Nội dung bắt đầu sau sự kiện "Tĩnh Nan chi biến" – cuộc đảo chính đoạt ngôi của Minh Thành Tổ Chu Đệ.
Trước hết kể về sự nghiệp hiển hách của Minh Thành Tổ: xuất chinh Bắc phạt đánh Mông Cổ năm lần, Trịnh Hòa bảy lần đi Tây Dương, biên soạn bộ Vĩnh Lạc Đại Điển, bình định An Nam (Việt Nam)… Sau đó, Minh Thành Tổ qua đời trên đường từ Bắc phạt trở về, nhà Minh bước vào một giai đoạn mới.
Sau thời kỳ thái bình và thanh khiết "Nhân – Tuyên chi trị", nhà Minh bước vào thời kỳ biến động. Hoạn quan nắm quyền tác oai tác quái, khiến 20 vạn quân tinh nhuệ bị tiêu diệt. May mắn thay, vị trung thần nổi tiếng Vu Khiêm đã cứu nguy trong trận "Phòng thủ Kinh thành", cứu vãn đế chế nhà Minh. Nhưng sau đó, ông bị hại trong sự kiện "Đoạt Môn chi biến" – cuộc tranh giành ngai vàng giữa hai vị hoàng đế.
+++
Một ngày mới lại bắt đầu, Chu Đệ ngồi trên ngai vàng, nhìn xuống toàn bộ đế quốc này. Cuộc đấu tranh sinh tử trước đó dường như vẫn còn hiện rõ mồn một, nhưng điều đó chẳng còn quan trọng nữa. Bởi lẽ đối với kẻ thất bại trong cuộc tranh giành ấy là Chu Doãn Văn, việc chấm dứt địa vị chính trị cũng đồng nghĩa với việc cuộc đời hắn đã kết thúc, bất kể hắn còn sống hay đã chết. Thế nhưng với Chu Đệ, ánh mặt trời hôm nay thật rạng rỡ. Ông đã đạt được tất cả những gì mình muốn, và trong một khoảng thời gian dài sắp tới, ông sẽ dùng quyền lực trong tay để hiện thực hóa giấc mơ của mình – một giấc mơ về quốc phú binh cường.
Giấc mơ này không chỉ của riêng ông, mà còn là của cha ông.
Đương nhiên, trước đó ông phải thực hiện vài việc. Nếu không hoàn thành, chiếc ghế của ông sẽ không thể ngồi vững.
Việc quan trọng nhất chính là chứng minh bản thân là vị hoàng đế hợp pháp.
Dẫu giang sơn đã nằm trong tay, nhưng sức mạnh của dư luận cũng không thể xem thường. Bản thân ông dù sao cũng đã bị đóng dấu là "phản tặc", chuyện đã rồi không thể thay đổi, nhưng ít nhất ông phải để con cháu mình danh chính ngôn thuận làm hoàng đế. Để đạt được mục đích này, ông đã sử dụng hai phương pháp:
Thứ nhất, ông ban bố một đạo lệnh, hạ lệnh phế bỏ toàn bộ các quy chương chế độ thời Kiến Văn Đế nếu có điểm nào khác biệt so với thành lệ của Chu Nguyên Chương, tất cả đều phải lấy "tổ tông thành pháp" làm chuẩn. Điều này không phải vì thành pháp của Chu Nguyên Chương dễ dùng, mà vì Chu Đệ muốn có được sự công nhận của mọi người, ông buộc phải mượn lại uy danh của người cha đã khuất, để chứng tỏ mình mới là người thực sự thấu hiểu tinh thần trị quốc của Thái Tổ.
Thứ hai, ông lệnh cho thuộc hạ biên soạn lại "Thái Tổ Thực Lục". Bộ sách này từng được Kiến Văn Đế sửa qua một lần, nhưng rõ ràng bản đầu tiên không đáp ứng được yêu cầu của Chu Đệ. Ông cần một xuất thân hiển hách hơn, bởi lẽ kiểu khởi nghiệp tay trắng như Chu Nguyên Chương, mở miệng là "Ta vốn là kẻ áo vải đất Hoài Hữu", bày ra cái vẻ trời không sợ đất không sợ đó đã không còn phù hợp nữa. Trên đời này vốn chẳng có ai muốn làm ăn mày, thế là người mẹ ruột bị ông gạt ra sau đầu, Mã Hoàng hậu trở thành đích mẫu của ông. Về vấn đề này, chúng ta sẽ phân tích chi tiết ở phần sau.
Ngoài ra, ông còn chỉ thị thuộc hạ thêm thắt vào Thực Lục những đoạn văn phong tiểu thuyết, như việc Chu Nguyên Chương lúc sinh thời từng nhiều lần quở trách Chu Tiêu và Chu Doãn Văn, luôn tỏ vẻ "hận sắt không thành thép", trong khi đối với Chu Đệ thì luôn tán thưởng, hễ thấy Chu Đệ là mặt mày hớn hở, vô cùng vui vẻ. Thậm chí trước lúc lâm chung, ông còn nhiều lần hỏi thăm tin tức về Chu Đệ, và có ý truyền ngôi cho Chu Đệ. Nhưng do âm mưu của kẻ gian trá Chu Doãn Văn và đồng đảng, người kế vị hợp pháp là Chu Đệ đã không nhận được chỉ thị này của Chu Nguyên Chương. Thế là, ngôi vị vốn thuộc về Chu Đệ đã bị tước đoạt một cách vô sỉ. Những nội dung này khi đọc lên không khỏi khiến người ta căm ghét tột độ lũ tiểu nhân gian tà như Chu Doãn Văn, đồng thời cảm thấy an ủi vì Chu Đệ cuối cùng cũng giành lại được ngôi vị vốn thuộc về mình, và than thở rằng chính nghĩa cuối cùng cũng chiến thắng, người tốt rồi sẽ được báo đáp.
