Đinh Năng Thông vẫn luôn canh cánh trong lòng chuyện Lâm Đại Khả nhờ vả, thế nên sáng sớm tinh mơ đã lái xe tới Pháp Nguyên Tự.
Sở dĩ Đinh Năng Thông hứng thú với Pháp Nguyên Tự là vì anh từng đọc một cuốn tiểu thuyết dài kỳ của Lý Ngao, một nhà văn người Đài Loan, có tựa đề "Bắc Kinh Pháp Nguyên Tự". Cuốn tiểu thuyết dựa trên những tình tiết lịch sử để giới thiệu chi tiết về nguồn gốc cũng như sự phát triển của ngôi chùa này. Vì tò mò, Đinh Năng Thông đã nhiều lần ghé thăm, rồi trong một dịp tình cờ, anh quen biết và trở thành bạn tốt với đại sư Trí Thiện.
Có lần, Tiêu Hồng Lâm lên Bắc Kinh "chạy chọt" tiền bạc, nghe tin Đinh Năng Thông là bạn thân của một vị đại hòa thượng ở Pháp Nguyên Tự, nên nảy ý định muốn gặp mặt vị cao tăng này. Đại sư Trí Thiện rất nhiệt tình mời Tiêu Hồng Lâm dùng cơm chay tại trai đường. Lúc chia tay, Tiêu Hồng Lâm ngỏ ý xin bút tích của đại sư, và ông đã tặng một câu đối:
"Tham thiền Pháp Nguyên Tự,
Vấn chính Trung Nam Hải."
Dẫu Bắc Kinh là đế đô, những danh thắng nổi tiếng lẫy lừng không gì qua nổi Tử Cấm Thành và Di Hòa Viên, nhưng trong lòng Đinh Năng Thông, những di tích có sức nặng nhất lại là Cung Vương Phủ và Pháp Nguyên Tự. Cung Vương Phủ vì Hòa Thân mà đại diện cho sự quỷ quyệt chốn quan trường; còn Pháp Nguyên Tự lại tôn vinh lòng trung liệt, nhờ những linh hồn trung nghĩa tử trận ở Liêu Đông thời nhà Đường, nhờ vị quan trung thần thời Nam Tống là Tạ Phưởng Đắc, nhờ Viên Sùng Hoán bị hàm oan mà chết, và nhờ cả những nhân vật trong cuộc biến pháp Mậu Tuất như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Đàm Tự Đồng.
Đinh Năng Thông là kẻ trong xương tủy vừa có nét quỷ quyệt, lại chẳng thiếu lòng trắc ẩn. Anh từng mơ ước trở thành một vị "chính hiệp" hô mưa gọi gió chốn quan trường, nhưng thực tế lại ép anh phải trở nên khéo léo, trở thành một tiểu quan liêu thâm trầm, ngày càng giống Vi Tiểu Bảo. Anh không hài lòng với bản thân, nhưng cũng chẳng thể như Don Quixote đối đầu với những chiếc cối xay gió khổng lồ, nên chỉ đành mang theo nỗi bi mẫn lang thang giữa những bức tường đỏ bong tróc và những gốc cây cổ thụ già nua của Pháp Nguyên Tự, để điếu tang chính giấc mơ của mình.
Xe chạy đến Thái Thị Khẩu, Đinh Năng Thông lập tức nghĩ tới Tiêu Hồng Lâm và Giả Triều Hiên, những kẻ vừa bị kết án tử hình. Thái Thị Khẩu ngày xưa là nơi hành quyết tội phạm, cũng từng là nơi náo nhiệt nhất Bắc Kinh. Những kẻ cai trị chọn nơi đông đúc nhất để chặt đầu phạm nhân, cốt là để răn đe bách tính không được phạm thượng làm loạn.
Ngày nay, những nơi sầm uất nhất Bắc Kinh là Tây Đơn, Vương Phủ Tỉnh và Hậu Hải. Kể từ khi siêu thị Walmart mở tại Thái Thị Khẩu, không khí thương mại đã sớm làm nhạt nhòa đi đoạn lịch sử đẫm máu nặng nề ngày trước.
