Những Chuyện Thời Minh – Tập 1

Lượt đọc: 150 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 16
Kiến quốc

❊ ❊ ❊

Tạm thời khép lại cuộc chiến với Bắc Nguyên, hãy cùng nhìn xem Chu Nguyên Chương đã bắt tay vào việc xây dựng quốc gia của mình như thế nào.

Sau khi thiết lập quốc gia, nhiệm vụ đầu tiên của Chu Nguyên Chương là đặt cho nó một cái tên. Việc này cực kỳ quan trọng, cũng giống như người thời nay đặt tên cho con cái vậy. Cái tên này sẽ tồn tại hàng trăm năm, không thể qua loa được.

Trong ấn tượng của nhiều người, người Mông Cổ là dân tộc trên lưng ngựa, trình độ văn hóa có hạn, nhưng triều đại họ lập ra lấy tên là "Nguyên" lại có lai lịch rất lớn. Chữ "Nguyên" này lấy từ ý nghĩa "Đại tai Càn Nguyên" trong Kinh Dịch, cũng đại diện cho sự ngưỡng vọng của họ đối với văn hóa Trung Hoa.

Còn việc Chu Nguyên Chương đặt tên triều đại mình là "Minh" thì có rất nhiều tranh cãi. Nhiều người cho rằng, đó là vì xuất thân của Chu Nguyên Chương từ Minh giáo nên mới có cái tên này. Số khác lại cho rằng, Nguyên là chính quyền phương Bắc, theo phong thủy thì thuộc thủy, thuộc âm; mà Chu Nguyên Chương định đô ở phương Nam, nên phải dùng hỏa của phương Nam để trấn áp âm thủy phương Bắc.

Tất nhiên, sự tình rốt cuộc thế nào, chỉ có thể đi hỏi Chu Nguyên Chương mà thôi.

Sau khi đặt tên cho quốc gia, ông cũng cân nhắc tìm cho mình một tổ tiên vẻ vang. Mặc dù ông thường tự xưng là "Hoài Hữu bố y", bày ra tư thế anh hùng không sợ xuất thân hèn kém, nhưng các đại thần đều biết, những danh xưng này chỉ có mình ông được nói. Kẻ nào dám nói ra những lời này trước mặt ông, thì cứ chờ mà rơi đầu đi.

Ông từng cân nhắc nhận đại thánh nhân thời Tống là Chu Hy làm tổ tiên, nhưng có một nguyên nhân khách quan khiến ông buộc phải từ bỏ ý định này. Đó là vì thời đại Chu Hy sống quá gần với ông, không dễ gì mà "đục nước béo cò". Những người như Chu Bách Lục vẫn còn đó, đừng nói là lừa người khác, ngay cả bản thân ông cũng không lừa nổi. Thế là đành thôi.

Trải qua hơn hai mươi năm hỗn chiến, trên mặt đất Trung Quốc thây nằm khắp nơi, ruộng vườn hoang phế. Công việc quan trọng nhất của vị hoàng đế khai quốc chính là khôi phục sản xuất. Chu Nguyên Chương làm việc này khá tốt, ông rất quan tâm đến vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân, dồn hết tâm huyết vào những người anh em nông dân. Năm Hồng Vũ thứ ba (1370), ông quy định phàm là người khai khẩn đất hoang thì được miễn thuế ba năm. Hơn nữa, để cổ vũ khai hoang, ông lập ra sắc lệnh: chỉ cần ngươi khai khẩn đất hoang, mảnh đất đó chính là của ngươi. Dù chủ cũ có tìm đến, ngươi cũng không cần sợ, có Chu Nguyên Chương ta chống lưng cho ngươi. Điều này đã thúc đẩy mạnh mẽ công cuộc khai hoang.

Để cổ vũ việc cày cấy, ông còn ban lệnh: những kẻ phạm tội, chỉ cần không phải tội chém đầu, tất cả đều bị đày đi làm ruộng, cũng coi như đã làm được một việc tốt. Đáng nói là, những kẻ phạm tội này phần lớn là quan lại. Lúc bấy giờ, chỉ riêng một vùng Phượng Dương đã có hơn một vạn quan lại đang cấy lúa ngoài đồng, lý do cụ thể chúng ta sẽ nói sau. Đồng thời, ông còn cắt giảm mạnh thuế khóa các nơi, ngoại trừ một nơi.

Nơi đó chính là vùng Giang Chiết, nơi từng bị Trương Sĩ Thành chiếm đóng. Do người dân địa phương ủng hộ Trương Sĩ Thành, ông vô cùng bất mãn, quy định thuế khóa vùng Giang Chiết cao gấp mấy lần những nơi khác. Quy định này mãi về sau mới được bãi bỏ. Từ đây có thể thấy, Chu Nguyên Chương là kẻ có thù tất báo. Mong mọi người ghi nhớ đặc điểm tính cách này của ông, nó rất có ích cho việc phân tích các hành vi sau này của ông.

Ngược lại, ông vô cùng căm ghét những kẻ làm thương nghiệp. Điều này rất có thể liên quan đến việc thuở nhỏ ông từng bị gian thương tích trữ gạo hãm hại. Thương nhân giàu có nổi tiếng lúc bấy giờ là Thẩm Vạn Tam đã trở thành vật tế thần cho chính sách "trọng nông ức thương" của ông. Thẩm Vạn Tam này cực kỳ giàu có, nghe đồn trong nhà có "tụ bảo bồn" nên tiền tài cứ thế tuôn ra không dứt. Vị đồng chí này cũng muốn học theo Lã Bất Vi, muốn làm một cú đầu cơ chính trị. Ông ta chủ động quy thuận Chu Nguyên Chương, bỏ tiền ra tu sửa một phần ba thành Nam Kinh. Những bức tường thành này vô cùng kiên cố, đều được xây bằng đá hoa cương thượng hạng, dùng nếp làm hồ, bên ngoài còn quét vôi, xứng danh là tường đồng vách sắt.

Thẩm Vạn Tam bỏ ra số tiền lớn với hy vọng Chu Nguyên Chương ban cho chút lợi lộc, nhưng ông ta chưa bao giờ hiểu Chu Nguyên Chương là người thế nào. Chu Nguyên Chương nghe tin này, không chút biến sắc, chờ khi tường thành xây xong liền chuẩn bị giết ông ta. Thẩm Vạn Tam thực sự quá ngu xuẩn, người như Chu Nguyên Chương làm sao có thể dung thứ cho một thương nhân đi xây tường thành cho thủ đô! Phải nhờ Mã hoàng hậu khuyên can nhiều lần, Chu Nguyên Chương mới không ra tay, nhưng ông vẫn tịch thu tài sản của Thẩm Vạn Tam và đày ông ta đi Vân Nam.

Thẩm Vạn Tam cả đời lần đầu tiên làm ăn thua lỗ, nhưng ông ta không phải là người bất hạnh duy nhất. Hầu như tất cả thương nhân đều bị kỳ thị. Việc Chu Nguyên Chương hạn chế hành vi của thương nhân tưởng chừng bình thường, nhưng lại thay đổi rất lớn hướng phát triển lấy thương nghiệp làm chủ từ thời Tống, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của Trung Quốc. Chúng ta sẽ trình bày chi tiết về điều này ở phần sau.

Về chế độ chính trị, ông gần như sao chép toàn bộ các cơ quan của nhà Nguyên. Trung ương thiết lập Trung thư tỉnh, Tả Hữu thừa tướng để quản lý đại sự quốc gia, bên dưới thiết lập Lục bộ. Nhiều người đương thời cho rằng chính phủ nhà Minh của Chu Nguyên Chương sẽ tiếp tục đi theo quan chế nhà Nguyên, tuy nhiên những chuyện xảy ra sau đó lại nằm ngoài dự đoán của họ. Điều này cũng xin để lại nói sau.

Chế độ nhà Minh còn rất nhiều, chúng ta giới thiệu những điều trên là để làm bước đệm cho câu chuyện xảy ra bên dưới.

"Vinh dự cao nhất của kẻ sĩ"

Tại đây, chúng ta còn phải giới thiệu một chút về chế độ khoa cử nhà Minh, đây là một nét đặc sắc của triều đại này.

Chế độ khoa cử không phải bắt đầu từ nhà Minh, nhưng lại được phát huy rực rỡ dưới thời Minh. Nói ra thật thú vị, thời Đường Tống tuy có khoa cử nhưng hạn ngạch trúng tuyển rất ít, mỗi kỳ thường chỉ lấy vài chục người. Nhà Minh từ năm Hồng Vũ thứ ba (1370) bắt đầu mở khoa cử, thực hiện mở rộng tuyển chọn, thế là những kẻ muốn làm quan đều chen chúc nhau. Họ đua nhau lấy việc đọc sách làm nghiệp, những người này chính là nền tảng cho thế lực văn quan nhà Minh sau này.