Khi Chu Đệ hoàn thành hai công việc này, ông thực sự trút được gánh nặng. Những lời lẽ bất lợi cho mình cuối cùng đã bị xóa bỏ, nhiều năm sau đó, cuộc chiến Tĩnh Nan này sẽ được lưu truyền với danh nghĩa chính nghĩa. Nhưng với tư cách là một trong những người chứng kiến lịch sử, Chu Đệ hiểu rất rõ rằng tại những nơi đã bị sửa đổi kia, vốn dĩ từng ghi chép sự thật lịch sử. Ông đã lôi cha mình từ dưới mộ lên, trang điểm lại một lần nữa, để chứng minh mình là người xứng đáng.
Lịch sử đã chứng minh, Chu Đệ thất bại rồi. Ông không thể lừa dối chính mình, cũng không lừa được người đời sau, bởi vì ngòi bút lịch sử thực sự không nằm ở chiếc bút lông của sử quan, mà nằm ở lòng người.
Dù là tự lừa mình dối người hay tự an ủi, thì chung quy ngôi vị hoàng đế mới là thực tế nhất. Sau khi xử lý xong vấn đề tính hợp pháp của việc kế vị, bước tiếp theo là ban thưởng cho công thần, đây là một bước cực kỳ quan trọng. Mặc dù các vị hoàng đế từ xưa đến nay đều không muốn nhìn thấy những công thần sau khi đại nghiệp đã thành, nhưng những người này dù sao cũng đã đầu tư vốn liếng vào đại nghiệp của hoàng đế, nắm giữ cổ phần, đến lúc chia lợi nhuận mà đá họ sang một bên thì khó mà thu xếp ổn thỏa. Dù sao thì chẳng có hội đồng quản trị nào mà chủ tịch lại được quyền quyết định tất cả.
Tại đây cũng xin giới thiệu qua về chế độ phong thưởng thời nhà Minh. Mọi người thường thấy trên phim ảnh cảnh hoàng đế ban thưởng cho đại thần, động một chút là "thưởng bạc một nghìn lạng", sau đó một thái giám bê khay đầy bạc đi đến trước mặt đại thần, đại thần tạ ơn rồi mang tiền về nhà. Quá trình đại khái là như vậy, nhưng nhiều khi đạo diễn phim có lẽ chưa từng cân nhắc xem một nghìn lạng bạc nặng bao nhiêu. Trong kịch bản của họ, những vị đại thần này dường như đều từng luyện qua Thiết Sa Chưởng ở võ đường, bởi vì dù quy đổi thế nào, một nghìn lạng bạc cũng không thể dùng hai tay bưng lên một cách dễ dàng. Ở đây xin đưa ra một đề nghị, sau này khi xử lý những tình tiết kiểu này, có thể đổi lời thoại, ví dụ như: "Khanh, trẫm thưởng cho khanh một nghìn lạng bạc, dùng xe ngựa mà chở về!"
Số bạc thưởng kể trên chỉ là chuyện nhỏ trong việc phong thưởng. Tổ tiên chúng ta từ sớm đã hiểu đạo lý "nước chảy đá mòn". Hoạnh tài đến nhanh đi nhanh, cái thực sự đáng tin cậy là "phiếu cơm dài hạn". Ở nhà Minh, chiếc phiếu cơm dài hạn này chính là phong tước.
Vào thời đại đó, nếu bạn không mang họ Chu, muốn có được chiếc phiếu cơm dài hạn này là rất khó khăn. Căn tin do nhà họ Chu mở có giới hạn số lượng, nếu không lập được đại công thì tuyệt đối không thể vào căn tin này ăn cơm.
Cụ thể mà nói, chiếc phiếu cơm phong tước này có ba cấp bậc, lần lượt là Công tước (bếp nhỏ), Hầu tước (bếp vừa), Bá tước (bếp lớn). Ngoài ra còn có sự khác biệt giữa "lưu" và "thế". Cái gọi là "lưu", nghĩa là chiếc phiếu cơm này chỉ mình bạn được dùng, con bạn không được dùng nữa, phú quý không quá ba đời, chết đói thì đáng đời. Còn "thế" thì khác, sau khi bạn chết, con bạn, cháu bạn vẫn có thể đến căn tin để ăn cơm.
Bất cứ ai nhận được chiếc phiếu cơm này đều sẽ được hoàng đế ban cho "thiết khoán" (chứng thư), để biểu dương hành động anh dũng của người được phong. Tấm thiết khoán này cũng không đơn giản, chia làm hai phiên bản: bình thường và đặc biệt. Phiên bản đặc biệt được ban phát lần lượt vào thời Chu Nguyên Chương và thời Chu Đệ, bởi vì muốn có được thiết khoán trong hai thời đại này thì phải liều mạng.
Trên thiết khoán thời Chu Nguyên Chương ghi bốn chữ "Khai quốc phụ vận", đại diện cho thân phận công thần khai quốc của bạn. Trên thiết khoán thời Chu Đệ ghi bốn chữ "Phụng thiên Tĩnh Nan", đại diện cho việc bạn phụng ý trời giúp Chu Đệ ta đoạt quyền. Hai phiên bản này cực kỳ hiếm gặp, trong hơn hai trăm năm lịch sử nhà Minh sau đó chưa bao giờ được tái bản. Kể từ đó, tất cả thiết khoán được thống nhất, văn thần ghi "Thủ chính văn thần", võ tướng ghi "Tuyên lực công thần".
Đương nhiên, nếu bạn may mắn nhận được hai tấm thiết khoán đầu tiên, chưa chắc đã là chuyện tốt. Đặc biệt là phiên bản đầu tiên "Khai quốc phụ vận", bởi vì theo thống kê của các cơ quan liên quan, hơn 80% những người nhận được tấm thiết khoán này đều được đồng chí Chu Nguyên Chương tặng kèm thêm một tấm vé tham quan âm tào địa phủ.