Thế nhưng, mỗi lần đến Pháp Nguyên Tự, Đinh Năng Thông đều không kìm được lòng mà thầm niệm trong tâm những câu thơ: "Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh" hay "Ngã tự hoành đao hướng thiên tiếu, khứ lưu can đảm lưỡng Côn Lôn". Bởi lẽ, vị danh tướng kháng Nguyên thời Tống là Văn Thiên Tường đã bị chém đầu tại Thái Thị Khẩu, sáu vị quân tử trong cuộc biến pháp Mậu Tuất dẫn đầu bởi Đàm Tự Đồng cũng chịu chung số phận tại đây. Tấm đan tâm của Văn Thiên Tường khơi dậy lòng tự tôn của bao thế hệ con cháu Viêm Hoàng, còn lòng can đảm của Đàm Tự Đồng thì lưu danh muôn thuở.
Nghĩ đến cái chết của Tiêu Hồng Lâm và Giả Triều Hiên, lòng Đinh Năng Thông bỗng chốc thắt lại. Anh vừa thấy sợ hãi, lại vừa thấy may mắn. Sợ là vì bản thân suýt chút nữa đã đồng lõa với họ, rơi vào kết cục để lại tiếng xấu muôn đời; may là vì dù kiếp này không thể có được những hành động hào hùng như Văn Thiên Tường hay Đàm Tự Đồng, nhưng ít nhất anh vẫn còn cơ hội để không phải sống một cách hèn mọn.
Cổng chùa Pháp Nguyên Tự mở rộng, lớp sơn đỏ cổ kính đã bong tróc, mất đi vẻ tươi tắn ban đầu. Trên cổng chùa gắn một tấm biển đá cẩm thạch, khắc ngay ngắn ba chữ vàng "Pháp Nguyên Tự" bằng lối chữ Khải. Nét chữ cứng cáp, có phong cốt, giản dị hệt như cánh cổng chùa cũ kỹ, đó chính là bút tích của tiên sinh Khải Công.
Đây là cánh cổng của lịch sử, một dáng vẻ bi thương cứ quanh quẩn nơi ngưỡng cửa. Đinh Năng Thông nhìn chăm chú vào ngôi chùa đã lâu không ghé thăm, chợt nhận ra rằng, thực ra Pháp Nguyên Tự khác biệt so với những ngôi chùa khác. Pháp Nguyên Tự không khởi nguồn từ những bậc cao tăng đại đức tu hành, không phải là một cõi tịnh độ thoát tục, mà ngay từ khi đặt nền móng trên mặt đất, nó đã mang theo một nỗi bi mẫn không thể xóa nhòa. Một con người, sống trên đời chỉ vài chục năm ngắn ngủi, dù hưng suy thành bại thế nào cũng chỉ là khách qua đường vội vã. Dòng người tới tới lui lui, Pháp Nguyên Tự chỉ là kẻ đứng xem, hay nói đúng hơn, đó là một cõi Phật dung nạp mọi nỗi khổ đau.
Khi Đinh Năng Thông thong dong bước tới Thiên Vương Điện, anh bị thu hút bởi bức tượng Bố Đại Hòa Thượng - hóa thân của Di Lặc Phật. Anh dừng chân ngắm nhìn, đây là bức tượng sơn son thếp vàng thời Minh, cao hơn một mét, màu sắc đã phai thành màu đỏ nâu, trên thân tượng có vài chỗ sơn tróc ra, cùng những vết hằn, vết xước nông sâu khác nhau, mang theo vài phần tang thương. Đinh Năng Thông đang mải mê ngắm nhìn thì đại sư Trí Thiện đã chắp tay đứng phía sau anh từ lúc nào.
"Di Lặc chân Di Lặc, hóa thân thiên bách ức. Thời thời thị thế nhân, thế nhân tự bất thức. Năng Thông, lâu rồi không gặp!"
"Thưa đại sư Trí Thiện, trước khi tới con đã định gọi điện cho thầy, nhưng nghĩ đi nghĩ lại vẫn thôi, chỉ muốn xem xem mình có duyên với Phật hay không." Đinh Năng Thông cười thành kính nói.
"Phật ở đâu? Phật ở trong tâm. Có duyên với Phật hay không không quan trọng, quan trọng là phải có tâm Phật. Cũng may trong lòng con có Phật, nên mới hóa giải được hiểm nguy!" Trí Thiện nói đầy ẩn ý.
