôi nấn ná hồi lâu trên các tranh minh họa. Chúng buồn rầu hơn rất nhiều so với các tranh trong bản cuối cùng của câu chuyện. Hoàng tử bé xuất hiện ở đó thường xuyên lo lắng, giận dữ, thất bại hoặc nằm dài trên một sa mạc với những đụn cát trông giống như những con sóng, hoặc thật đáng ngạc nhiên, cầm sợi dây dắt con cáo. Không hề có bức phác thảo nào về bông hồng, không hề có bức phác thảo nào về con rắn hoặc về cái chết của Hoàng tử bé… Tại sao?
Tôi quay trở lại với các trang bản thảo viết tay. Trong trò chơi tìm điểm khác biệt, tôi nhanh hơn, hay đúng hơn là ít bị ảnh hưởng tâm lý hơn Andie. Tôi đã xem đến trang cuối cùng thì cô mới xem chưa được một nửa.
Đột nhiên, dù đã so sánh bản in Hoàng tử bé và những gì đọc thấy trong tủ kính, tôi không còn tin vào mắt mình nữa.
– Cái kết, tôi bối rối gọi Andie. Cái kết không giống nhau.
– Sao cơ?
– Trong phiên bản của Sylvia Hamilton, cái kết rất khác so với cái kết trong phiên bản được xuất bản mà chúng ta đều biết. Nghe này, tôi đọc cho cô.
Tôi bị loại khỏi cuộc chơi. Tôi chưa bao giờ nói với người lớn rằng tôi không thuộc về chỗ của họ.
Tôi đã giấu họ rằng trong sâu thẳm tim mình, tôi vẫn là cậu nhóc năm, sáu tuổi.
Đến lượt tôi khó lòng che giấu nỗi phấn khích.
– Đây là bằng chứng khẳng định toàn bộ cách chứng minh của cô, Andie ạ. Thời thơ ấu là điều bí mật thầm kín nhất. Tuổi thơ đã bị hy sinh!
Tôi vô cùng ngạc nhiên, và cũng vô cùng thất vọng, vì Andie không nghe tôi nói.
Cô đang bận rộn đọc một trang khác!
Tôi cáu kỉnh lại gần. Tôi nhận ra trang sách đang khiến cô tập trung. Không thể không nhận ra bức tranh vẽ con cáo khi nó gặp Hoàng tử bé. Tôi đọc qua vai Andie một vài trong số những câu nổi tiếng nhất trong câu chuyện, những câu mang lại toàn bộ giá trị cho cuốn sách.
Bí mật của tớ đây. Rất chi là đơn giản: người ta chỉ nhìn rõ được bằng trái tim.
Con mắt thường luôn mù lòa trước điều cốt tử.
Chính thời gian mà cậu dành cho bông hồng của cậu mới khiến bông hồng của cậu quan trọng đến thế.
Cậu sẽ phải chịu trách nhiệm vĩnh viễn đối với những gì cậu đã thuần hóa.
Andie nghiêng người, gần như gí mũi vào tủ kính, để nhìn vào những chỗ gạch xóa mà tôi không thể nào đọc nổi. Tôi nhận thấy những giọt nước mắt lăn dài từ đôi mắt cô, cô đang vừa nức nở vừa thì thầm.
– Không thể thế này được, không thể nào, chúng ta chẳng hiểu gì cả. Có lẽ chúng ta đã sai lầm ngay từ đầu, có lẽ chúng ta đã đảo lộn tất cả chăng?
Tôi kéo ống tay áo blu dông của cô, để cô giải thích cho tôi, nhưng cô khịt mũi lần cuối rồi bảo tôi:
– Chúng ta đi thôi, đi nhanh lên, Marie-Swan đang đợi.
Cô không nói thêm bất kỳ lời nào nữa. Cô không muốn chia sẻ những điều cô vừa phát hiện ra trong bản thảo gốc. Không phải lúc này.
Cô đã quá choáng váng, nên không còn bị đảo lộn bởi những gì tôi nói với cô.
– Để sau đi, cô kết luận. Để sau đi, Neven. Marie-Swan đang đợi chúng ta.
Tuy nhiên, Andie đã nhầm.
☆ ☆ ☆
– Fox Company đó phải không? Là Marie-Swan đây!
Điện thoại của Andie kêu vang trong lúc chúng tôi đang ngồi trên một băng ghế ở Central Park để đếm những con sóc đỏ. Andie nhấn nút bật loa để tôi cùng tham gia cuộc trò chuyện.
– Tôi muốn… báo với hai người, bà lão nói, rằng hai người… không cần… đến đâu.
– Bà nói gì vậy?
Cuộc trò chuyện ngắt quãng, như thể Marie-Swan đang di chuyển trong một không gian kín. Một chiếc xe hơi, một chiếc máy bay, một con tàu.
– Không cần… gặp lại… nữa đâu, bà lão nhắc lại. Tôi đã… nói hết… hôm qua rồi… trên vỉa hè… Manhattan. Và tôi… đã… nhầm!