Ngoài ra còn có ghi chú đặc biệt: Vé một chiều, áp dụng cho cả gia đình lớn nhỏ, có thể sử dụng nhiều lần, không giới hạn số người.
Chu Đệ đã phong thưởng cho các công thần theo ông Tĩnh Nan, như Trương Ngọc (tước vị do con trai là Trương Phụ kế thừa), Chu Năng... tất cả đều được phong làm thế tập Công Hầu. Lúc này tất cả các tướng lĩnh đều vô cùng vui mừng, mùa gặt hái đã đến.
Nhưng điều bất ngờ là có một người lại hoàn toàn không hứng thú với việc phong thưởng, trong mắt ông, những phần thưởng mà ai nấy đều ngưỡng mộ này dường như chẳng có giá trị gì.
Người này chính là Đạo Diễn.
Tuy ông chưa từng ra trận đánh giặc, nhưng không nghi ngờ gì nữa, ông chính là công thần số một giúp Chu Đệ Tĩnh Nan thành công. Từ việc lập kế hoạch tạo phản đến hiến kế hiến sách, ông đều là người chịu trách nhiệm chính. Có thể nói, chính ông là người đã đưa Chu Đệ lên ngai vàng. Nhưng khi đã dốc hết tâm sức hoàn thành việc lớn nhất thiên hạ này, ông lại từ chối mọi phần thưởng. Năm Vĩnh Lạc thứ hai (1404), Chu Đệ ban quan tước cho Đạo Diễn, bổ nhiệm ông làm Tư thiện đại phu, Thái tử thiếu sư (chính nhị phẩm), và chính thức khôi phục tên cũ của ông – Diêu Quảng Hiếu.
Sau đó, hành vi của Diêu Quảng Hiếu bắt đầu trở nên kỳ quái. Chu Đệ bảo ông để tóc hoàn tục, ông không làm; chia nhà cho ông, lại còn tặng hai người đàn bà làm vợ, ông không lấy. Vị mưu sĩ số một thiên hạ này ngày ngày ở trong chùa, ban ngày thay quân phục (quan phục) vào triều, tối về chùa lại thay đồ nhàn rỗi (tăng phục).
Ông không những không cần quan tước, cũng chẳng cần tiền bạc. Khi về quê thăm thân, ông đem toàn bộ vàng bạc châu báu Chu Đệ ban cho tặng hết cho người cùng tộc. Chúng ta không khỏi tự hỏi, rốt cuộc tại sao ông lại làm như vậy?
Theo tôi, lý do Diêu Quảng Hiếu làm như vậy có hai điểm. Thứ nhất, ông là người thông minh, một kẻ đầy mưu lược như ông nếu quá phóng túng, Chu Đệ chắc chắn sẽ không dung tha. Câu nói "công cao lấn chủ" luôn được ông ghi nhớ kỹ trong lòng.
Thứ hai, ông khác với những người khác, mục đích tạo phản của ông chính là để tạo phản.
Tin rằng rất nhiều người từng được hỏi: Bạn đọc sách để làm gì? Thông thường câu trả lời cho câu hỏi này đều là xây dựng đất nước, làm rạng danh tổ quốc... nhưng trong lòng mọi người, mục đích thực sự của việc đọc sách đa phần là để thăng quan, phát tài, để thỏa mãn những dục vọng cá nhân. Nhưng thực tế cho thấy, làm một việc vì danh lợi có lẽ có thể tạo ra động lực và sự thành công, nhưng để làm nên nghiệp lớn, cần một loại quyết tâm và câu trả lời khác – đọc sách vì chính việc đọc sách.
Chu Đệ tạo phản vì ngôi vị hoàng đế, các đại tướng dưới quyền ông tạo phản vì thân phận công thần khai quốc và địa vị danh dự. Còn Đạo Diễn tạo phản chỉ vì để tạo phản. Ánh mắt ông chưa bao giờ bị tiền bạc quyền thế trói buộc, ông có những mục tiêu cao xa hơn. Đạo Diễn là một viên đạn, bốn mươi năm trải nghiệm gian truân là thuốc súng, mưu lược thủ đoạn của ông là đầu đạn, còn Chu Đệ đối với ông chỉ là kíp nổ. Viên đạn này bắn vào ai thực ra không quan trọng, được bắn đi mới là nguyện vọng duy nhất của ông.
Diêu Quảng Hiếu, một người được hậu thế gọi là "Hắc y tể tướng", một người gây ra nhiều tranh cãi, một người ẩn dật kín tiếng, bị bao phủ bởi sự bí ẩn. Nguyện vọng của ông thực ra rất đơn giản:
Phô diễn hết hoài bão trong lòng, không phụ sở học cả đời, thế là đủ.
Thời Kiến Văn Đế, Chu Đệ là phiên vương, Kiến Văn Đế muốn tước phiên, Chu Đệ phản đối tước phiên, cuối cùng tạo phản. Hiện tại Chu Đệ đã là hoàng đế, ông cũng muốn tước phiên. Những phiên vương còn sống sót đương nhiên cũng sẽ phản đối, nhưng khác với trước đây, họ đã không còn sức lực để tạo phản nữa.
Sau khi cuộc đấu tranh chống tước phiên giành thắng lợi, Chu Đệ – người vốn cùng chiến tuyến với các huynh đệ mình – đột nhiên rút bảo kiếm, chĩa vào những chiến hữu vừa mới đây thôi. Điều này cũng là chuyện đương nhiên, tình huynh đệ vốn dĩ chẳng tính là gì, từ xưa đến nay chuyện cha con huynh đệ tương tàn vốn là chuyện cơm bữa. Và chúng ta dường như cũng không thể chỉ tìm nguyên nhân từ sự lạnh lùng của bản tính con người, họ làm ra hành vi như vậy chỉ vì bị cám dỗ bởi thứ không thể cưỡng lại, cám dỗ đó chính là quyền lực vô thượng.