Kỳ thi thời bấy giờ chia làm ba cấp. Cấp thứ nhất là Viện thí, người đi thi gọi chung là "Đồng sinh". Đừng tưởng chỉ có trẻ con mới đi thi, Đồng sinh bảy tám mươi tuổi cũng có. Phạm vi thi là châu huyện, người đỗ trong kỳ thi này chính là "Tú tài" mà chúng ta đều quen thuộc. Đừng tưởng Tú tài dễ thi, điểm thi có sáu hạng, chỉ có người đạt hạng cao trong kỳ thi này mới giành được danh hiệu Tú tài, mà chỉ những người đạt hạng nhất, hạng nhì mới có tư cách tham gia kỳ thi cấp cao hơn gọi là "Lục khoa".

Giờ đây bạn đã là Tú tài, từ đó thoát khỏi thân phận bình dân, dù sao cũng là một tri thức rồi. Bạn có một số đặc quyền, ví dụ như có thể miễn trừ lao dịch cho một người, gặp quan huyện không cần phải quỳ. Nhưng bạn vẫn chưa phải là quan, còn xa lắm.

Muốn làm Tú tài đã khó như vậy, nhưng để làm quan, các đồng chí còn phải tiếp tục phấn đấu!

Kỳ thi cấp tiếp theo gọi là Hương thí. Bạn đừng hiểu lầm, Hương thí này không phải là kỳ thi ở cấp làng xã, mà là kỳ thi thống nhất cấp tỉnh. Xin lưu ý, Hương thí không phải muốn thi là thi, ba năm mới có một lần, thường vào tháng tám, do tỉnh ra đề và có hạn ngạch. Người vượt qua kỳ thi cấp này gọi là "Cử nhân". Cử nhân này không phải chuyện đùa, là có tư cách làm quan. Sở dĩ nói là có tư cách, vì cấp bậc này không đảm bảo chắc chắn bạn sẽ được làm quan, cũng giống như tốt nghiệp đại học thời nay mà không được phân công việc làm vậy.

Vậy Cử nhân làm sao mới được làm quan? Rất đơn giản, khi có quan viên qua đời, bạn mới có cơ hội.

Cho nên nếu bạn đi dự lễ truy điệu của một vị quan nào đó ở thời Minh, thấy vài người lén lút ở cửa, mặt lộ vẻ vui mừng, nếu không phải là kẻ có thù với gia chủ thì đó thường là các Cử nhân.

Giờ thì mọi người đã biết tại sao đồng chí Phạm Tiến sau khi đỗ Cử nhân lại phát điên rồi chứ? Đổi lại là bạn, có khi cũng phát điên đấy.

Người đạt hạng nhất trong kỳ thi này gọi là "Giải nguyên". Đây là người đứng đầu trong "Tam nguyên".

Được rồi, bạn đã đỗ Cử nhân, cuối cùng đã bước ra khỏi tỉnh thành, giờ hãy xuất phát đến kinh thành, vì con đường làm quan, hãy tiến lên!

Giờ bạn đã là Cử nhân, vậy xin hãy thu xếp hành lý, chuẩn bị bút mực giấy nghiên, tháng hai năm sau bạn sẽ phải đón nhận thử thách thực sự của cuộc đời - Hội thí.

Kỳ thi này chỉ những người có tư cách Cử nhân mới được tham gia, nghĩa là đối thủ của bạn sẽ là những tinh anh từ các tỉnh khác. Triều đình sẽ chọn ra trong số các bạn ba trăm người (có thể có thay đổi). Nhưng cần lưu ý, ba trăm người này không phải là Tiến sĩ mà chúng ta thường nói, họ chỉ là "Cống sinh". Muốn làm Tiến sĩ, bạn còn phải vượt qua một cửa ải nữa.

Người đứng đầu kỳ thi Hội thí gọi là "Hội nguyên", đây là người thứ hai trong Tam nguyên.

Trước khi nói về cửa ải tiếp theo, chúng ta phải giới thiệu về trường thi khoa cử. Trường thi thời đó không phải là lớp học sáng sủa như ngày nay, cũng không có một đống phụ huynh đứng ngoài chờ đợi. Trường thi thời Minh gọi là "Cống viện", thực ra nhìn từ cấu trúc và môi trường thì có thể gọi là nhà tù.

Trong Cống viện có hàng vạn căn phòng (mọi người có thể tự ước tính tỷ lệ trúng tuyển), đều là phòng đơn. Có người có thể thấy phòng đơn rất tốt, đừng vội, để tôi giới thiệu đây là loại phòng đơn gì. Loại phòng này gọi là "Hào phòng", dài năm thước, rộng bốn thước, cao tám thước.

Mọi người ước lượng thử có thể cảm nhận được, đây gần như là một cái lồng. Trước khi vào, thí sinh phải khám xét thân thể, chỉ được mang sách vở và đèn vào. Mỗi người được phát ba cây nến. Sau khi vào, cửa hào lập tức đóng lại khóa chặt, thí sinh ở trong đó trả lời đề bài, buổi tối cũng nghỉ ngơi tại đó. Nhưng vì phòng quá nhỏ, thí sinh chỉ có thể co quắp mà ngủ, thực sự là khó chịu hết mức.

Thế nhưng ngay trong môi trường gian khổ ấy, dưới ngọn đèn cô độc kia, trong sự cô tịch khó lòng chịu đựng, tiền nhân của chúng ta mang đầy lý tưởng báo quốc, dùng nghị lực kiên cường viết nên những bài văn hoa mỹ, thực sự đáng để chúng ta kính trọng.

Mỗi người từng trải qua kỳ thi này đều nên nhận được tràng pháo tay của chúng ta, không chỉ những người thành công, mà cả những người thất bại.

Các tinh anh vượt qua Hội thí phải đối mặt với thử thách cuối cùng là Điện thí. Trong kỳ thi này, họ sẽ đối mặt với người cai trị đế quốc. Hình thức thi là Hoàng đế đặt câu hỏi, thí sinh trả lời, nội dung chủ yếu là sách vấn. Những thí sinh đáng thương này không dám và cũng không thể ngẩng đầu, họ chỉ có thể run rẩy trả lời xong câu hỏi, rồi rút lui chờ đợi vận mệnh của mình.

Hoàng đế và đại thần dựa vào biểu hiện của thí sinh mà phân chia thứ bậc. Tổng cộng có ba giáp: Nhất giáp chỉ có ba người, gọi là "Tiến sĩ cập đệ", lần lượt là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, đây là những danh hiệu chúng ta đều quen thuộc; Nhị giáp vài người, gọi là "Tứ tiến sĩ xuất thân"; Tam giáp vài người, gọi là "Tứ đồng tiến sĩ xuất thân".

Mà Trạng nguyên chính là người thứ ba trong Tam nguyên.

Nếu đến đây bạn vẫn có tên trên bảng vàng, vậy xin chúc mừng, bạn sẽ được bổ nhiệm chức quan. Tuy nhiên đừng kỳ vọng quá cao, chức quan được phân lúc này đều không cao. Trải qua bao nhiêu khổ cực, thứ bạn nhận được rất có thể chỉ là một Huyện thừa bát phẩm mà thôi, còn xa mới tới chức Huyện thái gia, nhưng dù sao cũng coi như được làm quan rồi.

Khoa cử không chỉ là phương pháp giành lấy quan vị, mà còn là con đường theo đuổi vinh dự của kẻ sĩ. Đối với họ, Trạng nguyên chính là mục tiêu. Tuy nói văn vô đệ nhất, nhưng vị trí đứng đầu là thứ ai cũng muốn. Trạng nguyên cũng là người, tại sao không phải là ta?!

Sự thật cũng đúng là như vậy, nhưng Trạng nguyên tuy khó đạt được, ba năm mới có một người, sản lượng rất thấp, nhưng dù sao vẫn có. Cho nên vinh dự cao nhất trong lòng kẻ sĩ không phải là Trạng nguyên, mà là một danh hiệu khác. Đây mới là thứ mà mỗi kẻ sĩ ngày đêm mơ tưởng. Người giành được danh hiệu này sẽ trở thành nhân vật trong truyền thuyết, được vạn người ngưỡng mộ!

Danh hiệu này chính là "Liên trung tam nguyên", cụ thể là kiêm nhiệm ba danh hiệu Giải nguyên, Hội nguyên, Trạng nguyên trên cùng một người. Đây là hành động có độ khó thực sự, phải đảm bảo thi toàn tỉnh đứng đầu, sau đó thi Hội toàn quốc đứng đầu, cuối cùng Điện thí trong lòng Hoàng đế cũng là đứng đầu. Điều này đòi hỏi thí sinh không chỉ học vấn giỏi mà còn phải phản ứng nhanh, ngoại hình ưa nhìn mới có khả năng giành được danh hiệu này. Cho nên muốn đạt được danh hiệu này phải có chút vận may, tổ tiên không chỉ bốc khói xanh, mà phải là phun lửa mới đúng.

Người như thế này trong lịch sử 276 năm nhà Minh chỉ xuất hiện duy nhất một người, đó chính là Thương Lộ thời Chính Thống, vô cùng lợi hại. Ông ta có địa vị nhất định trong lịch sử, phần sau chúng ta còn phải nhắc đến ông.

