Hãy để chúng ta quay trở lại thời đại của Vĩnh Lạc Đại Đế. Dưới sự cai trị của Chu Đệ, quốc thái dân an, việc tu sửa sách vở, dời đô, viễn chinh đều đang được tiến hành một cách trật tự. Lúc bấy giờ, Trung Quốc là một trong những quốc gia hùng mạnh nhất châu Á và cả thế giới. Nếu xét đến việc Đế quốc Đông La Mã cùng thời đã thoi thóp, Chiến tranh Trăm năm giữa Anh và Pháp vẫn đang tiếp diễn, gia tộc Habsburg hữu danh vô thực, còn Đế quốc Đức thì chia năm xẻ bảy, chúng ta dường như có thể bỏ đi chữ "một trong" ở câu trên.
Chúng ta thường nảy sinh một nghi vấn, đó là làm thế nào mới có thể giành được sự tôn trọng của các quốc gia khác cùng nhân dân của họ, khiến thế giới phải ngưỡng mộ, tự hào? Kỳ thực câu trả lời rất đơn giản: Quốc gia phải hùng mạnh.
Triều Minh chính là một ví dụ điển hình trong khía cạnh này.
Kể từ giữa thời nhà Nguyên, sau khi quốc lực suy yếu, Đế quốc Mông Cổ oai phong lẫm liệt từng trải dài khắp Á - Âu đã trở thành một cái khung rỗng. Hoàng đế nhà Nguyên chỉ còn là người cai trị trên danh nghĩa, rất nhiều quốc gia không còn đến triều cống, thậm chí đoạn tuyệt liên lạc.
Con hổ bị bệnh thì chẳng những không phải là hổ, mà đến mèo cũng không bằng.
Mà từ khi Chu Nguyên Chương tiếp nhận cục diện hỗn loạn này, ông đã nỗ lực trị quốc, gắng sức phát triển sản xuất, quốc lực dần trở nên cường thịnh. Đến khi Chu Đệ nối ngôi, Đại Minh Đế quốc càng thêm phất lên như diều gặp gió, uy danh vang xa.
Thế là những sứ thần các nước đã "mất tích" từ lâu lại lần lượt xuất hiện, kẻ triều cống thì triều cống, người triều bái thì triều bái. Tuy nhiên, bạn chớ bao giờ coi những lễ nghi bề ngoài này là thật. Phải biết rằng, sau khi họ triều cống, triều bái, đều sẽ nhận lại hồi báo, chính là cái gọi là "ban thưởng gấm vóc, lụa là, vàng bạc, vật dụng quý giá". Nếu quốc gia không hùng mạnh, không có tiền, bạn thử xem họ còn đến bái kiến bạn hay không?
Trước đó chúng ta đã nói, thời Hồng Vũ, Triều Tiên trở thành thuộc quốc của nhà Minh. Kể từ đó về sau, Triều Tiên mỗi khi lập thái tử hay quốc vương đăng cơ đều phải thông báo cho Hoàng đế nhà Minh, nhận được sự cho phép và sách phong chính thức của Hoàng đế mới có hiệu lực. Năm Vĩnh Lạc thứ nhất, quốc vương mới là Lý Phương Viễn đã phái sứ thần đến Trung Quốc triều cống, lệ cũ này suốt hơn hai trăm năm sau vẫn không hề thay đổi.
Mà sau khi Trịnh Hòa hạ Tây Dương, rất nhiều quốc gia Đông Nam Á cũng lũ lượt kéo đến triều cống, chỉ là phương thức triều cống của một số nước vô cùng đặc biệt.
Lẽ ra triều cống chỉ cần phái một đại thần làm sứ giả đến là được, nhưng sứ thần của một số quốc gia lại chính là quốc vương của họ!
Theo thống kê, chỉ riêng trong thời Vĩnh Lạc, số lần sứ tiết các nước Đông Nam Á và châu Phi đến Trung Quốc liên quan đến việc Trịnh Hòa hạ Tây Dương có tổng cộng hơn ba trăm lần, trung bình mỗi năm hơn mười lần, cảnh tượng vô cùng thịnh vượng. Mà đoàn sứ đoàn của Brunei, Malacca, Sulu, Cổ Ma Lắc Lãng quốc mỗi khi đến Trung Quốc đều do quốc vương dẫn đầu. Hơn nữa, những quốc vương này đến thăm tuyệt đối không giống như nguyên thủ quốc gia ngày nay, ở lại hai ba ngày rồi đi; họ thường ở lại một hai tháng, dẫn theo hàng trăm thành viên sứ đoàn ăn chơi thỏa thích rồi mới rời đi. Gọi là sứ đoàn, dường như giống một đoàn khách du lịch hơn.
Điều đáng kinh ngạc còn ở phía sau: trong chuỗi sự kiện này, có tới ba vị quốc vương đã lâm bệnh qua đời ngay trong thời gian dẫn đoàn thăm Trung Quốc. Điều khó tin hơn nữa là họ vô cùng ngưỡng mộ Trung Quốc, trong di chúc đều bày tỏ nguyện vọng được chôn cất trên mảnh đất Trung Hoa. Chính phủ nhà Minh đã tôn trọng lựa chọn của họ, lấy lễ nghi của thân vương để hậu táng họ.
Đường đường là quân chủ một nước, sau khi chết lại không muốn về cố thổ, mà thà rằng chôn cất ở nơi đất khách quê người là Trung Quốc, có thể thấy sức hấp dẫn của Đại Minh năm ấy lớn đến nhường nào.