Có quyền lực là có thể loại bỏ tất cả những kẻ mình không ưa, có thể đạt được tất cả những gì mình muốn, có thể hiệu lệnh thiên hạ, có thể làm bất cứ điều gì mình thích! Từ xưa đến nay, vô số bậc đạo đức tiên sinh, quân tử khiêm nhường đều quỳ gối dưới chân nó, không ai có thể cưỡng lại sự cám dỗ của nó, huynh đệ thì đáng là gì?
Người đầu tiên bị "an trí" là Ninh Vương. Ông bị ép phải theo Chu Đệ "Tĩnh Nan", để đổi lấy sự ủng hộ toàn tâm toàn ý của ông, Chu Đệ theo lệ cũng đưa ra một tấm séc khống: "Việc thành chia đôi thiên hạ". Đương nhiên, vị chủ ngân hàng Chu Đệ – kẻ chưa bao giờ thực hiện lời hứa trên tấm séc – lần này cũng không ngoại lệ. Sau khi Tĩnh Nan thành công, ông đã ném câu nói đó ra sau đầu.
Ninh Vương Chu Quyền cũng là người hiểu chuyện, ông biết cái gọi là lời hứa chia đôi thiên hạ chỉ là hư cấu, hơn nữa từ trước tới nay chưa từng có tiền lệ, chia đôi cái đầu của ông thì có khả năng hơn. Thế là ông rất thực tế đề nghị với Chu Đệ: "Phương Bắc ta không muốn đi nữa, cũng không muốn nắm binh quyền, hy vọng ngươi có thể phong ta đến Tô Châu, sống những ngày tháng thoải mái."
Câu trả lời của Chu Đệ là: "Không được."
– "Vậy thì đến vùng Tiền Đường đi, nơi đó cũng không tệ."
– "Vẫn không được." Chu Đệ lại hứa với ông: "Ngoài hai nơi này ra, cả nước tùy ngươi chọn!"
Ninh Vương Chu Quyền cười khổ: "Còn dám chọn nữa sao, ngươi cứ tùy ý xử lý đi."
Thế là, Chu Quyền bị phong đến Nam Xương, đây là nơi Chu Đệ cất công lựa chọn cho ông. Còn tâm trạng của Chu Quyền – người bị cưỡng chế đi đày – hẳn là chẳng vui vẻ gì. Một người vốn luôn tranh cường hiếu thắng như ông lại bị người ta chà đạp một phen tơi tả, ông tuyệt đối sẽ không tâm phục. Cảm xúc này giống như một mầm độc, không ngừng lớn lên trong lòng ông, và truyền lại cho con cháu ông.
Cơ hội báo thù cuối cùng cũng sẽ đến.
Tháng 5 năm Vĩnh Lạc thứ tư (1406), tước bỏ tước vị và quan thuộc của Tề Vương, tháng 8, phế làm thứ dân.
Năm Vĩnh Lạc thứ sáu (1408), tước bỏ quan thuộc và hộ vệ của Mân Vương.
Năm Vĩnh Lạc thứ mười (1412), tước bỏ quan thuộc và hộ vệ của Liêu Vương.
Năm Vĩnh Lạc thứ mười chín (1421), tước bỏ hộ vệ của Chu Vương.
Thế là, vấn đề mà Kiến Văn Đế không giải quyết được cuối cùng đã được người chú là Chu Đệ giải quyết thay. Việc tước phiên – đại sự số một thời Kiến Văn Đế – lại do phiên vương Chu Đệ hoàn thành, đây thật là một sự mỉa mai to lớn.
Sau khi hoàn thành những việc hậu sự này, Chu Đệ cuối cùng cũng có thể dồn sức lực vào việc xử lý đại sự quốc gia. Thực tế chứng minh, ông quả thực có tố chất của một vị hoàng đế xuất sắc, và chúng ta cũng sẽ áp dụng những lời sáo rỗng về việc khôi phục sản xuất, cần mẫn chính sự mà các vị minh quân trong lịch sử thường làm sau khi kế vị lên người ông. Lại một cảnh ca múa mừng thái bình, thịnh thế thái bình.
Nhìn như vậy, những lời tường thuật tiếp theo hẳn là cực kỳ nhạt nhẽo.
Tiếc rằng Chu Đệ không phải là một vị hoàng đế anh minh tầm thường, câu chuyện của ông còn khúc chiết, bí ẩn hơn nhiều so với những vị thiên tử thái bình kia, bởi vì trên người ông luôn bao quanh hai nghi vấn. Hai nghi vấn này đã làm khó hậu nhân suốt hàng trăm năm, dưới đây chúng ta sẽ tự mình tìm tòi những bí ẩn này, với hy vọng tìm ra sự thật.
"Vĩnh Lạc Thực Lục" ghi: Cao Hoàng hậu (Mã Hoàng hậu) sinh năm con, trưởng là Ý Văn Thái tử Tiêu... thứ là Thượng (Chu Đệ), thứ là Chu Vương Túc. Đây chính là ghi chép của chính sử, từ đó có thể thấy Chu Đệ là con trai thứ tư của Chu Nguyên Chương và Mã Hoàng hậu.
Tuy nhiên sự thật có đúng như vậy không?
Năm Nguyên Chí Chính thứ hai mươi (năm 1360), Chu Đệ chào đời trong khói lửa chiến tranh, ông là con trai thứ tư của Chu Nguyên Chương, điều này không sai. Nhưng người mẹ đã trải qua cuộc sinh nở đau đớn, ban cho ông sự sống và nuôi nấng ông trưởng thành lại không phải là Mã Hoàng hậu. Người đàn bà nhìn ông chào đời với nụ cười hạnh phúc đó từ lâu đã bị lịch sử vùi lấp.