Từ khi khoa cử bắt đầu từ thời Tùy Đường, người đạt được vinh dự này chỉ có mười ba người: hai người thời Đường, sáu người thời Tống, một người thời Kim, một người thời Nguyên, hai người thời Minh, hai người thời Thanh. Những người này thực sự đáng để chúng ta sùng bái.

Cần đặc biệt làm rõ là, nhiều tài liệu ghi chép nhà Minh chỉ có một người liên trung tam nguyên, điều này không đúng. Thời Hồng Vũ, người An Huy là Hoàng Quan đã liên trung tam nguyên. Khi Vĩnh Lạc Tĩnh Nan, Hoàng Quan bị Vĩnh Lạc kiêng dè, đã gạch tên ông khỏi Đăng khoa lục, sửa người đứng đầu thành Hàn Khắc Trung, cho nên trong hầu hết các ghi chép lịch sử, Tam nguyên không có tên Hoàng Quan. Tại đây xin đặc biệt minh oan cho vị trung thần và thiên tài đọc sách này.

"Trật tự làm quan"

Tham gia khoa cử đỗ Tiến sĩ là để làm quan. Cùng với việc người dân đi làm quan ngày càng nhiều, thế lực các gia tộc danh môn vọng tộc dần tiêu tan. Các Tiến sĩ khoa cử hình thành nên cái gọi là thế lực khoa cử, tức là nhóm văn quan sau này. Nhóm người này mang lại ảnh hưởng vô cùng to lớn cho chính trị nhà Minh, họ hình thành cấu trúc tổ chức giống như xã hội đen. Trên có thể đe dọa hoàng đế, dưới có thể cai trị bách tính, cực kỳ đáng sợ. Tại đây, chúng ta hãy xem trật tự vận hành trong tổ chức của họ.

Chúng ta đã nói ở trên, Tiến sĩ vừa trúng tuyển là có thể chờ bổ nhiệm quan chức, còn Cử nhân muốn làm quan thì khó hơn nhiều. Họ phải tham gia ba kỳ Hội thí, nếu thực sự không có chí tiến thủ, vẫn không thể đỗ đạt thì có thể đến Lại bộ đăng ký. Sau vài năm (từ một đến mấy chục năm), quan viên chết nhiều, có chỗ trống, sẽ lôi những Cử nhân này ra, chọn một số người đi làm quan. Đây gọi là "Đại khiêu". Vậy tiêu chuẩn của Đại khiêu là gì? Nói ra mọi người có lẽ không tin, đó là xem tướng mạo. Cách thức lựa chọn giống như cảnh sát nhận diện tội phạm thời nay, các Cử nhân như những nghi phạm, từng tốp vài chục người đứng trước mặt đại thần Lại bộ để mặc cho họ lựa chọn.

Lúc này, kẻ nào xấu xí thì đúng là kêu trời không thấu, chắc chắn không có phần của bạn đâu, sớm về nhà đi thôi.

Thực ra xấu xí không phải là lỗi của bạn mà.

Cử nhân được chọn có thể làm quan. Những Cử nhân này tuy không đỗ Tiến sĩ nhưng cũng coi như từng có tên trên bảng, nên họ gọi là "Nhất bảng xuất thân", còn Tiến sĩ gọi là "Lưỡng bảng xuất thân". Dù sao mọi người cũng đều là từ thi cử mà ra, nên các Tiến sĩ cũng coi Cử nhân là người cùng loại với mình. Tức là cái gọi là "Thanh lưu".

Trật tự nội bộ của những Thanh lưu này rất thú vị, cần phải nói chi tiết. Mọi người hiểu những quy tắc này rồi thì sẽ hiểu rõ hơn rất nhiều sự kiện lịch sử xảy ra trong nhóm văn quan thời kỳ giữa nhà Minh.

Chúng ta liệt kê năm vị quan để minh họa vấn đề này, đặt tên họ lần lượt là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu. Chức vụ của năm người này là: Giáp là Binh bộ thị lang (tam phẩm), Ất là Lễ bộ lang trung (ngũ phẩm), Bính là Hình bộ viên ngoại lang (tòng ngũ phẩm), Đinh là Hàn lâm viện thị giảng học sĩ (tòng ngũ phẩm), Mậu là Bố chính sứ tham nghị (tòng tứ phẩm).

Trong năm người này, Giáp, Ất, Bính, Đinh đều là Tiến sĩ, Mậu là xuất thân Cử nhân. Họ gặp nhau tại đại đường Binh bộ, sau khi phân định quan vị, họ ngồi xuống theo thứ tự và bắt đầu trò chuyện. Vì không phải nói chuyện công việc, tự nhiên phải bắt đầu từ xuất thân. Lúc này Mậu chắc chắn sẽ rút lui trước, tại sao? Vì ông ta đủ thông minh! Tuy quan vị của ông ta xếp thứ hai trong năm người, nhưng người ta đang bàn chuyện Tiến sĩ, một Cử nhân như ông chưa từng tham gia Điện thí thì góp vui cái gì. Điều này giống như việc hỏi bằng cấp thời nay, người ta là Đại học Bắc Kinh, mình là Đại học Thanh Hoa, còn bạn thì chẳng lẽ nói tốt nghiệp Đại học "Claden" sao. Lúc này mà tiến lên thì chẳng khác nào tự chuốc lấy nhục. Hơn nữa những người xuất thân Tiến sĩ này rất thích kể chuyện lúc đăng khoa, mở miệng là "nhớ năm xưa", ta đây ứng đối tự nhiên trong Điện thí ra sao... thực ra rất có thể ông ta lúc đó đang trả lời sai đề, hoảng loạn bò ra ngoài, ai mà biết được chứ. Đây là bước đầu tiên khi gặp mặt: phô trương xuất thân.

Tiếp theo là bước thứ hai, mọi người đã đều là Tiến sĩ thì dễ nói chuyện rồi, bàn đến vấn đề tiếp theo: đỗ Tiến sĩ năm nào. Khi bàn đến, Giáp là năm Hồng Vũ thứ mười sáu, Ất là năm thứ mười chín, Đinh là năm thứ hai mươi hai, Bính tư cách lão làng nhất, là năm Hồng Vũ thứ ba. Điều này giống như gặp mặt hỏi nhau: "Anh tốt nghiệp khóa nào?", "Ồ, là sư huynh sao, thất lễ thất lễ". Lúc đó không phải nói hai câu là xong chuyện, lúc này ba vị kia phải hành lễ với Bính, đây là quy củ, bất kể quan vị và tuổi tác của bạn lớn hơn đối phương thế nào, gặp người đăng khoa trước mình là phải hành lễ. Đây là bước thứ hai: phô trương tư cách.

Bước thứ ba là so sánh thứ hạng, dù đều là Tiến sĩ, cũng có vấn đề ưu hạng chứ. Giáp nói: "Ta là Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân", Ất cười một cái: "Ta là Nhị giáp tiến sĩ xuất thân", Bính cũng cười: "Ta là Nhị giáp thứ mười lăm".

Lúc này Đinh nói: "Ta là Thứ cát sĩ".

Mấy vị kia lập tức không cười nữa, ngoan ngoãn đứng dậy hành lễ, vì "Thứ cát sĩ" thực sự lai lịch rất lớn.

Trong tất cả Tiến sĩ, chỉ có ba người Nhất giáp mới có thể trực tiếp vào Hàn lâm viện, còn Nhị giáp và Tam giáp phải chọn ra tinh anh thi cử mới có thể trở thành Thứ cát sĩ. Chức trách của họ là giảng giải kinh sử cho hoàng đế, giúp hoàng đế soạn thảo chiếu thư, là thư ký của hoàng đế, quyền lực rất lớn. Đến giữa thời Minh, còn hình thành thông lệ không phải Thứ cát sĩ thì không được làm Đại học sĩ.

Bạn nói Thứ cát sĩ có lợi hại hay không?

Ba bước này xong xuôi, mọi người trong lòng đều đã nắm rõ, sau này chiếu cố nhau nhé. Thế lực khoa cử chính là thông qua cách thức như vậy để sắp xếp trật tự, hình thành lực lượng mạnh mẽ.

Đỗ Tiến sĩ đối với người thời bấy giờ có sức cám dỗ quá lớn, mà đỗ thứ hạng cao cũng có sức hút bổ sung. Người Trung Quốc chú trọng "y cẩm hoàn hương", tức là mặc quan phục về quê cho đám bạn nghèo, các dì các bác hàng xóm xem. Lúc này, phô trương càng lớn, thể diện càng cao.

Mọi người từng thấy trên tivi, quan lại cổ đại đi lại đều mang theo một đống người, phía trước có kẻ đánh chiêng, người cầm biển tên mở đường. Không biết mọi người có chú ý những kẻ cầm biển tên đó không, học vấn đều nằm trên biển tên đấy!

Nếu bạn là Trạng nguyên thì oai phong rồi, trên biển tên có thể viết những chữ lớn như "Trạng nguyên cập đệ", "Khâm điểm Hàn lâm", phô trương khắp phố, khiến vô số bách tính cảm thán không thôi, túm lấy đầu con mình lắc mạnh: "Sau này nhất định phải học ông ấy!".