Ngoài ra, ba nước quần đảo Lưu Cầu thời bấy giờ là Trung Sơn, Sơn Nam, Sơn Bắc cũng lần lượt phái sứ thần đến Trung Quốc triều cống. Trong đó Trung Sơn mạnh nhất, cũng là bên đến sớm nhất. Sơn Nam, Sơn Bắc cũng vô cùng tích cực, không những định kỳ triều cống mà còn phái nhiều con em quan lại đến Trung Quốc học tập văn hóa tiên tiến.
Mà việc triều cống của một quốc gia châu Á khác cũng đáng để bàn kỹ, quốc gia này chính là Nhật Bản - nơi đã có nhiều lần giao thiệp với Trung Quốc trong thời cận đại.
Trong vô số sứ đoàn triều cống thời bấy giờ, cũng có bóng dáng của Nhật Bản. Năm Vĩnh Lạc thứ nhất, người cai trị thực tế của Nhật Bản là Nguyên Đạo Nghĩa phái sứ thần đến Trung Quốc triều cống. Lúc bấy giờ có rất nhiều nước triều cống, hầu hết đều bình an vô sự, thế nhưng đoàn triều cống của Nhật Bản lại xảy ra vấn đề.
Vấn đề gì ư? Hóa ra chính phủ nhà Minh thời bấy giờ cho phép sứ thần nước ngoài mang theo binh khí, nhưng đoàn triều cống Nhật Bản này lại không giống các nước khác. Họ không chỉ tự đeo đao mà còn thường mang theo lượng lớn binh khí nhập cảnh. Sau khi hoàn thành sứ mệnh ngoại giao, họ lại lén lút đem số lượng lớn đao võ sĩ mang theo rao bán công khai trên thị trường, tiện thể kiếm thêm chút tiền tiêu vặt (ước chừng cũng vì không có thứ gì khác để bán). Theo cách nói của hải quan và cục công thương ngày nay, hành vi này là mang theo hàng cấm vượt quá phạm vi sử dụng hợp lý, lại còn tự ý bán khi không có giấy phép kinh doanh, đáng lẽ phải bị xử phạt. Đại thần Lý Chí Cương đã đề nghị bắt giữ những kẻ vi phạm, giam vài ngày để dạy cho họ một bài học.
Về vấn đề này, Chu Đệ đã thể hiện thái độ khai minh. Ông cho rằng người Nhật Bản bất chấp nguy hiểm rơi xuống biển cho rùa ăn, đi xa đến thế này cũng không dễ dàng gì, nên đã phê chuẩn cho họ công khai bán binh khí trên thị trường ("Ngoại di tu cống, lý hiểm đạo nguy, sở phí thực đa... vô trở hướng hóa").
Có lẽ một số bạn đã chú ý, chúng ta trong đoạn trên không nói đến quốc vương Nhật Bản hay Thiên hoàng Nhật Bản, mà dùng một từ - "người cai trị thực tế". Bởi vì sau này chúng ta còn phải giao thiệp với quốc gia gọi là Nhật Bản này rất nhiều, ở đây xin giải thích lý do gọi như vậy, dưới đây chúng ta sẽ tạm rời khỏi nhà Minh để bước vào lịch sử Nhật Bản.
Tại Nhật Bản, Thiên hoàng luôn là người cai trị tối cao, nhưng thời gian Thiên hoàng thực sự nắm quyền lại không dài. Thực quyền thường nằm trong tay những đại thần sở hữu đất đai và binh lính, họ mới là người cai trị thực sự của quốc gia này. Đến thế kỷ thứ mười ba, theo sau một sự kiện xảy ra, xu hướng này càng thêm sâu sắc.
Sự kiện này chính là cuộc chiến Nguyên - Bình nổi tiếng trong lịch sử Nhật Bản. Cả hai nhà Nguyên và Bình đều là những gia tộc võ sĩ danh giá. Khi đó, nhân vật lãnh đạo nhà Nguyên là Nguyên Lại Triều, dưới sự giúp đỡ của em trai là Nguyên Nghĩa Kinh - nhân vật huyền thoại số một Nhật Bản, đã đánh bại nhà Bình, giành được quyền cai trị Nhật Bản.
Nguyên Lại Triều là chính trị gia nổi tiếng trong lịch sử Nhật Bản, sau này Đức Xuyên Gia Khang luôn coi người này là thần tượng. Để kiểm soát chính quyền tốt hơn, ông đã xây dựng Mạc phủ bên ngoài Kyoto làm căn cứ thống trị của võ sĩ. Do Mạc phủ đặt tại Liêm Thương, sử Nhật gọi là Mạc phủ Liêm Thương. Nguyên Lại Triều còn tự ban cho mình một phong hiệu đặc biệt - Chinh Di Đại Tướng Quân, đây chính là nguồn gốc của cái gọi là Tướng quân Mạc phủ trong lịch sử Nhật Bản sau này.
Mà vị Nguyên Đạo Nghĩa đến triều cống thời Vĩnh Lạc chính là Tướng quân Nhật Bản đương thời. Tất nhiên, trong sử sách nhà Minh và nhà Thanh sau này đều không tìm thấy danh xưng Tướng quân Nhật Bản. Đối với vị Tướng quân có lai lịch phức tạp, không rõ ràng này, sử sách Trung Quốc đều thống nhất gọi là Nhật Bản Vương. Điều này cũng là lẽ đương nhiên, dù sao danh phận có loạn, có phức tạp thế nào thì đó cũng là chuyện riêng của Nhật Bản.