"Xem ra thầy đã biết chuyện 'đại án Tiêu - Giả' ở Đông Châu rồi. Thị trưởng Tiêu đã đền tội. Thưa đại sư, thị trưởng Tiêu cũng là người tin Phật, gặp Phật là bái, trong nhà còn thờ phụng tượng Phật, tại sao Phật lại không bảo hộ cho ông ta?"
"Thị trưởng Tiêu coi tượng Phật như thần linh mà thờ phụng, ngày ngày cầu nguyện trước mặt Phật, dâng hoa quả tươi rồi cầu xin ban phước. Lễ vật đó chẳng khác nào hối lộ. Gửi chút quà cáp rồi mong cầu Phật Bồ Tát bảo hộ, coi chư Phật Bồ Tát như lũ tham quan ô lại, tội nghiệp ấy nặng nề biết bao! Một mặt hối lộ Phật, một mặt nhận hối lộ của người khác, ngày ngày tạo nghiệp mà cứ tưởng Phật Bồ Tát sẽ phù hộ, đó hoàn toàn là sai lầm." Trí Thiện nói một cách sắc bén.
"Con hiểu rồi, cái gọi là duyên Phật thực chất chính là thiện duyên. Thiện là cống hiến chứ không phải là đòi hỏi, người đời thờ Phật phần lớn đều là để đòi hỏi."
"Con rất có căn cơ. Thực ra con người vốn dĩ ai cũng có Phật tính, chỉ là bị vọng tưởng và dục vọng che lấp mà thôi. Hương nến tượng trưng cho tâm hương và tâm quang, là để dạy chúng ta phải luôn ghi nhớ lời Phật dạy, gạt bỏ vọng tưởng và dục vọng trong lòng, để tâm hương và tâm quang vốn có của mình hiển lộ ra. Nếu bình thường con không làm việc thiện, thì dù con có cầu nguyện, có thắp hương lớn đến đâu, Phật Bồ Tát cũng không bảo hộ con đâu. Nhân quả báo ứng như hình với bóng, muốn bình an khỏe mạnh thì phải làm nhiều việc thiện, giới bỏ lòng tham; muốn phú quý thì phải bố thí cho người nghèo khó, đó mới là lời dạy của Phật Bồ Tát!" Trí Thiện ân cần nói.
"Thưa đại sư Trí Thiện, tràng hạt trong tay thầy liệu có thực sự tiêu trừ được phiền não không?"
"Tràng hạt còn gọi là xích mã tỏa, ẩn dụ rằng lòng người như con ngựa hoang chạy rông, tạp niệm bay nhảy, không lúc nào dừng lại. Tay lần tràng hạt, niệm danh hiệu Phật Đà, Đạt Ma, Tăng Già, có thể buông bỏ tất cả, thân tâm chuyên chú, ngăn chặn vọng niệm tư tâm, tăng cường định lực và trí tuệ. Ý nghĩa của tràng hạt là nhắc nhở chúng ta phải quy y Tam Bảo."
"Thưa đại sư Trí Thiện, lần này con đến gặp thầy là theo lời nhờ vả của một người bạn, muốn nhờ thầy khai quang cho chuỗi tràng hạt này."
Đinh Năng Thông nói xong liền đưa chuỗi tràng hạt trong tay cho Trí Thiện.
Trí Thiện đón lấy chuỗi tràng hạt, miệng niệm Phật hiệu rồi nói: "Năng Thông, chủ nhân của chuỗi tràng hạt này là một vị Bồ Tát sống, những hạt này đã được tâm Phật của cô ấy khai quang rồi, lão tăng tự thấy không bằng! Thực ra hòa thượng tụng kinh khai quang, bản chất là khai mở ánh sáng trong lòng tín đồ, khơi dậy niềm tin vào Phật Bồ Tát. Pháp thân của Phật tận hư không khắp pháp giới, nếu con có lòng từ bi lớn, sẽ nhận được sự gia trì của Quan Âm Bồ Tát; nếu con có lòng hiếu thảo lớn, sẽ nhận được sự cảm ứng của Địa Tạng Bồ Tát. Chủ nhân của chuỗi tràng hạt có lòng từ bi lớn, bạn của con có lòng hiếu thảo lớn, họ đều là những người dùng tâm cung kính, chân thành để đối mặt với cuộc đời."