Nhị giáp và Tam giáp viết biển tên thế nào? Trên biển tên của họ sẽ liệt kê "Đồng tiến sĩ xuất thân", "Lưỡng bảng xuất thân" như thế này, cũng là thứ khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Biển tên của Tiến sĩ dễ viết, dù sao người ta cũng từng thấy việc đời, thế Cử nhân thì sao? Không được viết là đỗ Tiến sĩ, cũng không được viết Lưỡng bảng. Yên tâm, cách là do người nghĩ ra. Khi Cử nhân ra ngoài, vì không có nhiều thứ để viết, họ đã phát huy tối đa sự sáng tạo.

Ví dụ ông ta đỗ Cử nhân kỳ thi Hương Giang Tây năm Đinh Dần, liền viết một cái biển "Đinh Dần Cử nhân". Lại nghĩ tiếp, ta đây ở huyện nha là Chủ bạ (chính cửu phẩm), quan vị tuy thấp một chút nhưng cũng là quan mà, thế là cái biển thứ hai viết "Chủ bạ huyện nọ". Ngoài ra còn có chuyện từng được biểu dương năm nào tháng nào, có chính tích gì, đều có thể viết lên, dù sao cũng lừa được bách tính là được.

Chính sự cám dỗ này khiến vô số người nối gót nhau, tiến về phía quan vị. Nhưng đúng như đã nói, làm quan đâu có dễ dàng như vậy? Chu Nguyên Chương và con cháu ông đã sớm thiết lập cho họ một cửa ải khó khăn nhất. Cửa ải này không chỉ thay đổi chế độ khoa cử lâu đời, khiến vô số người rơi vào đau khổ cùng cực, ở mức độ nào đó, nó còn ảnh hưởng đến vận mệnh Trung Quốc vài trăm năm sau.

Cửa ải này chính là "Bát cổ".

"Bát cổ"

Đây là một hiện tượng rất đáng nói. Bát cổ có thể nói là sự sáng tạo của nhà Minh. Bộ đồ này bắt đầu từ thời Chu Nguyên Chương, đến giữa thời Minh phát triển hoàn thiện, ảnh hưởng đến tri thức phần tử gần năm trăm năm sau, không thể không nói.

Các môn thi của học tử chia làm ba trường. Trường thứ nhất thi Kinh nghĩa, tức là Tứ thư Ngũ kinh; trường thứ hai thi viết văn thể thực dụng; trường thứ ba thi thời vụ sách luận, tức là đưa cho bạn một việc để phân tích, khá có ý thức của văn bản ứng dụng. Trong đó quan trọng nhất là Kinh nghĩa, đây là chìa khóa để lấy sĩ.

Thí sinh thời đó không giống học sinh ngày nay, trước khi thi phải ôn tập rất nhiều nội dung. Đối với họ, chỉ cần học thuộc Tứ thư Ngũ kinh là được, đề bài chỉ có thể ra ở đây, không thể có đề bài khác. Phạm vi khá nhỏ, học thuộc rất dễ, hơn nữa khi viết văn có quy định số chữ, thường không quá năm trăm chữ, không giống như một số bài văn tự luận ngày nay cứ động tí là trên ngàn chữ. Xem ra, kỳ thi thời đó có vẻ dễ dàng hơn, tuy nhiên sự thật không phải như vậy.

Mấu chốt nằm ở định dạng và sự phát huy cá nhân. Văn Bát cổ chia thành các phần: Phá đề, Thừa đề, Khởi giảng, Nhập đề, Khởi cổ, Xuất cổ, Trung cổ, Hậu cổ, Thúc cổ, Thu kết. Trong đó phần tinh hoa là Khởi cổ, Trung cổ, Hậu cổ, Thúc cổ. Bốn phần này bạn không thể viết tùy tiện, bắt buộc phải dùng câu đối ngẫu, tổng cộng có tám vế, nên gọi là văn Bát cổ.

Cách viết này vô cùng cổ hủ, muốn viết thêm một chữ cũng không được, thật sự hại người không ít. Rất nhiều người vừa viết vừa bịa đặt lung tung, chỉ cốt sao cho đủ số chữ, đạt được hiệu quả đối ngẫu. Văn chương nhìn bề ngoài thì rất chỉnh tề, nhưng xem kỹ nội dung thì toàn là lời sáo rỗng.

Đau khổ không chỉ có thí sinh, mà còn có cả các vị thầy ra đề. Tứ Thư Ngũ Kinh chỉ có bấy nhiêu chữ, các kỳ thi các cấp đều lấy từ đó ra đề, mà đề đã thi qua thường không được dùng lại nữa. Thế là các thầy nảy ra đủ loại kỳ kế, đem cắt xẻ câu trên câu dưới của Tứ Thư Ngũ Kinh ra để làm đề riêng biệt. Ví dụ như chặt đầu bỏ đuôi một câu, chỉ lấy vài chữ ở giữa để khảo hạch người khác. Những câu từ không thông nghĩa, râu ông nọ cắm cằm bà kia như vậy, ngay cả thầy còn không hiểu là gì, huống chi là học trò?

Kết quả là người mơ hồ đi thi, người mơ hồ ra đề, người ra đề không biết ý nghĩa là gì, người đi thi cũng không biết. Như vậy thì thi ra được nhân tài gì chứ?

Bát cổ xét cho cùng cũng chỉ là một hình thức mà thôi, dù có cổ hủ, cũng chưa chắc đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực quá lớn. Đừng vội, các nhà cai trị thời Minh còn có đòn sát thủ, chiêu này mới là lợi hại nhất.

Triều Minh quy định, tất cả văn chương không được phép có tư tưởng riêng, bắt buộc phải mô phỏng lời người xưa, phải viết văn theo tư tưởng của thánh nhân. Vị thánh nhân này là ai? Chính là Chu Hy.

Chu Hy từng chú giải Tứ Thư, tức là ghi chú lại sự hiểu biết của riêng ông ta. Thế nhưng những hiểu biết này lại được các nhà cai trị nhắm đến, yêu cầu tất cả học tử phải trả lời theo tư duy của Chu thánh nhân năm xưa.

Trời xanh thương xót! Chu thánh nhân năm xưa có khi đang đi vệ sinh mà nghĩ ra một câu rồi viết xuống, lúc ăn cơm lại nghĩ ra một câu khác rồi viết xuống, vốn dĩ đã không thể coi là chuẩn mực. Thế mà sau cả trăm năm, lại bắt tất cả mọi người phải suy nghĩ theo lối tư duy của ông ta, đúng là một sự tra tấn.

Điều này khổ cho học tử thời Minh, kêu trời không thấu. Ai mà biết được tên này năm xưa rốt cuộc có lối tư duy thế nào, chỉ có thể tự mình đoán mò, tự mình nắm bắt. Cái gọi là "không hiểu thì hỏi người, hiểu rồi thì dạy người, thực sự không ai hiểu thì đi hỏi thần", đối với những học tử này mà nói, đó không chỉ là chuyện đùa.

Vô số thí sinh đêm khuya mộng hồi, trong đầu không thể xua tan chính là vẻ ngoài không mấy tuấn tú và thân hình không mấy khôi ngô của Chu Hy. Lâu dần, một số người tỉnh ngộ ra bắt đầu hỏi thăm cha mẹ và tổ tiên của Chu Hy, dường như chỉ có như vậy mới giải tỏa được cơn giận. Vấn đề là chửi xong vẫn phải đi thi, không thi thì không có quan làm, đây mới là vấn đề thực tế.

Trong tư duy cố định, khuôn mẫu cố định, học tử thời Minh bắt đầu hoàn thành bài văn của mình. Điều khiến chúng ta phải kinh ngạc là, trong môi trường khó khăn như vậy, thí sinh vẫn viết ra được rất nhiều bài văn hoa mỹ. Tại hạ từng xem qua hai bài văn trạng nguyên bát cổ, văn từ ưu mỹ, lập ý sâu sắc. Nghĩ đến việc những bài văn này được viết ra trong sự hạn chế lớn đến thế, thật khiến hậu sinh vãn bối chúng ta vô cùng khâm phục.

Tác giả của những bài bát cổ ưu tú này đã tận dụng khéo léo các quy tắc có sẵn, vô tình hay hữu ý chèn vào quan điểm của bản thân, và vận dụng những từ ngữ đẹp đẽ để thể hiện. Họ không nghi ngờ gì chính là những người thắng cuộc thực sự trong cuộc đua quy tắc này.

Tệ đoan của thi cử bát cổ rất nhiều, nhân tài được chọn ra đa phần là những kẻ mọt sách. Học giả nổi tiếng thời Minh là Tống Liêm từng mô tả một số nhân tài được chọn qua bát cổ: "Giao tiếp với họ, hai mắt nhìn trân trân, lưỡi cứng đờ không thể đối đáp", đúng là một bộ mặt của kẻ ngốc.