Cũng chính vì lý do này, chính trị quốc gia và việc ban bố sắc lệnh (bao gồm cả việc phát động chiến tranh xâm lược) của Nhật Bản đều do Tướng quân hoặc đại thần thực quyền (như Phong Thần Tú Cát không phải Tướng quân, mà là Quan Bạch) nắm giữ.
Tất nhiên, trừ mấy vị nhân huynh phát động Chiến tranh Giáp Ngọ và chiến tranh xâm lược Trung Quốc thời cận đại ra (sau cuộc Duy Tân Minh Trị, Thiên hoàng đã nắm thực quyền).
Nhưng vào lúc bấy giờ, trước một nhà Minh hùng mạnh, Nhật Bản vẫn biểu hiện khá hữu hảo, mặc dù sự hữu hảo này chỉ là bề ngoài, tạm thời.
Năm Vĩnh Lạc thứ ba (1405), nước Nhật phái sứ thần đến triều cống nhà Minh. Lúc này vùng ven biển Trung Quốc đã xuất hiện khá nhiều Oa khấu, chúng thường xuyên đi cướp bóc, giết người phóng hỏa. Chu Đệ nổi trận lôi đình, ông nghiêm khắc chất vấn sứ thần Nhật Bản, đồng thời bảo hắn mang lời về nhắn lại, yêu cầu quốc vương (Tướng quân) Nhật Bản quản lý tốt chuyện này. Lời lẽ này nếu chuyển thành ngôn ngữ ngoại giao ngày nay, hẳn nên là: Nếu Nhật Bản không quản, mọi hậu quả gây ra do phía Nhật chịu trách nhiệm, vân vân. Nếu theo tính cách của Chu Đệ mà nói thẳng ra, đó chính là: Nếu ngươi không quản, ta quản thay ngươi.
Tướng quân Nhật Bản thời đó là một kẻ thông minh, ông ta hiểu hàm ý trong lời nói của Chu Đệ, liền lập tức phát binh tiêu diệt những kẻ làm loạn đó, đồng thời áp giải hai mươi kẻ cầm đầu đến Trung Quốc. Chu Đệ vô cùng hài lòng, ông cũng giữ thể diện cho Tướng quân Nhật Bản, lại bảo họ áp giải những người này về Nhật Bản tự xử lý.
Thế nhưng điều Chu Đệ không ngờ tới là, khi sứ thần đi đến Ninh Ba, thấy những người này mang đi mang lại quá phiền phức, chiếm chỗ không nói còn tốn lương thực, liền tại chỗ giải quyết họ, lại còn dùng một cách khá đặc biệt - "chưng sát chi" (hấp chín).
Từ chuyện này có thể thấy, Nhật Bản thời đó rất thức thời.
Nhưng ngày vui chẳng tày gang, không lâu sau, nhà Minh phái sứ thần sang Nhật Bản, Tướng quân Nhật Bản lại tự ý giam giữ sứ thần nhà Minh. Sau đó, Nhật Bản ngừng triều cống nhà Minh, quan hệ hai nước rơi vào bế tắc.
Nhìn chung, quan hệ giữa phần lớn các quốc gia thời bấy giờ với nhà Minh đều vô cùng hòa hợp. Còn ở phía Tây Bắc của Đế quốc Minh, các nước Tây Vực cũng khôi phục liên lạc với nhà Minh và bắt đầu triều cống.
Nhà Minh lúc này, dù cương vực không bằng nhà Nguyên, nhưng đã phía Bắc tới Mông Cổ, phía Tây đạt Tây Vực, Đông Bắc kiểm soát Nữ Chân, Tây Nam sở hữu Tây Tạng, lại có Triều Tiên, An Nam (nay là Việt Nam) làm thuộc quốc, sức ảnh hưởng và khả năng kiểm soát càng vang xa bốn phương.
Cương vực rộng lớn như vậy, sức ảnh hưởng mạnh mẽ như vậy, Đại Minh lúc bấy giờ đã trở thành một đế quốc hùng mạnh sánh ngang với Hán - Đường.
Bách tính dưới sự cai trị của Đại Minh Đế quốc cuối cùng cũng thoát khỏi chiến loạn và lưu lạc, không còn sợ hãi sự quấy nhiễu của dị tộc, bởi vì quốc gia hùng mạnh này đủ để khiến họ lấy làm kiêu hãnh và tự hào nói rằng:
Ta là con dân của Đại Minh.
Âm mưu nơi biên cương Tây Nam
Mặc dù Đế quốc Minh vô cùng hùng mạnh, nhưng những người hàng xóm gây rối vẫn có, và ít nhiều mang lại một số phiền toái. Nơi xuất hiện phiền toái sớm nhất chính là An Nam.
An Nam (nay là Việt Nam), còn gọi là Giao Chỉ, thời Hán - Đường là một phần của Trung Quốc. Đến thời Ngũ Đại, khu vực Trung Nguyên đánh nhau túi bụi, chẳng ai có thời gian quản nó, An Nam liền độc lập, nhưng vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc, hơn nữa giao lưu mật thiết. Thời Hồng Vũ nhà Minh, Chu Nguyên Chương từng sách phong quốc vương An Nam họ Trần, quan hệ hai bên tốt đẹp. Từ đó An Nam bắt chước Triều Tiên, triều cống Đại Minh, hơn nữa những việc trọng đại như quốc vương kế vị đều phải báo cáo với Hoàng đế Đại Minh, nhận được sách phong chính thức mới có thể xác nhận là hợp pháp.