Trên thực tế, sau hàng trăm năm tìm tòi của các nhà sử học, đến tận ngày nay, chúng ta vẫn không biết tên thật của người mẹ này, thậm chí thân phận thật của bà cũng gây tranh cãi. Những bí ẩn này là do con người tạo ra. Bởi vì có người không muốn người mẹ này lộ diện, không thừa nhận ông có một người con trai tên là Chu Đệ.
Người giấu kín sự thật này chính là Chu Đệ.
Bởi vì Chu Đệ là hoàng đế, hơn nữa là vị hoàng đế cướp ngôi từ tay cháu mình, nên ông buộc phải là con của Mã Hoàng hậu. Bởi chỉ có như vậy, ông mới là dòng đích, mới có đủ vốn liếng để kế thừa ngôi vị.
Ông tuyệt đối không thể là con của một phi tần thân phận thấp hèn, tuyệt đối không được!
Chính vì những lý do chính trị này, người mẹ ấy đã bị tước đoạt quyền được sở hữu con trai. Bà vĩnh viễn không thể như những người mẹ khác, nhìn con cái trưởng thành trong sự mãn nguyện, và khi chúng lớn khôn có thể tự hào nói với những người xung quanh: "Nhìn kìa, đó là con trai của ta!"
Trong tất cả các bộ sử chính thống, bà chỉ là một phi tần bình thường, không gia thế hiển hách, không con cái đáng tự hào, sống một cuộc đời bình thường, rồi chết đi một cách bình thường.
Mặc dù Chu Đệ đã nhiều lần sửa đổi sử sách và tiêu hủy nhiều bằng chứng, nhưng câu nói "lịch sử không thể che giấu" quả thực rất có lý. Kẽ hở vẫn tồn tại, và điều đáng kinh ngạc hơn là nó nằm ngay trong sử sách chính thống.
Kẽ hở đầu tiên nằm trong "Minh sử – Hoàng Tử Trừng truyện", trong đó ghi: "Tử Trừng nói: Chu Vương, là em trai cùng mẹ của Yên Vương." Từ câu này, chúng ta có thể hiểu rõ một sự thật rằng Yên Vương Chu Đệ và Chu Vương là anh em cùng cha cùng mẹ. Có thể có người cho rằng đây là lời thừa, vì "Vĩnh Lạc Thực Lục" cũng ghi họ là anh em cùng mẹ, nhưng vấn đề nằm ở chỗ: mẹ của họ là ai?
Thế là chúng ta sẽ dẫn ra kẽ hở thứ hai. Trong "Thái Tổ Thành Mục Tôn Quý phi truyện" có ghi như sau: "Tháng 9 năm Hồng Vũ thứ bảy mất, hưởng dương ba mươi hai tuổi. Đế vì phi không có con, lệnh Chu Vương Túc hành lễ từ mẫu ba năm." Câu này nghĩa là sau khi Quý phi chết, vì không có con nên chỉ định Chu Vương làm lễ tang từ mẫu cho Quý phi trong ba năm. Nhưng câu then chốt nằm ở phía sau: "Thứ tử làm lễ tang mẹ đẻ ba năm, các con làm lễ tang thứ mẫu một năm, bắt đầu từ phi này."
"Thứ tử làm lễ tang mẹ đẻ ba năm!" Hãy nhìn kỹ câu này, mấu chốt nằm ở đây. Chính vì Chu Vương là thứ tử, ông mới có thể nhận thứ mẫu làm từ mẫu và chịu tang ba năm. Lại dẫn thêm điều kiện chúng ta đã nêu trước đó là Yên Vương và Chu Vương là anh em, mọi người hẳn đã có nhận thức rõ ràng về thân phận của Chu Đệ.
Nếu có người không hiểu, tôi có thể mô tả quá trình suy luận này theo cách đơn giản và rõ ràng hơn:
Điều kiện A: Chu Vương và Yên Vương là anh em cùng mẹ;
Điều kiện B: Chu Vương là thứ tử;
Kết luận C: Yên Vương là thứ tử.
Đây là ghi chép trên sử sách chính thống, còn về dã sử thì nhiều vô kể. Vì đây là vấn đề cực kỳ quan trọng nên chúng ta không trích dẫn dã sử. Nhưng có một cuốn sách khác thuộc tư liệu chính thống là "Nam Kinh Thái Thường Tự chí" từng ghi chép thân phận thật của mẹ Chu Đệ – Cống phi.
Ở đây chúng ta nói qua về Thái Thường Tự là cơ quan như thế nào. Thái Thường Tự thuộc cơ quan lễ nghi, chủ yếu phụ trách việc tế tự, lễ nhạc. Phàm là các việc sắc lập, đo đạc, đội mũ, hôn nhân, chinh phạt... đều phải do cơ quan này tổ chức thực hiện lễ nghi từ trước, nên ghi chép của nó là chính xác nhất. Lẽ ra có ghi chép của Thái Thường Tự thì chuyện này chẳng có gì phải tranh cãi, nhưng "lắm mối tối nằm không", lại xuất hiện một vấn đề mới.
Cuốn sách này đã thất truyền.
Có lẽ thấy đến đây, có người sẽ mắng tôi: Nói nhiều như vậy, kết quả lại là lời nói suông, chẳng phải đang đùa người sao?
Thực sự xin lỗi, vì cuốn sách này không phải do tôi làm mất, ngay cả khi bạn lục tung tất cả các thư viện cũng không thể tìm thấy nó. Nhưng đừng vội, bởi vì tuy bản thân tôi chưa từng xem cuốn sách này, người xưa lại từng xem qua, và đã để lại ghi chép trong sách của họ. Như "Quốc sử dị khảo", "Tam viên bút ký" đều từng ghi chép rằng "Nam Kinh Thái Thường Tự chí" quả thực ghi rõ mẹ của Chu Đệ là Cống phi, và sự sắp xếp bài vị ở Hiếu Lăng là: bên trái vị thứ nhất là Lý Thục phi, sinh Thái tử Chu Tiêu, Tần Vương, Tấn Vương; bên phải vị thứ nhất là Cống phi, sinh Thành Tổ Chu Đệ.