Nhưng văn bát cổ vẫn có tác dụng nhất định. Ví dụ như Ngô Kính Tử trong cuốn "Nho Lâm Ngoại Sử" từng viết: "Văn bát cổ nếu làm tốt, tùy ngươi làm thứ gì, muốn thơ thì thơ, muốn phú thì phú, đều là một roi một vết, một tát một máu". Có thể thấy, văn bát cổ là nền tảng cho việc viết nhiều thể loại văn chương. Quan trọng hơn, trong sự hạn chế như vậy, nhiều nhân tài ưu tú càng có thể nổi bật, như Từ Giai, Cao Củng, Trương Cư Chính sau này, ai mà không phải là người đạt điểm cao trong văn bát cổ? Những nhân tài này chính là cao thủ trong các cao thủ.

Tổng quan mà nói, chế độ này vẫn là hại nhiều hơn lợi, giam cầm tư duy con người, hại người không ít. Ảnh hưởng của nó sâu xa đến tận thời cận đại, người ta vẫn lấy việc từng thi đỗ bát cổ làm vinh dự. Ví dụ như Trần Độc Tú và hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh lúc bấy giờ là Tưởng Mộng Lân đều là tú tài thời tiền Thanh. Trần Độc Tú từng hỏi Tưởng Mộng Lân thi là tú tài gì, Tưởng Mộng Lân trả lời là tú tài sách luận. Trần Độc Tú vô cùng đắc ý, cười ha hả nói mình thi là tú tài bát cổ, giá trị hơn tú tài sách luận. Tưởng Mộng Lân vội vàng vái chào. Mọi người có thể thấy từ đó, bát cổ có sức ảnh hưởng lớn đến mức nào.

"Đấu tranh triều đình"

Chu Nguyên Chương sau khi giải quyết xong Bắc Nguyên, đã đề ra một loạt chính sách nhằm khôi phục sản xuất và đời sống, đạt được hiệu quả tốt. Nhưng lúc này, mâu thuẫn nội bộ triều đình lại trở nên gay gắt, đại thần chia thành hai phái, lấy địa vực làm phân định, bắt đầu những cuộc tranh đấu mới.

Những cái gọi là bè phái này, thực chất chính là hội đồng hương. Mọi người đều nói cùng một phương ngôn. Hội đồng hương lớn nhất dưới trướng Chu Nguyên Chương chính là Hoài Tây tập đoàn. Hội trưởng vốn dĩ nên là Chu Nguyên Chương, nhưng xét đến việc ông còn kiêm chức hoàng đế, nên lúc đó do Lý Thiện Trường đại diện. Tập đoàn này người đông thế mạnh, thành viên chủ chốt gồm Lý Thiện Trường, Quách Hưng, Quách Anh, Thang Hòa, Chu Đức Hưng, còn bao gồm cả Thường Ngộ Xuân đã qua đời. Có thể nói những người này chính là ban bệ khởi nghiệp của đồng chí Chu Nguyên Chương. Người thời đó gặp nhau đều lấy việc nói được tiếng Hoài Tây làm vinh dự.

Có bạn hỏi, Lý Thiện Trường là nhân vật nào, tại sao lại là công thần số một? Quả thực, ông ta dường như rất ít khi ra mặt làm việc lớn, điều này được quyết định bởi đặc điểm công việc của ông. Người này chủ yếu phụ trách hậu cần và xử lý chính vụ. Nếu ví Lưu Cơ như Trương Lương, thì Lý Thiện Trường chính là Tiêu Hà. Ông ta luôn theo Chu Nguyên Chương đánh thiên hạ, vất vả ngược xuôi. Công việc hậu cần không dễ làm, vừa tốn tâm tốn sức lại vừa không được lòng người. Chu Nguyên Chương là người hiểu chuyện, nên sau khi lập quốc, đã lấy Lý Thiện Trường làm công thần số một, bổ nhiệm ông làm Thừa tướng.

Đặc điểm của Lý Thiện Trường là vẻ ngoài khoan hậu nhưng lòng dạ hẹp hòi, ai dám đối đầu với ông ta, thì nhất định phải giải quyết đối phương.

Tục ngữ có câu ác nhân tự hữu ác nhân trị, có kẻ dám lạm quyền, thì có kẻ dám phân quyền. Hoài Tây tập đoàn nhanh chóng gặp phải đối thủ, đó chính là Chiết Đông tập đoàn. Thủ lĩnh của tập đoàn này chính là Lưu Cơ.

Hai tập đoàn này bắt đầu đấu đá ngay dưới mí mắt của Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương dường như cũng rất hứng thú, ông chuẩn bị xem một vở kịch hay.

Nhân vật chính của vở kịch này là Lý Thiện Trường và Lưu Cơ, nhưng chỉ có nhân vật chính thôi thì chưa đủ, dưới đây chúng ta sẽ giới thiệu các vai phụ và quần chúng xuất hiện, những người này đông đảo, là thành phần không thể thiếu của vở kịch này.

Những quan viên lấy việc bới lông tìm vết làm nghề nghiệp.

Tên của họ là Ngôn quan. Dưới đây chúng ta sẽ giới thiệu về những người này.

Ngôn quan rốt cuộc là quan gì? Đúng như tên gọi, chính là quan để nói. Đến cuối thời Minh, cũng có người gọi những người này là "mắng quan". Thực tế, họ là sản phẩm của chế độ giám sát thời Minh.

Thời kỳ đầu Chu Nguyên Chương lập quốc, mô phỏng theo chế độ nhà Nguyên, thiết lập Ngự Sử Đài. Đến năm Hồng Vũ thứ 15 (năm 1382), Chu Nguyên Chương đổi tên thành Đô Sát Viện. Người đứng đầu Đô Sát Viện là Tả Hữu Đô Ngự Sử, danh xưng này mọi người thường nghe trên phim truyền hình. Cốt cán chính của Đô Sát Viện là Đô Sát Ngự Sử, những vị này có tổng cộng mười ba đạo, phân chia theo mười ba tỉnh thời đó, tổng cộng có 110 người. Những người này quyền lực cực lớn, việc gì họ cũng quản. Do bình thường không có việc cụ thể phải xử lý, nên suốt ngày đi lại khắp nơi, không phải đến Binh Bộ kiểm tra ăn chặn biên chế, thì là đến Hình Bộ kiểm tra án oan sai. Quan viên làm việc nhìn thấy họ đều sợ.

Có người có thể hỏi, những người này quyền lực lớn như vậy, nếu họ cũng徇私枉法 (tư lợi làm trái pháp luật) thì sao? Nói đến đây, chúng ta phải vô cùng khâm phục Chu Nguyên Chương. Ông đã nghĩ ra một số cách rất tuyệt để quy phạm hành vi của Ngự Sử. Thứ nhất, khi chọn Ngự Sử, chuyên tìm những kẻ mọt sách, những tiên sinh đạo học, những kẻ cứng nhắc để làm nghề này, vì công việc này đắc tội người, không kiếm được tiền, mà tiên sinh đạo học là ứng cử viên phù hợp nhất. Thứ hai, ông dùng cách "lấy nhỏ chế lớn", những Ngự Sử này đều là quan thất phẩm, có thể nói là quan tép riu, nhưng lại được trao quyền giám sát trưởng quan, khiến họ không dám quá kiêu ngạo. Có một chức quan gọi là Bát Phủ Tuần Án (từng xuất hiện trong phim của Châu Tinh Trì), mọi người nghe qua thì thấy tuần án của tám phủ, quan chắc lớn lắm, thực ra đây cũng là quan tép riu, thường là do triều đình tạm thời ủy nhiệm Giám Sát Ngự Sử đảm nhận, tương đương với cái gọi là đặc phái viên trước kia, quan cực nhỏ, quyền cực lớn. Nhưng dù vậy, Chu Nguyên Chương vẫn không yên tâm, thế là ông lại xây dựng một bộ máy nữa để giám sát Đô Sát Viện. Đó chính là Lục Khoa Cấp Sự Trung.

Tương ứng với Lục Bộ của trung ương, Chu Nguyên Chương thiết lập Lục Khoa, mỗi khoa thiết lập một Đô Cấp Sự Trung, chức quan chính thất phẩm, Tả Hữu Cấp Sự Trung chức quan tòng thất phẩm. Quyền lực của những người này lớn đến mức kinh người.

Nếu họ cho rằng sắc lệnh ban hành dưới danh nghĩa hoàng đế có chỗ không thỏa đáng, họ thậm chí có thể trả lại sắc lệnh! Còn các sự việc hoàng đế giao cho các nha môn xử lý, họ cứ năm ngày kiểm tra đốc thúc một lần, nếu có kẻ trì hoãn không làm, hoặc động tác chậm chạp, họ sẽ báo cáo lên hoàng đế. Các bộ hoàn thành nhiệm vụ còn phải ngoan ngoãn đến Lục Khoa để tiêu sổ. Ngoài ra, việc khảo hạch quan viên cuối năm cũng do những Cấp Sự Trung này thẩm định.