Tuy nhiên thời Kiến Văn Đế, sự bình yên của An Nam bị phá vỡ, trong nước xảy ra một sự kiện kinh thiên động địa. Do có người phong tỏa tin tức kịp thời, Đại Minh hoàn toàn không hay biết gì.
Năm Vĩnh Lạc thứ nhất, quốc vương An Nam theo lệ cũ phái người đến triều hạ. Chu Đệ và các quan lại Lễ bộ đều ngạc nhiên phát hiện, trên văn thư triều hạ, quốc vương An Nam không còn họ Trần, mà là họ Hồ. Trong văn thư còn tự xưng nhà họ Trần không có người nối dõi, bản thân là cháu ngoại của nhà họ Trần, được bách tính tôn làm quốc vương, thỉnh cầu nhận được sự sách phong của Hoàng đế Đại Minh.
Văn thư này nhìn qua không có sơ hở gì, sự việc dường như cũng hợp tình hợp lý, nhưng Chu Đệ với kinh nghiệm chính trị phong phú cảm thấy trong đó nhất định có vấn đề, liền phái quan lại Lễ bộ đến An Nam thăm dò sự thật.
Quan viên được phái đi tên là Dương Bột, ông dẫn theo tùy tùng đến An Nam. Do một số nguyên nhân không rõ, ông dạo một vòng ở An Nam, sau khi về triều liền chứng minh những lời quốc vương An Nam nói là sự thật, không hề hư cấu. Chu Đệ lúc này mới tin, chính thức sách phong ông ta làm quốc vương An Nam.
Thế là bí mật của An Nam tiếp tục bị che đậy.
Nhìn lại sự việc, vị Dương Bột này nếu không phải phạm sai lầm hình thức chủ nghĩa thì chính là phạm tội nhận hối lộ.
Nhưng màn đen cuối cùng cũng sẽ bị vén lên.
Năm Vĩnh Lạc thứ hai, đại thần An Nam là Bùi Bá Kỳ đột nhiên xuất hiện ở Trung Quốc, nói có việc khẩn cấp muốn bẩm báo Hoàng đế. Ông ta lập tức được đưa đến kinh thành. Sau khi được Chu Đệ tiếp kiến, ông ta cuối cùng đã với tư cách là nhân chứng nói ra sự thật của sự kiện An Nam.
Hóa ra thời Kiến Văn Đế, thừa tướng An Nam là Lê Quý Ly đột nhiên làm loạn, sát hại quốc vương cũ và các đại thần ủng hộ quốc vương. Sau đó ông ta đổi tên thành Hồ Nhất Nguyên, truyền ngôi cho con trai là Hồ Hán Thương, rồi bày mưu lừa gạt Hoàng đế Đại Minh, chiếm đoạt phong hiệu.
Bùi Bá Kỳ thực sự là một bậc trung thần nhất đẳng, nói năng lệ rơi lã chã, còn viết một bức thư, trong đó có mấy câu thực sự cảm động: "Thần không tự lượng sức, dám học lòng trung của Thân Bao Tư, ai oán kêu than dưới cửa khuyết, cúi mong dấy binh điếu phạt, làm rạng rỡ nghĩa nối lại dòng dõi, quét sạch kẻ gian hung, khôi phục nhà họ Trần, thần chết cũng không hủ!"
Bùi Bá Kỳ khảng khái trần tình, thế nhưng hiệu quả lại không tốt lắm, bởi vì Chu Đệ là một tay lão luyện trong chốn quan trường, trải qua bao sóng gió chính trị, đối với cách nói này cũng bán tín bán nghi. Hơn nữa nhìn từ bức thư của Bùi Bá Kỳ, rất rõ ràng, ý đồ của người này là mượn đại quân nhà Minh để thảo phạt An Nam. Đây là một việc lớn, Chu Đệ không thể nào chỉ nghe một phía mà phát binh. Thế là Chu Đệ không hành động ngay, mà sắp xếp cho Bùi Bá Kỳ ở lại trước, đợi lúc khác sẽ bàn.
Tuy nhiên vào tháng tám cùng năm, sự xuất hiện của một vị khách không mời mà đến khác đã phá vỡ sự im lặng của Chu Đệ.
Người này chính là Trần Thiên Bình, em trai của quốc vương nhà Trần ở An Nam trước kia. Ông ta cũng đến kinh thành và xác nhận lời nói của Bùi Bá Kỳ.
Lần này Chu Đệ rơi vào thế khó xử. Nếu hai người này nói là sự thật thì đây là một sự kiện chính trị nghiêm trọng, bắt buộc phải xuất binh. Nhưng ai có thể đảm bảo họ không nói dối? Quốc vương An Nam đương nhiệm đã nắm đại quyền trong tay, tự nhiên sẽ phủ nhận lời của Trần Thiên Bình, thật giả làm sao phán định?
Hơn nữa vấn đề quan trọng nhất nằm ở chỗ, Chu Đệ trước kia chưa từng gặp Trần Thiên Bình, đối với ông, cái gọi là Trần Thiên Bình này chẳng qua chỉ là một người lai lịch bất minh. Nhỡ đâu nghe theo lời hắn, xuất binh đưa hắn về nước, cuối cùng chứng minh hắn là giả mạo, thì Đại Minh quốc đường đường sẽ mất hết danh dự, khó mà thu xếp cục diện.
Đây quả thực là một bài toán chính trị khó giải.