Phải biết rằng, thời cổ đại, thứ tự bài vị không phải sắp xếp theo nét chữ họ tên, mà sắp xếp nghiêm ngặt theo thân phận.
Mà "Tam viên bút ký" còn chỉ ra rằng, Tiền Khiêm Ích (nhà bác học cuối thời Minh, sau đầu hàng nhà Thanh) từng bái yết Minh Hiếu Lăng vào ngày Tết năm 1645, phát hiện cách bài trí bài vị ở Hiếu Lăng đúng như ghi chép trong "Nam Kinh Thái Thường Tự chí", linh vị của Cống phi ở vị trí thứ nhất bên phải, đủ thấy thân phận của bà cao quý thế nào.
Mặc dù những bằng chứng kể trên không thể so với Minh sử, nhưng xét từ góc độ pháp lý thì cũng có thể coi là lời khai của nhân chứng, thuộc về bằng chứng gián tiếp. Khi chúng ta kết nối tất cả bằng chứng lại, sẽ thấy thân phận mẹ đẻ của Chu Đệ đã khá rõ ràng.
Ở đây cũng xin ghi chú đặc biệt, vấn đề thân phận mẹ đẻ của Thành Tổ đã được hai nhà sử học nổi tiếng của nước ta là ông Ngô Hàm và ông Phó Tư Niên chứng minh. Tại đây xin kính cẩn nghiêng mình trước hai vị tiền bối vĩ đại, chính họ là người đã vén màn bí ẩn lịch sử, khôi phục lại sự thật lịch sử cho chúng ta.
Nhưng đáng tiếc là, cuộc đời của người mẹ đã sinh ra Chu Đệ chúng ta không cách nào biết được. Chúng ta chỉ biết rằng, con trai của bà đã xóa sạch gần như tất cả dấu vết bà để lại trên nhân gian, không thừa nhận mình là con của bà.
Chu Đệ lại một lần nữa hành lễ trước bài vị của Mã Hoàng hậu. Tuy Mã Hoàng hậu quả thực là một người bề trên từ bi, tuy bà cũng từng chăm sóc ông vô cùng chu đáo, nhưng bà dù sao cũng không phải là mẹ ruột của ông.
Ta cũng là bất đắc dĩ, để ngồi được lên ngôi hoàng đế, đã phải trải qua chín chết một sống, nếu lại mang thêm cái danh phận thứ tử, làm sao phục chúng? Làm sao an tâm?
Vì thế ta đã sửa đổi ghi chép, vì thế ta đã tiêu hủy bằng chứng, ta tuyệt đối không thể thừa nhận người là mẹ của ta! Điều duy nhất ta có thể làm là sắp xếp bài vị của người, nâng cao thân phận của người, ta chỉ có thể làm được những việc này thôi. Ta biết những điều này vẫn chưa đủ, cũng không đủ để báo đáp công sinh thành dưỡng dục của người, nhưng ta không còn lựa chọn nào khác.
Người là mẹ của con, chỉ ở trong lòng con, mãi mãi.
Kiến Văn Đế thực sự đã chết rồi sao? Đây từng là vấn đề Chu Đệ suy nghĩ trong thời gian dài. Vấn đề này ông suy nghĩ suốt hai mươi hai năm, từ khi Tĩnh Nan thành công vào năm Kiến Văn thứ tư (năm 1402) cho đến khi kết thúc vào năm Vĩnh Lạc thứ hai mươi mốt (năm 1423). Không phụ người có lòng, ông cuối cùng đã tìm được câu trả lời cho vấn đề này, chỉ một năm trước khi ông lâm chung.
Hãy để chúng ta trở về mùa hè năm Kiến Văn thứ tư (năm 1402 Công nguyên), để nhìn xem khởi đầu của những bí ẩn này bắt đầu từ đâu.
Ngày mười ba tháng sáu, Lý Cảnh Long mở cửa Kim Xuyên, làm một kẻ phản bội vô liêm sỉ, thả Bắc quân vào thành. Thế nhưng Chu Đệ lại không lập tức tấn công nội thành, mục đích của ông ta là chờ đợi Kiến Văn Đế tự sát hoặc đầu hàng. Dường như ông ta cho rằng ngoài hai con đường này ra, Kiến Văn Đế không còn lựa chọn nào khác. Tuy nhiên, Kiến Văn Đế lại định sẵn là người sẽ đối đầu với ông ta cả đời. Ngài đã chọn con đường thứ ba.
Khi Chu Đệ đang đóng quân tại Long Giang Dịch phát hiện cung thành bốc cháy, ông ta vô cùng hoảng loạn, lập tức ra lệnh cho binh lính vào thành. Việc cứu hỏa chỉ là thứ yếu, quan trọng nhất là phải tìm được một thứ — đó chính là Kiến Văn Đế. Sống phải thấy người, chết phải thấy xác!
Chu Đệ hiểu rất rõ lợi hại của việc này. Cho dù Kiến Văn Đế có chết, cùng lắm ông ta chỉ mang thêm tội danh bức tử chủ quân. Bản thân ông ta đã mang đủ tiếng xấu, không thiếu thêm cái này. Nếu còn sống thì nhốt lại là xong, cũng chẳng sợ ngài bay lên trời được.
Nhưng điều đáng sợ nhất chính là mất tích. Hoàng đế không thấy đâu thì mới là chuyện phiền phức.