"Theo ý thầy, nếu con niệm một tiếng 'A Di Đà Phật' vào chuỗi tràng hạt, chẳng phải cũng tương đương với việc khai quang sao?"
"Niệm một tiếng Phật hiệu là nhận được sự gia trì của chư Phật Bồ Tát mười phương. Ngày ngày niệm, ngày ngày gia trì, không chỉ gia trì cho chuỗi tràng hạt mà còn gia trì cho chính bản thân con, sao lại không làm chứ?"
"Thưa đại sư Trí Thiện, vậy con và hòa thượng còn có gì khác biệt nữa?" Đinh Năng Thông cười nói.
Hai người vừa trò chuyện vừa thong thả bước đi, chẳng mấy chốc đã vào tới Đại Hùng Bảo Điện. Trong những ô trần nhà rộng lớn, vô số chú chim sẻ bay qua bay lại, hót vang tự tại, lên xuống tùy ý, như thể đây là nhà của chúng vậy. Đinh Năng Thông đã tới Pháp Nguyên Tự nhiều lần, nhưng đây là lần đầu tiên nhìn thấy cảnh tượng này, anh sững sờ.
Đinh Năng Thông thầm nghĩ, tấm lòng từ bi nào đã khiến lũ chim sẻ này yên tâm đến thế? Tấm lòng bao dung nào đã khiến chúng tự do đến vậy? Một nỗi xúc động trào dâng khó tả, Đinh Năng Thông càng thêm kính trọng Pháp Nguyên Tự hơn bao giờ hết!
"Thưa đại sư Trí Thiện, thực ra con thích cái tên Mẫn Trung Tự hơn."
"Năng Thông, gọi là gì không quan trọng, quan trọng là con nghĩ gì, làm gì!"
"Thưa đại sư Trí Thiện, lần này con đến còn một ý nữa, chốn quan trường chìm nổi, con muốn xin thầy chỉ điểm bến mê!"
"Ta tặng con bốn chữ."
"Bốn chữ nào ạ?"
"Pháp Hải Chân Nguyên."
Mỗi lần gặp Trí Thiện, Đinh Năng Thông đều thu hoạch được những điều quý giá, lần này lại càng hơn thế. Hai người trò chuyện suốt cả buổi sáng, Đinh Năng Thông dùng bữa cơm chay xong mới rời đi. Khi anh bước ra khỏi cổng chùa, vài vị tăng nhân đang đẩy khép cánh cổng ấy lại, như thể vừa tiễn Đinh Năng Thông ra khỏi vòng xoáy của lịch sử.
Cổng chùa Pháp Nguyên Tự như con mắt đang mở, dòng sông thời gian chảy ngang qua ngoài chùa. Những ánh sáng chập chờn trên mặt sông lay động những nỗi buồn vui, thịnh suy của ngàn năm tuế nguyệt. Hôm nay và ngày xưa, vượt qua những khoảng không gian hun hút, được xâu chuỗi lại bằng sợi dây mỏng manh như những hạt tràng, một lần nữa đặt Đinh Năng Thông vào thế giới của ngày hôm qua để thưởng thức sự chân thực của lịch sử. Đinh Năng Thông không kìm được lòng mà nhớ tới đoạn kết trong cuốn tiểu thuyết "Bắc Kinh Pháp Nguyên Tự" của Lý Ngao, tác phẩm đã đưa anh đến với ngôi chùa này:
"A! Bắc Kinh Pháp Nguyên Tự, Bắc Kinh Pháp Nguyên Tự! Chúng ta không dám nói lời tạm biệt với người, mà là người đang từ biệt chúng ta, từ biệt từng thế hệ một. Chúng ta hết thế hệ này đến thế hệ khác đều đổ gục, chỉ có người vẫn đứng đó. Tuy nhiên, chúng ta vui mừng khi thấy người vẫn đứng đó. Chúng ta, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia, gửi gắm máu lệ của nhân dân Trung Quốc vào nơi người - sinh mệnh của người, chính là của chúng ta."