Thế nhưng Chu Đệ chính là Chu Đệ, ông đã nghĩ ra một ý tưởng tuyệt diệu để giải quyết vấn đề.
Phàm là cuối năm, các nước đều sẽ đến triều cống trước để chúc mừng Đại Minh năm mới mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an. An Nam cũng không ngoại lệ. Ngay cuối năm đó, sứ thần An Nam như mọi khi đến kinh thành nhà Minh triều cống Chu Đệ, nhưng họ tuyệt đối không ngờ tới, một màn kịch hay đang chờ đợi họ.
Sứ thần đến cung điện, đang chuẩn bị quỳ lạy, Chu Đệ ngồi trên ngai vàng đột nhiên lên tiếng: "Các ngươi nhìn xem người này, còn nhận ra hắn không?"
Lúc này Trần Thiên Bình bước ra, nhìn các sứ thần đến từ An Nam.
Sứ thần nhìn rõ người đến, kinh hãi thất sắc, theo thói quen lập tức quỳ lạy, có kẻ còn khóc lóc thảm thiết.
Bùi Bá Kỳ bên cạnh cũng vô cùng phẫn nộ, ông đứng ra trách mắng các sứ thần biết rõ quốc vương đương nhiệm là kẻ thoán quyền tặc tử, lại còn làm hổ thêm cánh, không xứng làm bề tôi. Mấy lời của ông ta đánh trúng vào điểm yếu của các sứ thần, sứ thần An Nam hoảng sợ bất an, không biết đối đáp thế nào.
Chu Đệ lão luyện lập tức hiểu rõ chân tướng sự việc từ màn kịch này, ông đập bàn đứng dậy, nghiêm giọng trách mắng sứ thần An Nam thông đồng che đậy Đại Minh, đối với kẻ gian thần thoán quốc lại làm ngơ, hành vi vô cùng đê hèn.
Sau khi làm rõ đầu đuôi sự việc, Chu Đệ lập tức ban chiếu thư, chỉ trích nghiêm khắc quốc vương An Nam đương nhiệm Hồ Hán Thương, đồng thời bày tỏ nếu chuyện này không có một câu trả lời khiến mình hài lòng, thì sẽ cho hắn biết tay.
Lời lẽ đanh thép của Chu Đệ rất có hiệu quả, câu trả lời của quốc vương họ Hồ đương nhiệm ở An Nam nhanh chóng truyền đến kinh thành. Trong bức thư trả lời, vị quốc vương này đã tiến hành phê bình và tự phê bình sâu sắc, bày tỏ mình chẳng qua chỉ là tạm thời chiếm giữ vị trí đó mà thôi, quốc hiệu kỷ niên cũng không dám đổi, hiện tại đã để trống vị trí, thành tâm thành ý đợi Trần Thiên Bình về nước kế thừa vương vị.
Câu trả lời này khiến Chu Đệ vô cùng hài lòng, ông cũng khoan dung bày tỏ, nếu có thể làm theo, không những không truy cứu trách nhiệm của hắn, còn sẽ phân phong đất đai cho hắn.
Sau đó, Chu Đệ lập tức sắp xếp Trần Thiên Bình về nước.
Lời tuy nói vậy, nhưng Chu Đệ là người vô cùng tinh minh, ông hiểu rõ thỏa thuận miệng và văn thư đều không thể tin được (điều này có được nhờ kinh nghiệm thời trẻ của ông), bởi vì năm xưa chính ông cũng chưa bao giờ tuân thủ những thứ đó.
Để đảm bảo sự việc tiến hành thuận lợi, ông sắp xếp sứ thần và Quảng Tây Tướng quân Hoàng Trung dẫn năm ngàn quân hộ tống Trần Thiên Bình về nước. Theo dự tính của Chu Đệ, việc Trần Thiên Bình kế vị đã là vạn vô nhất thất.
Thế nhưng chuyện xảy ra sau đó chỉ có thể dùng một từ để hình dung: kinh hoàng.
Sau khi Hoàng Trung hộ tống Trần Thiên Bình đến An Nam, quân An Nam lại đặt phục binh ngay dưới mắt Hoàng Trung sát hại Trần Thiên Bình, còn tiện tay giết luôn sứ thần nhà Minh, phong tỏa đường sá, ngăn cản quân Minh tiến lên.
Sau khi tin tức truyền về kinh thành, Chu Đệ bị chọc giận, bị chọc giận thực sự.
Thật là to gan lớn mật!
Dương phụng âm vi cũng thôi đi, lại dám giết người thừa kế vương vị ngay trước mặt quân Minh, ngay cả sứ thần Đại Minh phái đến cũng giết sạch!
Không báo mối thù này, Đại Minh dùng vào việc gì! Nuôi quân để làm gì!
Chiến tranh bình định An Nam
Giết chết Trần Thiên Bình, cha con họ Hồ yên tâm rồi, hậu nhân của nhà Trần đều đã bị giết sạch, còn tiện tay diệt luôn sứ thần nhà Minh. Tuy biết nhà Minh nhất định sẽ đến tính sổ với mình, nhưng hắn cũng đã sớm sắp xếp quân đội phòng ngự, và đặt trạm gác ở những vị trí trọng yếu.
Chỉ cần chiếm được địa thế thuận lợi, lại kéo dài thêm vài năm, nhà Minh cũng đành phải thừa nhận địa vị của mình.
Đây chính là kế hoạch hoàn hảo của cha con họ Hồ.