Đặc điểm hành vi của những người này có thể tóm tắt là: "Ngươi đánh ta, ta liền mắng ngươi". Đây không phải là một câu nói đùa, họ chưa bao giờ dùng vũ lực, toàn bộ công phu đều nằm ở cái miệng và tấu chương. Nếu ngươi đắc tội với họ, thì thảm rồi. Những người này công phu mắng người cực cao, đều là bậc đọc nhiều sách thánh hiền, mắng người cũng có điển tích lai lịch, xuất phát từ điển nào điều nào. Nếu ngươi đọc sách ít, còn tưởng họ đang khen ngươi đấy. Có khi về nhà tra sách, nhìn thấy một điển cố nào đó mới chợt bừng tỉnh, ngay cả tổ tông mười tám đời cũng bị người ta mắng cho rồi. Công phu mắng người không văng tục này thật sự lợi hại. Tuyệt kỹ độc môn này truyền từ đời này sang đời khác, đến thời Đông Lâm Đảng thì đạt đến đỉnh cao, đúng là nước miếng bay tứ tung, dẫn kinh cứ điển, ý tứ độc ác mà từ ngữ lại đẹp đẽ. Mượn một câu của Cát Ưu: "Người ta mắng ngươi mà ngươi còn nghe không hiểu!"

Sau khi Chu Nguyên Chương thu nạp nhóm người này, chính ông cũng sớm phải nếm mùi đau khổ.

Có một sự việc có thể chứng minh sự đáng sợ của các Ngôn quan. Thời Hồng Vũ, Ngự Sử Chu Quan Chính tuần thị Phụng Thiên Môn ở Nam Kinh. Ở đây xin giải thích một chút, Chu Quan Chính là Tuần Thành Ngự Sử, thuộc hàng thấp nhất trong các Giám Sát Ngự Sử. Trong lúc tuần tra, ông gặp một nhóm thái giám đang dẫn theo một toán nữ nhạc đi vào trong Phụng Thiên Môn. Theo chế độ nội cung của Đại Minh, nữ nhạc không được phép vào trong. Chu Quan Chính lập tức tiến lên ngăn cản, kẻ thái giám dẫn đầu không thèm để ý đến ông, buông một câu: "Ta có thánh chỉ trong tay!" (Chú ý sức nặng của câu này).

Đáng lẽ người bình thường thì cho qua rồi, nhưng Chu Quan Chính kiên trì nói rằng dù có thánh chỉ cũng không được vi phạm chế độ nội cung của Đại Minh, kiên quyết không cho nữ nhạc vào trong. Thái giám gặp phải người như vậy, đành phải quay về cung bẩm báo Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương cười khổ một cái, liền truyền khẩu dụ, không cho nữ nhạc vào cung nữa, còn đặc biệt thêm một câu: "Chu Quan Chính, ngươi làm tốt lắm, về nghỉ đi". Dù thế nào đi nữa, Chu Nguyên Chương đã nhân chí nghĩa tận, cho Chu Quan Chính đủ mặt mũi. Thế nhưng chuyện không ai ngờ tới đã xảy ra.

Chu Quan Chính chết cũng không chịu đi, tên mọt sách này không hề buông tha, nhất định phải bắt Chu Nguyên Chương ra nói chuyện với ông. Chu Nguyên Chương hiểu rằng những người mình chọn đều là những kẻ không thể thông cảm. Giải trí cũng không xong, đành đích thân mặc triều phục ra khỏi cung để an ủi, nói với Chu Quan Chính: "Ngươi làm đúng, ta đã hối cải, không dùng nữ nhạc nữa". Chu Quan Chính nghe xong mới chịu về nhà ngủ.

Thật là chuyện lạ ngàn đời! Khẩu dụ của hoàng đế còn chưa xong, thế mà lại phải đích thân ra xin lỗi! Chúng ta vừa thán phục tên mọt sách này, không lẽ lại không khâm phục sự dũng cảm và chính trực của ông ta sao? Đại Minh vương triều chính là vì có những người kiên trì nguyên tắc như vậy, mới có thể kéo dài hai trăm năm trường thịnh không suy.

Phải nói rằng chế độ giám sát mà Chu Nguyên Chương lập ra là khá tốt.

Nhưng xin lưu ý, nếu ngươi không phải là Ngự Sử mười ba đạo, cũng không phải là Cấp Sự Trung Lục Khoa, không thuộc Ngôn quan, thì đừng có nhiều lời! Đừng thấy Ngôn quan bày ra uy phong trước mặt hoàng đế, mà ngươi cũng bắt chước theo làm vài câu, không chém đầu ngươi mới là lạ. Ngôn quan dám làm như vậy là có truyền thống lâu đời.

Từ xưa đến nay, đã có sự thiết lập của Ngôn quan. Những người này không quản việc cụ thể, nhiệm vụ của họ là đưa ra ý kiến. Mà các triều đại phong kiến từ trước đến nay cũng hình thành một truyền thống - không giết Ngôn quan. Trong lịch sử, dù là hoàng đế hôn ám đến đâu, cũng rất ít kẻ có lá gan dám giết Ngôn quan. Cho nên trên triều đường thường xuyên xuất hiện tình huống như thế này: Ngôn quan ở dưới nói cái sai của hoàng đế, không hề nể mặt hoàng đế chút nào, còn đắc ý tự mãn, có chút khí phách "ngươi làm gì được lão tử". Còn hoàng đế chỉ có thể ở trên vừa nghe vừa nghiến răng nghiến lợi, nghĩ thầm ngày mai sẽ điều ngươi đi chỗ khác rồi chỉnh đốn ngươi. Ngôn quan quả thực uy phong thật đấy.

Câu chuyện kể trên không chỉ nhằm mục đích giải thích quyền lực và uy nghiêm của Ngôn quan, liệt kê câu chuyện này còn có một mục đích khác.

Mọi người cũng có thể thấy, trong sự việc này, Chu Quan Chính làm quá mức rồi, dùng ngôn từ ngày nay mà nói là quá cứng nhắc. Hoàng đế có rất nhiều việc, ngươi chặn nữ nhạc lại, hoàng đế cũng đã truyền khẩu dụ khen ngợi ngươi, thế là đủ rồi. Cứ nhất quyết bắt hoàng đế phải ra nói rõ với ngươi, ông ta lấy đâu ra nhiều thời gian và kiên nhẫn như vậy. Chu Nguyên Chương là người thiết lập chế độ, nên ông phải làm gương, nhưng các hoàng đế sau này thì sao? Trời vừa sáng đã bắt họ dậy ra ngoài gió lạnh để nói rõ với ngươi? Dù có tính khí tốt đến đâu cũng sẽ bị những Ngự Sử này chọc giận. Có thể thấy, đặc điểm này của Ngự Sử quyết định hướng phát triển tương lai của họ sẽ xuất hiện sự lệch lạc nhất định, chúng ta sẽ thấy sức mạnh lệch lạc này gây ra ảnh hưởng to lớn thế nào đối với quốc gia ở phần sau.

Diễn viên đã đủ, dưới đây chúng ta hãy xem vở kịch này được diễn như thế nào nhé.

"Lưu Cơ và Lý Thiện Trường"

Trước hết nói về thủ lĩnh Hoài Tây tập đoàn là Lý Thiện Trường, ông ta được Chu Nguyên Chương coi là công thần số một, năm Hồng Vũ thứ ba được phong làm Hàn Quốc Công, điều này rất ghê gớm, vì lúc đó Chu Nguyên Chương tổng cộng chỉ phong sáu vị Công tước, năm người còn lại lần lượt là Từ Đạt, Thường Mậu (con trai Thường Ngộ Xuân), Lý Văn Trung, Phùng Thắng, Đặng Dũ. Mọi người đã biết năm vị nhân huynh này lợi hại đến mức nào, họ đều là những danh tướng thế hệ máu lửa xông pha trận mạc, mà điều bất ngờ là thứ tự của Lý Thiện Trường lại còn trên cả những người này, đứng đầu danh sách.

Ông ta cũng là văn thần duy nhất trong các Công tước.

So sánh mà nói, Lưu Cơ cũng lập công lớn cho Chu Nguyên Chương đánh thiên hạ, nhưng chỉ được phong Thành Ý Bá (Bá tước), điều đáng suy ngẫm là bổng lộc của ông cũng là thấp nhất trong các Bá tước, mỗi năm chỉ có 240 thạch, trong khi Lý Thiện Trường là 4000 thạch, nhiều hơn Lưu Cơ gấp mười mấy lần.

Người đời sau thường không hiểu, Lưu Cơ vận trù帷幄 (trong màn trướng tính toán), quyết thắng ngàn dặm, trong nhiều quyết sách quan trọng đã đóng vai trò quan trọng, tại sao chỉ nhận được đãi ngộ như vậy?

Thực ra chỉ cần suy nghĩ kỹ một chút sẽ thấy vấn đề này không phải là khó giải thích đến thế. Chu Nguyên Chương là người có quan niệm quê hương rất nặng, Lý Thiện Trường là đồng hương của ông, hơn nữa nhiều năm qua chỉ làm việc phía sau màn, chưa bao giờ tranh giành nổi bật, cặm cụi làm việc, một người như vậy Chu Nguyên Chương rất yên tâm. Ngược lại, Lưu Cơ là người xứ khác, quan trọng hơn là khả năng phán đoán sự việc của Lưu Cơ còn chính xác hơn cả ông!