Tôi ngạc nhiên đưa mắt nhìn sang Andie. Tôi có nghe nhầm không vậy? Cô đáp lại tôi bằng một cái nhún vai bất lực, rồi hét lên:
– Bà đang ở đâu vậy, bà Marie-Swan? Chúng tôi nghe không rõ! Chúng ta vẫn gặp nhau ở Central Park như đã hẹn chứ?
Ở đầu dây đằng kia, có vẻ bà lão nghe rất rõ. Giọng bà càng lúc càng bớt giật cục, như thể bà đang lại gần một nơi có sóng tốt hơn.
– Không… Không đâu, cô nhóc ạ… Tôi đã dẫn hai người đi theo một hướng điều tra sai lầm. Tonio đã không giết đứa trẻ bên trong ông. Tôi cải chính lời tôi đã nói… Saint-Ex không giết Hoàng tử bé. Ông không phải kẻ sát nhân.
Cách nói của Marie-Swan giống hệt một nhân chứng đang co rúm trước mặt hai cảnh sát trong một trụ sở cảnh sát. Tôi vô cùng ngạc nhiên. Andie cũng vậy.
– Bà đang nói đùa đúng không, bà Marie! Mọi thứ đều trùng khớp với nhau!
Tôi nghe thấy tiếng bà lão cười khẽ.
– Chắc chắn là tất cả đều trùng khớp rồi. Nhưng hai người tưởng Tonio ngốc đến mức ấy sao? Phải cảnh giác trước những điều hiển nhiên, đó là điều ông dạy cho chúng ta. Giống như tất cả các tiểu thuyết trinh thám khác, Hoàng tử bé đầy rẫy những manh mối giả… Tonio đã giăng ra một cái bẫy, và hai người đã rơi vào đó!
Andie đờ người, không biết phải nói gì. Tôi đoán rằng cô đang điểm lại toàn bộ các chỉ dẫn trong đầu. Những trích đoạn trong Hoàng tử bé, những bức thư của Saint-Ex, tất cả những điểm tham chiếu trong thời thơ ấu của ông…
– Cô nhóc này, Marie-Swan nói tiếp, tin tôi đi, Tonio không thể hy sinh đứa trẻ bên trong ông. Không thể nào! Chuyện đó đã được định sẵn! Có một manh mối quan trọng mà hai người đã để tuột khỏi tay.
– Tại sao? Ở đâu vậy?
Bị chạm tự ái, Andie đứng bật dậy khỏi băng ghế. Marie-Swan bình thản trả lời cô bằng một câu hỏi.
– Khi gặp Saint-Ex trong sa mạc, Hoàng tử bé yêu cầu điều gì đầu tiên?
– Vẽ cho tôi một con cừu! Đương nhiên… Nhưng…
– Chuyện đó không nhắc cô nhớ đến điều gì sao? Marie-Swan ngắt lời cô.
Andie đưa chân đá vào lớp sỏi rải trên lối đi, cáu kỉnh. Như thể cô muốn làm mù mắt một con sóc. Không, chuyện đó không nhắc cho cả cô lẫn tôi nhớ đến bất kỳ điều gì.
– Nào, nào, Marie-Swan hối thúc, một người phải hy sinh một đứa trẻ, đứa trẻ trong chính ông ấy… và một con cừu!
Rốt cuộc, tôi cũng hiểu ra! Và vô cùng ngạc nhiên. Tôi đứng dậy, tiến đến sát chiếc điện thoại và nói như bị hụt hơi.
– Con cừu, chính con vật đó là thứ bị hy sinh! Cả với người Cơ đốc giáo, người Do Thái lẫn người Hồi giáo (tôi chìm đắm vào những ký ức về giáo lý). Bởi vì Chúa trời, hay thánh Allah, đều yêu cầu Abraham, hoặc Ibrahim, cha của con người, phải giết chết con trai ông là Isaac, và vào phút chót, ông ấy đã thay thế đứa con bằng một con cừu. Thay cho đứa trẻ, chính con cừu đã bị hiến tế.
– Hoan hô phi công, giọng chế nhạo của Marie-Swan vang lên, anh không ngốc như tôi tưởng.
Chuyện này đâu có khó lắm, tôi nghĩ thầm, tất cả những người đi lễ mi xa hoặc ăn mừng lễ Hiến sinh đều biết mà!
Andie bối rối nói thành tiếng những suy nghĩ trong đầu.
– Con cừu, trong Hoàng tử bé, có nghĩa là Saint-Exupéry phải hy sinh tuổi thơ của ông, để đi tham chiến… nhưng ông sẽ không làm như thế! Ông không dám. Khi Hoàng tử bé yêu cầu viên phi công vẽ cho cậu một con cừu, cậu yêu cầu người trưởng thành không hy sinh cậu! Mà thay vào đó, gửi con cừu đến tiểu hành tinh B 612! Một con cừu sống được lâu, cậu nói rõ thêm. Nhưng bị nhốt trong một cái hòm giống như một quan tài. Lạy Chúa, thật hiển nhiên, khi ta đã nghĩ ra!