Tính toán tuy là vậy, nhưng họ cũng hiểu, nhà Minh nổi giận đánh tới không phải chuyện đùa, thế là họ ngày đêm không ngừng luyện tập quân đội, bố trí phòng ngự, chuẩn bị ứng phó.
Nhưng điều khiến họ bất ngờ là, qua hơn ba tháng, phía nhà Minh chẳng có động tĩnh gì. Chẳng lẽ họ thấy nơi này xa xôi, không muốn đến?
Cha con họ Hồ mang tâm lý may mắn không vui vẻ được bao lâu, tin tức chiến tranh đã truyền đến, quân đội nhà Minh đã chính thức xuất phát chuẩn bị đánh chiếm An Nam.
Điều này sớm nằm trong dự liệu của cha con họ Hồ, cho nên khi bộ hạ báo cáo quân tình cho họ, hai cha con vẫn cố tỏ ra bình tĩnh, biểu thị mọi công tác phòng ngự đều đã chuẩn bị xong, không có gì phải sợ.
Lý do cha con họ còn có thể "đánh sưng mặt làm người béo" (cố tỏ ra vẻ bề ngoài), cố giữ bình tĩnh, một phần lớn là vì hai cha con không biết tại sao nhà Minh phải mất hơn ba tháng mới đến đánh họ.
Đó là vì quân đội quá đông, cần thời gian huy động.
Bao nhiêu quân đội cần huy động mấy tháng?
Đáp: Ba mươi vạn.
Tất nhiên, theo thói quen của các nhà quân sự, còn có một con số xưng danh. Lần này quân Minh tổng cộng ba mươi vạn, đối với An Nam xưng là tám mươi vạn. Cha con họ Hồ sau khi nghe con số này từ miệng thuộc hạ, suýt chút nữa ngất xỉu.
Dẫn đầu đội quân khổng lồ này chính là danh tướng Chu Năng, người này chúng ta đã giới thiệu nhiều lần trước đây, để ông xuất chinh cho thấy Chu Đệ coi trọng việc này đến nhường nào, Chu Đệ kỳ vọng Chu Năng có thể phát huy tinh thần vô úy sau sự kiện Tĩnh Nan, một trận giải quyết vấn đề.
Đáng tiếc trời không chiều lòng người, ước chừng Chu Năng cũng không ngờ tới, ông không những không thể hoàn thành nhiệm vụ lần này, mà ngay cả bóng dáng An Nam cũng chưa kịp nhìn thấy.
Kế hoạch hành động của quân Minh là như thế này: chia quân làm hai đường, một đường do Chu Năng làm thống soái, từ Quảng Tây tiến quân, một đường khác do Mộc Thạnh dẫn đầu, từ Vân Nam tiến quân.
Đây là một kế hoạch quân sự có lịch sử lâu đời, hễ đánh An Nam là phải từ Quảng Tây và Vân Nam chia quân làm hai đường tiến công, đây gần như đã là bài bản cố định, từ xưa đến nay đều dùng.
Thế nhưng bất ngờ xảy ra, Chu Năng không may lâm bệnh trên đường hành quân, cứu chữa không khỏi mà qua đời. Điều này cũng chẳng lạ, bởi vì đại quân xuất phát đến Quảng Tây đã mất trọn ba tháng. Dọc đường xóc nảy không ngừng, mọi tinh lực của Chu Năng trong trận đại chiến kinh thiên động địa kia đã tiêu hao gần hết, bắt ông đi tham gia một trận chiến nữa thì quá khắt khe với ông rồi, nên nghỉ ngơi thôi.
Vị trí của Chu Năng bỏ trống, người thay thế ông cũng chẳng phải người ngoài, người này chính là con trai của Trương Ngọc - người được Chu Đệ gọi là "công thần Tĩnh Nan số một" - Trương Phụ.
Đây là một nhiệm vụ gian nan, bởi vì sự qua đời đột ngột của Chu Năng khiến nhiều người cảm thấy lo lắng cho viễn cảnh chiến tranh, mà vị người có uy tín kém xa Chu Năng này liệu có đảm đương nổi chức chủ soái hay không cũng rất đáng nghi ngờ.
Điều đáng mừng là, trong thời khắc khẩn cấp này, Trương Ngọc dường như linh hồn nhập vào người Trương Phụ. Trương Phụ kế thừa truyền thống tốt đẹp của Trương Ngọc, trong trận chiến này, ông không phải chiến đấu một mình.
Sau khi tiếp nhận vị trí thống soái, đối mặt với ánh mắt nghi ngờ của thuộc hạ, Trương Phụ đã triệu tập cuộc họp quân sự đầu tiên. Trong cuộc họp này, ông giới thiệu chi tiết phương châm và kế hoạch tác chiến, các bước chu đáo chính xác đến mức thuộc hạ phải thán phục. Cuối cuộc họp, Trương Phụ nói: "Năm xưa Khai Bình Vương (Thường Ngộ Xuân) viễn chinh qua đời giữa đường, Kỳ Dương Vương (Lý Văn Trung) thay thế, đại phá quân Nguyên! Ta tuy không tài, nguyện học tiền bối, cùng chư vị đồng sinh cộng tử, thề phá An Nam!"
Sau khi ổn định sĩ khí, chuẩn bị đầy đủ, Trương Phụ từ Bằng Tường, Quảng Tây chính thức tiến quân vào An Nam, đồng thời Mộc Thạnh từ Vân Nam tiến quân, quân Minh hai đường đột kích, tiến về phía trung tâm An Nam.