Chu Doãn Văn dù sao cũng là hoàng đế hợp pháp, còn bản thân ông ta chỉ là kẻ chiếm giữ kinh thành mà thôi. Phần lớn các nơi trong cả nước vẫn trung thành với ngài. Vạn nhất ngài trốn thoát, tìm một nơi hiệu triệu đại thần cần vương, đem quân đánh ngược lại mình, thì lúc đó thắng bại thật sự là điều khó đoán.
Thế nhưng sợ gì thì lại gặp nấy, sau khi kiểm kê, quả thật không tìm thấy thi thể của Chu Doãn Văn! Chu Đệ nóng lòng như kiến bò trên chảo nóng, ra lệnh cho binh lính tăng cường rà soát nhưng vẫn không thu được kết quả gì. Có lẽ người ta sẽ lấy làm lạ, Chu Đệ đã kiểm soát được chính quyền, muốn tìm một người thì có gì khó?
Chẳng giấu gì các bạn, thật sự là không dễ chút nào, bởi vì người này không thể công khai tìm kiếm.
Thứ nhất, không thể đăng tin tìm người, kiểu như "thấy tin xin hãy về ngay" chắc chắn sẽ không có hiệu quả. Thứ hai, cũng không thể dán lệnh truy nã, viết đại loại như "bắt được có trọng thưởng", vì hành động của Chu Đệ theo cách nói của chính ông ta là "Tĩnh nạn", tức là dẹp bỏ gian thần, hoàng đế vốn không có lỗi, sao có thể bị truy nã được? Cho nên cách này cũng không xong. Cuối cùng, ông ta cũng không thể công khai phái người tìm kiếm quy mô lớn, bởi làm vậy chẳng khác nào nói cho cả thiên hạ biết rằng Kiến Văn Đế vẫn còn sống. Những kẻ có mưu đồ riêng tất sẽ rục rịch hành động, cái ghế hoàng đế này định sẵn là không ngồi yên được.
Nhưng không tìm thì không được. Vạn nhất một ngày nào đó một Kiến Văn Đế xuất hiện, bất kể thật giả, sức hiệu triệu chắc chắn là có. Dù có dẹp yên được, thì ngày mai ngày kia lại có thể xuất hiện hai, ba người nữa, còn để cho người ta sống yên ổn hay không? Chẳng phải từng có một kẻ được gọi là "Chu Tam Thái Tử" khiến triều Thanh không yên ổn suốt hơn một trăm năm đó sao? Cho nên đây thực sự là một chuyện chí mạng.
Để giải quyết vấn đề này, Chu Đệ nghĩ ra một kế hoạch tuyệt vời, kế hoạch này chia làm hai phần:
Thứ nhất, tuyên bố với bên ngoài rằng Kiến Văn Đế đã tự thiêu trong cung và đã tìm thấy thi thể. Ý nghĩa là tất cả những bề tôi trung thành của Kiến Văn Đế, các người hãy từ bỏ ý định đó đi.
Thứ hai, phái người bí mật dò hỏi tung tích của Kiến Văn Đế. Công việc dò hỏi cụ thể do hai người thực hiện, lộ trình của hai người này cũng khác nhau, lần lượt là trong nước và hải ngoại. Tên của hai người này, một người là Hồ Huỳnh, người còn lại là Trịnh Hòa.
Câu chuyện về Trịnh Hòa mọi người đều đã quen thuộc, chúng ta sẽ giới thiệu chi tiết về kỳ tích vĩ đại bắt nguồn từ sự kiện ngẫu nhiên này ở những chương sau. Ở đây, chúng ta chủ yếu nói về lộ trình của Hồ Huỳnh.
Hồ Huỳnh, người Thường Châu, Giang Tô, không phải là dòng dõi thân tín của cuộc Tĩnh nạn, cũng không phải con cháu trọng thần. Con người ông "vui giận không lộ ra sắc mặt", lúc đó chỉ giữ chức Cấp sự trung, không có bất kỳ chỗ dựa nào, có thể nói là thân phận thấp kém, là một nhân vật mờ nhạt trong triều.
Nhưng Chu Đệ lại chọn trúng ông ta, bởi vì chính một người như vậy mới thích hợp để thực hiện nhiệm vụ bí mật này.
Không ai hỏi đến, không ai chú ý, dù có xảy ra chuyện gì cũng có thể tuyên bố người này không liên quan đến mình. Bạn không đi thì ai đi?
Năm Vĩnh Lạc thứ năm (năm 1407 Công nguyên), Hồ Huỳnh mang theo sứ mệnh tuyệt mật lên đường. Chu Đệ theo lệ cũ ban cho ông một danh nghĩa công vụ — đi tìm tiên nhân. Danh nghĩa này quả thực vô cùng thỏa đáng, bởi tiên nhân vốn dĩ "thần long thấy đầu không thấy đuôi", nhưng lại thực sự có giá trị để tìm kiếm, dù một trăm năm không tìm thấy cũng sẽ không có ai nghi ngờ. Hồ Huỳnh từ đó bắt đầu công việc quan trọng nhất trong cuộc đời mình — tìm người.
Tất nhiên, Chu Đệ và bản thân ông đều biết, người ông cần tìm không phải tiên nhân, mà là một người chết, ít nhất là một người đã được cấp giấy chứng tử.
Chu Đệ nhìn bóng dáng Hồ Huỳnh rời đi, trong lòng mong mỏi tin tức của người đó sớm truyền đến tai mình. Chết cũng được, sống cũng tốt, chỉ cần cho ta biết là được. Giống như trước đây, ông ta tin rằng lựa chọn của mình là đúng đắn, người này nhất định sẽ cho mình câu trả lời.
Phán đoán của ông ta là đúng, Hồ Huỳnh quả thực sẽ cho ông ta câu trả lời. Ông ta cũng đã chuẩn bị sẵn tâm lý chờ đợi lâu dài, nhưng ông ta không ngờ rằng, thời gian chờ đợi lại thực sự dài đến thế.