– Đúng thế, nhóc con ạ, Marie-Swan đắc thắng.
Lúc này, âm thanh chúng tôi nghe được đã rất rành rọt, như thể bà lão vừa đến đích.
– Ai? Andie liền hỏi, cô không bao giờ mất phương hướng. Ai đã giết chết Hoàng tử bé?
Giọng bà lão bỗng có vẻ mệt mỏi.
– Tôi không phải là người nói điều đó với hai người. Có các nhân chứng khác. Những nhân chứng biết nhiều hơn tôi.
– Cái người tên Moïsès đó sao? Andie hỏi. Trên đảo Conchagüita, ở Salvador? Người thứ ba trong danh sách thành viên câu lạc bộ của các vị?
– Có lẽ thế… Nếu cậu ta vẫn còn sống… Nếu cậu ta đủ khả năng nói chuyện với hai người… mà đúng thế thì tôi sẽ ngạc nhiên lắm đấy!
Marie-Swan lại cười thành tiếng.
– Nói cho tôi biết thêm đi! Andie năn nỉ.
Bà lão lưỡng lự, nhưng không thể cưỡng lại.
– Nhóc con ạ, tôi đã không thể thú nhận với chính mình động cơ thực sự trong suốt nhiều năm. Đó là một động cơ xưa như Trái đất. Chính là dục vọng, là tình yêu, là sự ghen tuông. (Bà im lặng trong một thoáng trước khi nói tiếp.) Hãy đọc lại cuốn sách, nó đập ngay vào mắt mà. Hoàng tử bé đã bị chính bông hồng giết chết!
Rồi bà không nói thêm gì nữa.
Tôi chỉ nghe thấy trong điện thoại tiếng sủa của một chú chó.
Marie-Swan gác máy. Bà đã đến nơi.
Bà vừa bỏ mũ trước hình ảnh phản chiếu của mình trong gương. Bà già xấu xí đang đối diện với Marie-Swan ấy chào bà. Annibal nhận ra bà ta và sủa lên lần thứ hai.
Đồ ngốc!
Cánh cửa thang máy mở ra. Rốt cuộc, Marie-Swan cũng có thể quay lưng với cái hình ảnh không thể chấp nhận ấy. Gió trên nóc tòa nhà Empire State thổi rất mạnh. Bà siết chặt hơn nữa cái hộp hình chữ nhật giữa hai đầu gối. Nó nhẹ đến mức nếu bà buông ra, hẳn nó sẽ bay đến tận Hudson. Nó nhẹ đến mức đôi cánh tay già nua mệt mỏi của bà có thể cầm nó không chút khó khăn. Bà sẽ mở nó trên mép khoảng không, để tặng cho bản thân cơn chóng mặt cuối cùng. Để lần cuối cùng ngắm nhìn thành phố từ trên cao, như cái thời tươi đẹp khi bà phóng máy bay giấy và ném bom nước qua cửa sổ, cái thời bà còn xinh đẹp, khi bà là vị hôn thê của Hoàng tử bé, khi bà là bông hồng của cậu.
☆ ☆ ☆
Marie-Swan khóa phanh của chiếc xe lăn ở khoảng cách vài xăng ti mét trước khoảng không. Hơn ba trăm mét bên trên đại lộ số 5.
Bà nhấc nắp chiếc hộp lên.
Ai có thể gửi nó cho bà nhỉ?
Cái gã Moïsès nghiện rượu đó ư? Hay Izar điên rồ và nguy hiểm? Hay Hoshi khôn ngoan và hèn nhát?
Cuối cùng, bà sẽ biết ai là kẻ phản bội.
Bà mở nắp hộp.
Trước cả khi bà kịp làm bất cứ cử chỉ gì, con rắn nhảy ra.
Chẳng có gì khác ngoài một ánh chớp vàng ở sát cẳng, chân bà.
Bà đứng sững trong một thoáng. Bà chẳng hề kêu lấy một tiếng.
Bà ngã xuống nhẹ nhàng như một chiếc lá mùa thu.
Việc ấy thậm chí chẳng gây nên tiếng động nào, vì có gió.
Người khách bộ hành đầu tiên đi qua đại lộ số 5 ngước mắt nhìn lên tòa nhà chọc trời, một người khác kêu lên, nhiều người khác cùng la hét, những chiếc xe hơi khựng lại, những chiếc máy ảnh kêu tanh tách. Thoạt tiên, họ tưởng là một mảnh ban công, hoặc mảnh mái nhà, vừa bị tách ra. Rồi họ tưởng là một gã điên vừa ném qua cửa sổ một cái bàn, một cái tủ lạnh hoặc một cái máy giặt. Trước khi nhận ra hình dạng phi thực của một chiếc xe lăn đang rơi xuống như một con quay, chẳng khác gì ghế ngồi của một người ngoài hành tinh tàn tật đến từ nơi tận cùng thiên hà… để rồi rơi xuống nát vụn ngay giữa phố.