Sự thật chứng minh, sự tự tin của cha con họ Hồ ở An Nam là không đáng tin cậy. Trương Phụ dẫn quân như vào chốn không người, liên tiếp phá hai cửa ải Ái Lưu, Kê Lăng, một đường tấn công tiến lên, và hội quân với đội quân của Mộc Thạnh tại Bạch Hạc.
Đến đây, quân Minh đã phá vỡ phòng tuyến bên ngoài của An Nam, đột nhập vào nội địa, hiện tại chặn trước mặt Trương Phụ, cản trở ông tiến lên chính là trọng trấn Đa Bang của An Nam.
Theo sử liệu ghi chép, An Nam thời bấy giờ có hai kinh đô là Đông Đô và Tây Đô, tổng dân số hơn bảy triệu người. Địa thế trong nước nhiều sông ngòi, quân An Nam dựa vào sông để bố phòng, không trực tiếp giao chiến với quân Minh mà mưu toan kéo dài thời gian để làm suy kiệt đối phương.
Trương Phụ sớm nhìn thấu ý đồ của An Nam. Ông phái bộ tướng Chu Vinh đánh bại quân An Nam ở sông Gia Lâm, thiết lập trận địa vững chắc, sau đó hội quân cùng Mộc Thạnh, chuẩn bị tiến đánh thành Đa Bang ngay trước mắt.
Đa Bang tuy là trọng trấn của An Nam, phòng ngự kiên cố, nhưng trước mặt đại quân Minh ưu thế, nó dường như không khó để công phá. Đây là suy nghĩ của phần lớn các tướng lĩnh lúc bấy giờ. Thế nhưng, những tướng lĩnh này dường như không chú ý rằng, trong lịch sử, tâm lý khinh địch thường xuất hiện theo cách như vậy và dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. May mắn thay, Trương Phụ không phải là một trong số đó. Ông đã phái rất nhiều thám tử đi trinh sát tình hình trong thành, trực giác mách bảo ông rằng tòa thành này không hề đơn giản.
Cảm giác của Trương Phụ là đúng. Tòa thành Đa Bang này không chỉ kiên cố hơn những gì quân Minh tưởng tượng, mà bên trong còn có một loại vũ khí bí mật — voi chiến.
Quân An Nam ý thức được sự thiếu hụt trong sức chiến đấu của mình nên đã thuần dưỡng rất nhiều voi, chuẩn bị tung ra những con quái thú này khi quân Minh tấn công để tạo đòn đánh bất ngờ. Rất may, Trương Phụ không hề khinh địch và đã kịp thời nắm bắt được tình hình này.
Thế nhưng nói thì dễ, nắm được tình báo về voi chiến là một chuyện, còn đối phó với chúng lại là chuyện khác. Loài vật này da dày, thân hình to lớn vạm vỡ, trên chiến trường lúc gấp gáp, đao thương thông thường dường như chẳng thể làm gì được chúng. Phải làm sao đây?
Đúng lúc này, có người hiến cho Trương Phụ một kế sách để khắc chế voi chiến, tuy nhiên nhìn dưới góc độ ngày nay, kế sách này nói ra cũng chẳng khác gì không nói.
Diệu kế đó chính là tìm sư tử để tấn công voi, vì sư tử là chúa sơn lâm, chắc chắn có thể dọa voi chạy mất.
Chúng ta tạm thời không bàn đến việc quan điểm này có đứng vững về mặt động vật học hay không, chỉ xin hỏi một câu: Biết tìm sư tử ở đâu?
Ai cũng biết, Trung Quốc không có sư tử, vài con hiếm hoi đều là nhập khẩu từ nước ngoài. Theo "Hậu Hán thư" ghi chép, thời Hán Chương Đế, nước Nguyệt Chi từng tiến cống sư tử, sau đó nước An Tức cũng từng tiến cống. Nhưng số lượng sư tử có được qua con đường tiến cống này chắc chắn không nhiều, hơn nữa thời đó cũng không có kỹ thuật nhân giống nhân tạo, ước chừng là chết một con thì bớt đi một con. Ngay cả khi thời nhà Minh còn sư tử, thì chúng cũng nên được bảo vệ như đãi ngộ dành cho gấu trúc ngày nay, sao có thể mang đi đánh trận?
Vậy phải làm sao đây? Sư tử thì không có, nhưng voi thì vẫn đang sống sờ sờ trong thành chờ đợi, chẳng lẽ lại vẽ vài con sư tử ra để đánh trận?
Đúng rồi đấy! Không có thật thì dùng đồ vẽ!
Bạn không nhìn nhầm, và tôi cũng không viết sai, Trương Phụ năm đó chính là dùng sư tử vẽ để đánh trận.
Trương Phụ không phải kẻ điên, ông cũng hiểu những thứ làm bằng gỗ và giấy không thể nào đối đầu với loài vật khổng lồ như voi. Dù vẽ đẹp đến đâu thì chung quy cũng chỉ là tranh vẽ, không thể coi là thật. Là một tướng lĩnh xuất sắc, Trương Phụ đã chuẩn bị sẵn một phương án đối phó toàn diện để tấn công tòa thành Đa Bang phòng thủ nghiêm ngặt.
Thực ra sư tử là thật hay giả không quan trọng, quan trọng là nằm trong tay ai và sử dụng như thế nào, bởi vì thứ quyết định thắng bại của chiến tranh cuối cùng vẫn là trí tuệ và tố chất của người chỉ huy.
Hàng chục vạn đại quân của Trương Phụ đóng quân ngoài thành Đa Bang nhưng mãi không chịu tấn công. Thần kinh của người trong thành từ trạng thái căng thẳng cũng dần dần thả lỏng, thậm chí có những lính canh trên tường thành còn bắt đầu trêu chọc lính Minh dưới chân thành. Tất nhiên, đó là một hành động khiêu khích. Trong mắt họ, chiến lược của mình sắp thành công rồi: quân Minh ở lại đây lâu ngày, tiếp tế chắc chắn không theo kịp, mà công thành lại không có nắm chắc phần thắng, chỉ còn con đường rút lui mà thôi.
Điều quân thủ thành An Nam không biết là, lý do quân Minh mãi không tấn công rất đơn giản: Đao mài càng lâu trước khi chém người thì càng sắc bén, sử dụng sẽ càng có sức sát thương lớn.
Sự thật đúng là như vậy. Lúc này, Trương Phụ đã tổ chức đội cảm tử, chuẩn bị tấn công thành Đa Bang. Điều ông chờ đợi chỉ là một thời cơ thích hợp mà thôi.
Sau thời gian dài chờ đợi, vào một đêm tháng Chạp, quân Minh phát động tấn công thành Đa Bang. Trong trận chiến, quân Minh phát huy đầy đủ vai trò tiên phong gương mẫu của người chỉ huy. Đô đốc Hoàng Trung cầm đuốc, dẫn quân vượt hào thành trước, mở đường cho bộ đội tiến lên. Đô chỉ huy Thái Phúc đích thân dựng thang mây và là người đầu tiên leo lên thành Đa Bang. Hành động anh dũng của hai vị cao cấp quân quan này đã khích lệ lớn tinh thần quân Minh. Binh sĩ hăng hái tranh nhau tiến lên, một đòn công phá ngoại thành. Quân An Nam dù thế nào cũng không thể ngờ được, đội quân ngày thường không chút động tĩnh lại đột nhiên biến thành mãnh hổ. Cuộc tấn công dữ dội đến mức khiến tuyến phòng thủ của họ sụp đổ hoàn toàn, binh sĩ tan tác bỏ chạy.
Chiến hỏa lan vào nội thành. Lúc này, quân An Nam cuối cùng cũng tung ra con át chủ bài của mình: voi chiến. Họ thúc voi tấn công quân Minh, hy vọng có thể xoay chuyển cục diện bại trận. Tuy nhiên, Trương Phụ đã sớm chuẩn bị sẵn phương pháp đối phó.
Cân nhắc rằng sư tử vẽ tuy uy vũ nhưng chỉ có thể dọa người, chưa chắc đã dọa được voi, Trương Phụ đã chuẩn bị thêm rất nhiều ngựa, bịt mắt chúng lại, bên ngoài khoác lên da sư tử (đã vẽ). Khi voi xuất hiện, ông liền xua ngựa lao lên phía trước. Mặc dù theo bản năng động vật, ngựa tuyệt đối không dám đối đầu với voi, nhưng những con ngựa bị bịt mắt thì dù khủng long tới cũng vẫn sẽ lao lên. Đồng thời, Trương Phụ còn sử dụng lượng lớn hỏa súng để tấn công voi. Sức sát thương có thể không lớn, nhưng uy lực răn đe của hỏa súng lại vô cùng đáng gờm.
Dưới tác động từ những chiêu bài của Trương Phụ, đàn voi của quân An Nam sợ hãi không nhẹ, kết quả lũ lượt quay đầu bỏ chạy, xé nát đội hình quân An Nam đang chờ đợi ở phía sau để hôi của. Sau khi mất đi tất cả hy vọng, quân An Nam hoàn toàn mất đi dũng khí kháng cự, quân Minh một đòn công phá thành Đa Bang.
Thắng lợi của trận Đa Bang đã giáng một đòn nặng nề vào ý chí kháng cự của An Nam. Sau đó, quân Minh thừa thắng xông lên, lần lượt công phá Đông Đô và Tây Đô, đến tháng Năm năm đó (năm Vĩnh Lạc thứ năm), chiếm được toàn bộ lãnh thổ An Nam, bắt sống cha con họ Hồ và giải về nước. An Nam từ đó được bình định.
Sau khi An Nam được bình định, Chu Đệ từng hạ chỉ tìm kiếm hậu duệ họ Trần nhưng không có kết quả. Lúc này, lại có hàng ngàn người An Nam dâng sớ lên chính phủ nhà Minh, bày tỏ rằng An Nam vốn là lãnh thổ của Trung Quốc, họ Trần đã không còn hậu duệ, hy vọng được quy nhập vào Trung Quốc, trở thành một quận của Trung Quốc.
Chu Đệ đồng ý đề nghị này, vào tháng Sáu năm Vĩnh Lạc thứ năm (1407), đổi An Nam thành Giao Chỉ, đặt ra Bố chính sứ ti, khiến nơi này trở thành một phần của Trung Quốc. Như vậy, kể từ sau thời Hán Đường, An Nam một lần nữa trở thành lãnh thổ của Trung Quốc.
Việc giải quyết vấn đề An Nam đã mang lại sự an ninh và yên bình cho biên giới phía Tây Nam của Trung Quốc, nhưng chính phủ nhà Minh vẫn còn một nỗi phiền lòng lớn hơn. Nỗi phiền lòng này đeo bám nhà Minh suốt hàng trăm năm, như một cơn ác mộng không thể xua tan.