Hồ Huỳnh bắt đầu trung thành thực hiện chức trách của mình. Ông "đi khắp các châu quận hương ấp trong thiên hạ, bí mật điều tra Kiến Văn Đế đang ở đâu". Trong thời gian này, ngay cả khi mẹ qua đời, ông cũng không về nhà thăm viếng mà tiếp tục công việc của mình. Việc thăm dò bí mật này đã trở thành một phần quan trọng trong cuộc đời ông. Những nỗ lực của ông không hề hoài phí, cuối cùng, ông đã tìm được câu trả lời, sau mười sáu năm.
Vì câu trả lời phải mười sáu năm sau mới được tiết lộ, chúng ta hãy xem tại sao cái chết của Kiến Văn Đế lại gây tranh cãi lớn đến vậy. Thực ra, phần lớn sử liệu thời Minh đều cho rằng Kiến Văn Đế không chết, hơn nữa còn có một số dã sử ghi chép chi tiết về các tình huống khi Kiến Văn Đế bỏ trốn, tuy không đáng tin nhưng cũng có thể xem qua.
Theo cuốn "Trí Thân Lục" xuất bản vào thời Vạn Lịch nhà Minh ghi chép, ngày thành phá, Kiến Văn Đế vạn niệm câu tro, muốn tự sát. Lúc này, một thái giám đột nhiên đứng ra nói: "Khi Cao Tổ băng hà, có để lại một cái rương, nói rằng gặp đại nạn mới được mở, nay đã đến lúc rồi, xin Hoàng thượng hãy mở rương ra".
Sau đó, họ lấy rương ra và mở, phát hiện bên trong đồ đạc đầy đủ, bao gồm độ điệp của hòa thượng, áo cà sa, mũ tăng, dao cạo, thậm chí còn có mười lạng bạch kim. Điều đáng kinh ngạc hơn là bên trong còn có bút tích phê duyệt của đồng chí Chu Nguyên Chương, chỉ dẫn lộ trình chạy trốn. Thế là Kiến Văn Đế cùng đám người thoát nạn.
Xem qua những ghi chép trên, tin rằng mọi người có thể đều có cảm giác quen thuộc. Đúng vậy, những ghi chép này dường như mang lối viết và tình tiết của tiểu thuyết võ hiệp. Chu Nguyên Chương quả thực liệu sự như thần, nhưng cũng chưa đến mức độ này. Cho dù ông ta dự đoán trước cháu mình tương lai sẽ bỏ trốn, nhưng ông ta còn có thể chuẩn bị sẵn trang phục đạo cụ và lộ phí, thậm chí lộ trình chạy trốn cũng chỉ dẫn rõ ràng mạch lạc, thì rõ ràng là đang nói nhảm. Giống như trong tiểu thuyết võ hiệp, một vị đại hiệp nào đó rơi xuống vách núi, rồi gặp được một vị tiền bối ẩn cư mấy chục năm hoặc đào được di vật của tiền bối đã khuất, những tình tiết huyền thoại như vậy trong lịch sử vốn không nhiều.
Mặc dù tồn tại những ghi chép gần như hoang đường này, nhưng sử liệu thời Minh hầu hết đều cho rằng Kiến Văn Đế không chết, vậy tại sao vấn đề này lại gây tranh cãi lớn đến thế? Đó là vì sau này, một sự kiện xảy ra khiến việc sống chết của Kiến Văn Đế không còn là vấn đề lịch sử đơn thuần nữa, mà trở thành vấn đề chính trị vô cùng phức tạp.
Sự kiện đó chính là vụ "Chu Tam Thái Tử", tức là cái gọi là khi nhà Minh diệt vong, Chu Tam Thái Tử không chết mà sống sót tiếp tục tổ chức các sự kiện phản Thanh. Phải nói vị Chu Tam Thái Tử này thực sự là một vị thần tiên, từ Thuận Trị đến Khang Hy, Ung Chính, trải qua ba triều đại, như một bóng ma quấn lấy những kẻ thống trị nhà Thanh, mãi cho đến khi ba vị hoàng đế đều chết đi, ông ta vẫn luôn chiến đấu ở tiền tuyến phản Thanh. Chính phủ nhà Thanh vô cùng đau đầu về bóng ma này. Rõ ràng, câu chuyện của Kiến Văn Đế có nhiều điểm tương đồng với Chu Tam Thái Tử, cho nên khi biên soạn Minh Sử, chính phủ nhà Thanh đã ám thị sử quan sửa đổi đoạn lịch sử này, một mực khẳng định Kiến Văn Đế tự sát mà chết.
Đáng khẳng định là, rất nhiều sử quan đã giữ vững nguyên tắc, chịu đựng áp lực, kiên trì thuyết Kiến Văn Đế chưa chết. Nhưng kẻ vô liêm sỉ thì thời đại nào cũng không thiếu, đại học giả Vương Hồng Tự chính là một người như vậy. Phẩm hạnh của ông ta rõ ràng không bằng học vấn, để lấy lòng chính phủ nhà Thanh, ông ta đã tự ý sửa đổi Minh Sử cảo (bản thảo Minh Sử), khẳng định Kiến Văn Đế đã chết. Vì Minh Sử dù sao cũng là sử sách chính thống, nên đã ảnh hưởng đến cái nhìn của rất nhiều người về cái chết của Kiến Văn Đế. Cho đến tận thời cận đại, giới sử học mới có một ý kiến tương đối khẳng định về vấn đề Kiến Văn Đế chưa chết.
Sự thật lịch sử luôn bị bao phủ trong làn sương mù, vô số người vì các mục đích khác nhau mà tô vẽ và bóp méo nó để thích ứng với nhu cầu của bản thân.
Nhưng tôi luôn tin rằng, chân tướng chỉ có một, và nó nhất định sẽ có ngày được phơi bày.