Từ trận Long Loan đến cứu viện An Phong, điều Chu Nguyên Chương nghĩ đến, ông cũng nghĩ đến, điều Chu Nguyên Chương không nghĩ đến, ông vẫn nghĩ đến.

Đổi lại là ngươi làm hoàng đế, có dung nạp một người như vậy bên cạnh mình không? Hơn nữa những quyết sách này không phải là sách lược an dân, mà là sách lược quyền mưu, dùng để làm âm mưu chính biến rất hữu hiệu, cộng thêm căn cơ "hậu hắc học" của Lưu Cơ cũng rất sâu, Chu Nguyên Chương thỉnh thoảng lại nhớ đến việc ông khuyên mình không nên đi cứu Hàn Lâm Nhi. Ai biết được tương lai ông có làm một vố như vậy với chính mình hay không.

Không giết ông đã là tốt lắm rồi, còn muốn phong thưởng sao.

Lưu Cơ cả đời thông minh, nhưng cũng sơ suất ở điểm này.

Điều này cũng quyết định việc ông khó có thể trở thành người chiến thắng trong cuộc đấu tranh này.

Năm Hồng Vũ thứ nhất, đôi bên lần đầu tiên giao phong.

Cơ quan giám sát lúc bấy giờ được mô phỏng theo cơ quan nhà Nguyên là Ngự Sử Đài, chức quan của Lưu Cơ là Ngự Sử Trung Thừa, nghĩa là ông là thủ lĩnh của Ngôn quan, chúng ta đã giới thiệu sức mạnh của Ngôn quan ở trên, lúc này lợi thế thuộc về phía Lưu Cơ.

Ngòi nổ gây ra mâu thuẫn là một người tên là Lý Bân, người này là thân tín của Lý Thiện Trường, do phạm pháp nên bị Lưu Cơ bắt lại. Sau khi điều tra rõ tội trạng, Lưu Cơ quyết định xử tử ông ta. Lúc này vừa đúng lúc Chu Nguyên Chương ra ngoài, Lý Thiện Trường vội vàng đi tìm Lưu Cơ xin xỏ, nhưng Lưu Cơ lại cứng mềm không ăn, không những không nể mặt ông ta, mà còn báo cáo việc này lên Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương nổi giận, ra lệnh xử tử Lý Bân ngay lập tức. Không khéo là, tờ trả lời này lại rơi đúng vào tay Lý Thiện Trường, ông ta tuy không dám giấu giếm, nhưng cũng tức giận ngút trời. Ông ta hiểu rằng trực tiếp tìm Lưu Cơ xin xỏ là không được rồi, để cứu mạng thân tín của mình, ông ta nghĩ ra một cái cớ, ông ta tin rằng chỉ cần đưa ra cái cớ này, Lưu Cơ sẽ không từ chối yêu cầu xin xỏ của ông ta.

Ông ta tìm Lưu Cơ, nói với ông: "Kinh thành đã lâu không mưa, tiên sinh thông thạo thiên văn, lúc này không nên vọng sát người". Lý Thiện Trường có thể nói là lão gian cự hoạt, ông ta biết rõ Lưu Cơ tinh thông đạo thiên văn, lấy đó làm cái cớ, nếu Lưu Cơ kiên trì muốn giết Lý Bân, hoàn toàn có thể đổ trách nhiệm trời không mưa lên đầu Lưu Cơ, lúc đó lại không có dự báo thời tiết, quỷ mới biết khi nào trời mưa.

Thế nhưng câu trả lời của Lưu Cơ là: "Giết Lý Bân, trời tất mưa!"

Lý Bân cứ thế bị xử tử.

Lý Thiện Trường bị chọc giận, ông ta bắt đầu chuẩn bị cho đợt phản kích đầu tiên của mình.

Lưu Cơ dám nói những lời như vậy, phải nói là ông có nắm chắc nhất định, ông thực sự hiểu thiên văn khí tượng, nhưng vấn đề nằm ở chỗ ngay cả dự báo thời tiết ngày nay, cũng có lúc không chính xác.

Lần này Lưu Cơ vận may không tốt, đợi mãi cũng không thấy mưa. Đợi đến khi Chu Nguyên Chương vừa về, năng lượng tích tụ bấy lâu của Lý Thiện Trường bùng nổ, ông ta kích động rất nhiều người tấn công Lưu Cơ. Chu Nguyên Chương là người hiểu chuyện, không làm khó Lưu Cơ, nhưng bản thân Lưu Cơ biết rằng, ở đây không thể ở lại được nữa, thế là vào tháng Tám năm đó, ông xin nghỉ về quê.

Trước khi đi, đúng lúc Chu Nguyên Chương đang nóng đầu, muốn xây dựng thủ đô ở Phượng Dương, đồng thời tích cực chuẩn bị viễn chinh Bắc Nguyên. Lưu Cơ đưa ra lời khuyên cuối cùng cho Chu Nguyên Chương: xây dựng thủ đô ở Phượng Dương là tuyệt đối không được, còn Bắc Nguyên vẫn có thực lực mạnh, xuất binh dễ dàng là không thỏa đáng. Sự thật sau này chứng minh, ông lại đúng rồi.

Phải nói rằng, Chu Nguyên Chương lúc bấy giờ rất hiểu Lưu Cơ, ông từng nói với con trai Lưu Cơ rằng, hiện nay văn võ đầy triều đều kết bè kết phái, chỉ có Lưu Cơ không cùng họ làm chuyện đó, ta là người hiểu chuyện, sẽ không đối xử tệ với ông ấy.

Chu Nguyên Chương lần này thật sự bị Lưu Cơ lừa rồi, Lưu Cơ không phải là kẻ thiện nam tín nữ gì, trước khi đi ông đã đặt quân cờ của mình, đó là Dương Hiến.

Dương Hiến là đồng đảng thân tín của Lưu Cơ, ông ta nhận được chỉ thị của Lưu Cơ, kế nhiệm chức Ngự Sử Trung Thừa, chuẩn bị cho cuộc phản công Hoài Tây tập đoàn.

Vị Dương Hiến này cũng không đơn giản, ông ta giấu tài, nâng đỡ Cao Kiến Hiền và những người khác, lợi dụng sức mạnh của Ngôn quan, không ngừng thu thập sơ hở của Lý Thiện Trường, và báo cáo với Chu Nguyên Chương, nói Lý Thiện Trường không tài không đức, không thể giao trọng trách. Chu Nguyên Chương không phải kẻ ngu, ông biết mục đích của Dương Hiến khi nói những lời này, ban đầu không hề bị lay chuyển, nhưng thời gian lâu rồi, ông cũng dần có cái nhìn khác về Lý Thiện Trường, chỉ trích Lý Thiện Trường rất nhiều. Tháng Mười một, ông triệu hồi Lưu Cơ, và giao trọng trách. Hoài Tây tập đoàn bị đè bẹp hoàn toàn.

Chiết Đông tập đoàn sắp trở thành người chiến thắng, Lý Thiện Trường vô cùng lo lắng, ông hiểu mình đã trở thành bia ngắm, nhất định phải học Lưu Cơ, tìm một người đại diện, nhưng người này lại không được quá có uy vọng, phải dễ kiểm soát. Thế là ông ta nhắm đến Hồ Duy Dung, nhưng điều ông ta không ngờ là, lựa chọn này cuối cùng đã khiến ông ta bước lên con đường không lối về.

Hồ Duy Dung là đồng hương của Lý Thiện Trường, ông ta theo Chu Nguyên Chương từ rất sớm, nhưng luôn không được như ý, chỉ làm những chức quan nhỏ như tri huyện, nhưng ông ta là người có năng lực. Sau khi nhận được sự gật đầu của Lý Thiện Trường, ông ta trở thành thủ lĩnh mới của Hoài Tây tập đoàn. Cuộc đấu tranh này cuối cùng sẽ kết thúc trong tay ông ta.

Ngay lúc Chiết Đông tập đoàn đắc ý nhất, sự việc lại xảy ra thay đổi. Do Lưu Cơ là người ăn nói quá thẳng thắn, dùng ngôn từ ngày nay mà nói là không có kỹ năng giao tiếp, rất nhiều người bắt đầu nói xấu ông trước mặt Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương đối với người túc trí đa mưu này cũng nảy sinh lòng nghi ngờ, thế là mới có cuộc nói chuyện quyết định vận mệnh của Lưu Cơ sau này.

"Sự thử thách trong cuộc nói chuyện"

Ngày hôm đó, Chu Nguyên Chương gọi riêng Lưu Cơ đến nói chuyện. Ban đầu khá hòa hợp, đôi bên bắt đầu cuộc nói chuyện bằng những câu chuyện thường ngày. Ngay khi bầu không khí dần trở nên hòa hợp, Chu Nguyên Chương đột nhiên thay đổi sắc mặt, dùng giọng điệu nghiêm túc hỏi Lưu Cơ, nếu thay Lý Thiện Trường, ai có thể làm Thừa tướng.

Lưu Cơ vô cùng cảnh giác, lập tức nói, việc này phải do bệ hạ quyết định.

Sắc mặt Chu Nguyên Chương lúc này mới khá hơn một chút, ông hỏi tiếp: "Ngươi thấy Dương Hiến thế nào?"

Đây lại là một cái bẫy, Chu Nguyên Chương biết rõ Dương Hiến là người của Lưu Cơ, nên mới đưa người này ra trước để thử Lưu Cơ.

Lưu Cơ lúc này mới hiểu ra, đây là một cuộc nói chuyện cực kỳ nguy hiểm, nếu sơ suất một chút, sẽ mất đầu như chơi! Ông lập tức trả lời: "Dương Hiến có tài của Thừa tướng, nhưng không có khí lượng của Thừa tướng, không được."

Nhưng sự thử thách vẫn chưa dừng lại ở đó, Chu Nguyên Chương hỏi tiếp: "Uông Quảng Dương thế nào?"

Đây là cái bẫy thứ hai, Uông Quảng Dương vốn không phải là thành viên của Hoài Tây tập đoàn. Chu Nguyên Chương nghi ngờ hắn và Lưu Cơ cấu kết với nhau, cho nên mới đưa tên hắn ra đầu tiên.

Lưu Cơ thấy chiêu nào đỡ chiêu nấy, đáp rằng: "Người này quá nông cạn, không thể dùng được."

Chu Nguyên Chương nhìn Lưu Cơ với ánh mắt thán phục, đây quả là một người tinh minh.

Ông đưa ra nhân tuyển thứ ba: "Hồ Duy Dung thì sao?"

Lưu Cơ thở phào nhẹ nhõm, đưa ra nhận định chính xác nhất trong cuộc đời mình: "Hồ Duy Dung hiện giờ là một con nghé con, nhưng tương lai hắn nhất định sẽ bứt phá khỏi sự trói buộc của cày bừa!"

Nói xong câu này, Lưu Cơ thấy nhẹ nhõm hẳn, ông biết rằng cuộc khảo nghiệm đã qua đi. Nhưng ông đã lầm, câu hỏi tiếp theo mới chính là đòn chí mạng.

Chu Nguyên Chương cuối cùng cũng tung ra đòn sát thủ, ông dùng giọng điệu thâm trầm nói: "Vị trí thừa tướng của ta chỉ có tiên sinh mới đảm đương nổi."

Người đời thường sau khi trải qua trạng thái căng thẳng tột độ, tư tưởng sẽ nới lỏng ra, Lưu Cơ cũng không ngoại lệ. Ông cuối cùng đã phạm phải một sai lầm, và sai lầm này lại là chí mạng.

Ông không suy nghĩ kỹ càng mà đáp lại Chu Nguyên Chương: "Không phải thần không biết mình có thể đảm đương, nhưng thần là kẻ ghét ác như thù, hoàng thượng hãy cứ từ từ chọn lựa đi." Câu nói này vô cùng không thỏa đáng, không chỉ tự cao tự đại coi mình có tài làm thừa tướng, mà còn nói ra cái gọi là "ghét ác như thù", như lời Lưu Cơ nói, thì ai mới là kẻ ác?

Cơn hồ đồ của Lưu Cơ vẫn chưa dứt, ông còn bồi thêm một câu: "Những người hiện tại, trong mắt thần đều không có ai thích hợp."

Chu Nguyên Chương từ đó quyết liệt cắt đứt với Lưu Cơ.

Từ đó trở đi, Lưu Cơ không còn nhận được sự tín nhiệm của Chu Nguyên Chương nữa. Tuy hiểu rằng địa vị của mình không còn như trước, nhưng ông vẫn kiên trì làm quan trong triều, chống đỡ cho Chiết Đông tập đoàn. Thế nhưng Chu Nguyên Chương đâu phải người dễ dàng bỏ qua như vậy.

Năm Hồng Vũ thứ ba, Chu Nguyên Chương đích thân hạ chiếu cho Lưu Cơ, nói với ông những lời này: "Ngươi tuổi tác đã cao, nên về nhà ở cùng vợ con, hà tất phải khổ sở ở đây bầu bạn với ta chứ."

Ý của câu này chính là: "Ta muốn đuổi việc ngươi, đi đi thôi." Lưu Cơ đành phải quay về quê nhà.

Lúc này, một tướng lĩnh khác của Chiết Đông tập đoàn là Dương Hiến mất đi sự giúp đỡ của Lưu Cơ, chẳng bao lâu sau đã bị phái Hoài Tây bài trừ, bản thân cũng không giữ được tính mạng, bị Hồ Duy Dung tìm cớ giết chết.

Trong cuộc đấu tranh này, Hoài Tây tập đoàn cuối cùng đã giành thắng lợi toàn diện.

Lưu Cơ hiểu rằng mình đã thất bại, tâm nguyện duy nhất của ông lúc này là an hưởng tuổi già ở quê nhà, trải qua quãng đời còn lại. Thế nhưng trong cuộc đấu tranh này, kẻ thất bại phải trả giá.

Hồ Duy Dung trở thành thừa tướng, hắn không buông tha cho Lưu Cơ, sai thuộc hạ dâng sớ tố cáo Lưu Cơ. Lúc này Lưu Cơ đã không còn chức tước, còn có thể tố cáo ông tội gì nữa? Nhưng cái gọi là "muốn khép tội thì lo gì không có lý do", quả thật là chân lý đời đời.

Tội danh của Lưu Cơ là chiếm giữ một mảnh đất có "vương khí". Cái gọi là vương khí thực chất là thứ khó nói rõ, bảo có thì là có, bảo không thì là không, chỉ xem mục đích của ngươi là gì mà thôi.

Thế là Chu Nguyên Chương lại hạ chiếu trừng phạt Lưu Cơ. Quan chức đều không còn, thì còn phạt cái gì nữa? Chu Nguyên Chương có cách, ông cắt bỏ lương hưu của Lưu Cơ.

Lưu Cơ rơi vào tuyệt vọng, nhưng trí tuệ của ông lại một lần nữa phát huy tác dụng. Ông không ngồi chờ chết tại chỗ mà bất ngờ quay trở lại kinh thành.

Đây quả thật là một nước cờ cực kỳ cao tay. Ông hiểu rằng, nguyên nhân cốt lõi khiến Hồ Duy Dung đối phó với mình nằm ở Chu Nguyên Chương. Chỉ cần mình quay lại kinh thành, ở ngay dưới mí mắt của Chu Nguyên Chương, khiến ông ta yên tâm, thì tính mạng của mình mới được bảo đảm.

Nhưng lần này, ông lại sai rồi.

Tháng Giêng năm Hồng Vũ thứ tám, Lưu Cơ đổ bệnh. Chu Nguyên Chương phái Hồ Duy Dung (hãy chú ý điểm này) đến thăm Lưu Cơ. Vị bác sĩ đi cùng Hồ Duy Dung đã kê đơn thuốc cho Lưu Cơ, Lưu Cơ uống thuốc xong thì bệnh tình càng lúc càng nặng, chẳng bao lâu sau liền qua đời.

Về nguyên nhân cái chết của Lưu Cơ, sau này khi vụ án Hồ Duy Dung bại lộ, vị bác sĩ kia đã thú nhận rằng chính Hồ Duy Dung sai khiến hắn đầu độc Lưu Cơ. Điều này cũng trở thành một trong những tội trạng của Hồ Duy Dung.

Nhưng rất nhiều người đều biết, Hồ Duy Dung và Lưu Cơ có thù với nhau, Chu Nguyên Chương cũng biết rõ, vậy mà vẫn phái hắn đi thăm Lưu Cơ. Với một người có sức ảnh hưởng như Lưu Cơ, Hồ Duy Dung không dám tùy tiện ra tay, bằng không đã chẳng để Lưu Cơ tiêu dao dưới mí mắt hắn suốt năm năm trời. Rất có khả năng hắn đã nhận được sự ngầm đồng ý của Chu Nguyên Chương. Dù việc này có phải do Chu Nguyên Chương sai khiến hay không, thì không còn nghi ngờ gì nữa, cái chết của Lưu Cơ, Chu Nguyên Chương phải chịu trách nhiệm.

Lưu Cơ cả đời túc trí đa mưu, lập công lao hãn mã cho việc xây dựng vương triều nhà Minh. Ông phán đoán tình hình chuẩn xác, tư duy chặt chẽ, có thể dự đoán hướng đi của sự việc. Tuy bản thân ông không thực sự có bản lĩnh hô mưa gọi gió như trong truyền thuyết dân gian, nhưng nhìn từ khả năng phán đoán và dự liệu của ông, thì đánh giá "liệu sự như thần" cũng không hề quá lời. Giống như Gia Cát Lượng, ông đã được bách tính ghi nhớ như một biểu tượng của trí tuệ.

Trong mắt tôi, ông hoàn toàn xứng đáng với vinh dự này.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »