Những Chuyện Thời Minh – Tập 2

Lượt đọc: 60 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đế vương quyết trạch

❊ ❊ ❊

Việc chuyển đô là một sự kiện khác có tầm ảnh hưởng sâu rộng mà Chu Đệ đã thực hiện. Chuyện dời đô dù ở bất kỳ triều đại nào cũng là đại sự, và lần dời đô này của Chu Đệ không nghi ngờ gì chính là lần gây ảnh hưởng lớn nhất đến hậu thế. Bắc Kinh ngày nay với hàng chục triệu dân, vô số cao ốc chọc trời, không chỉ là thủ đô của đất nước chúng ta mà còn là một trong những thành phố phồn hoa nhất thế giới. Tất cả khởi nguồn từ một quyết định của Chu Đệ.

Tháng ba năm Vĩnh Lạc thứ nhất (năm 1403), quân Mông Cổ tiến công Liêu Đông, cướp bóc dữ dội. Đô chỉ huy tại địa phương là Thẩm Vĩnh vốn là kẻ bất tài, không những không thể chống cự mà còn chẳng kịp thời báo cáo lên cấp trên. Chu Đệ nghe tin vô cùng tức giận, lập tức giết chết Thẩm Vĩnh, đồng thời triệu tập đại thần để hỏi về nguyên nhân khiến tình hình quân sự phía Bắc trở nên tồi tệ.

Chu Đệ chất vấn các đại thần rằng phòng ngự phía Bắc yếu kém đến mức quân Mông Cổ ra vào như chốn không người, cứ thế này thì làm sao chịu nổi, ai là kẻ phải chịu trách nhiệm?

Thế nhưng, điều nằm ngoài dự liệu của Chu Đệ là các đại thần tuy không ai lên tiếng, nhưng cũng chẳng hề tỏ ra sợ hãi, ngược lại còn trừng mắt nhìn ông. Chu Đệ nổi trận lôi đình, đang định phát hỏa thì đột nhiên tâm niệm xoay chuyển, đành nuốt lời vào trong.

Tại sao lại như vậy?

Vì ông cuối cùng đã hiểu tại sao các đại thần cứ nhìn chằm chằm vào mình: người phải chịu trách nhiệm cho việc này chính là bản thân ông!

Trong hệ thống phòng ngự của nhà Minh, những người chịu trách nhiệm chính ở phía Bắc là Yên Vương Chu Đệ và Ninh Vương Chu Quyền. Thế nhưng trong cuộc Tĩnh Nan chi dịch, Chu Quyền bị ông bắt cóc, còn chính ông cũng chạy tới Nam Kinh làm hoàng đế. Biên giới phía Bắc thiếu vắng hai người họ, cơ bản đã trở thành khu vực không có phòng ngự, thì còn trách được ai nữa?

Nam Kinh là một nơi rất tốt, cũng rất thích hợp để định đô vì địa thế hiểm yếu, phong thủy tốt, lại thêm là vựa lương thực chính. Do trung tâm kinh tế của Trung Quốc thời đó đã dịch chuyển về phía Nam, việc định đô ở đây rất có lợi cho việc duy trì thống trị của nhà Minh.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, "nơi ở" của đế quốc Minh không phải là căn nhà độc lập. Ở phía Bắc đế quốc có vài người hàng xóm không mấy thân thiện. Những người hàng xóm này thường xuyên không cần sự cho phép của chủ nhà mà tự ý vào nhà lấy đi những thứ mình thích, lại còn chẳng bao giờ viết giấy nợ. Một lần hai lần thì không sao, nhưng cứ kéo dài mãi như vậy thì làm sao chịu nổi?

Xuất binh thảo phạt cũng chẳng có hiệu quả gì, bởi những người hàng xóm này cơ bản đều là đội ngũ du kích, sử dụng chính sách "địch tiến ta lui, địch lui ta lại". Họ vốn là dân du mục, không trồng trọt, công việc hàng ngày chỉ là cưỡi ngựa chạy tới chạy lui, rảnh rỗi không có việc gì làm thì không cướp của ngươi thì cướp của ai?

Thảo phạt không xong, mặc kệ lại càng không được, đây quả thực là một nan đề.

Tình hình quân sự, chính trị tuy là nguyên nhân chính dẫn đến việc dời đô sau này, nhưng còn một nguyên nhân khác không thể bỏ qua, đó chính là đặc điểm cá nhân của Chu Đệ.

Chẳng lẽ cá nhân Chu Đệ cũng có liên quan đến việc dời đô?

Câu trả lời là khẳng định. Nếu bạn còn nhớ, chúng ta từng nhắc đến việc Chu Đệ tuy sinh ra ở Nam Kinh, có hộ khẩu Nam Kinh, nhưng năm 21 tuổi đã đến Bắc Bình và sống ở đó suốt hai mươi năm. Tuy không chuyển hộ khẩu (thời đó vào Bắc Bình không khó), nhưng thói quen sinh hoạt của ông đã hoàn toàn "phương Bắc hóa".

Theo sử liệu ghi chép, Chu Đệ ưa thích ẩm thực phương Bắc, đặc biệt là rất thích món kim chi Triều Tiên. Quốc vương Triều Tiên lúc bấy giờ là Lý Phương Viễn từng phái đầu bếp (hỏa giả) sang hầu hạ Chu Đệ, và ông cũng vui vẻ tiếp nhận. Nghĩ lại, một người thích khẩu vị phương Bắc như Chu Đệ chắc chắn sẽ không mấy hứng thú với món ăn phương Nam. Phương Bắc tuy nhiều gió cát, xa không bằng sơn thủy tú lệ của phương Nam, nhưng Chu Đệ đã sống trong môi trường đó từ lâu, đối với ông, những gì quen thuộc mới là tốt nhất.

Tất nhiên, nguyên nhân chính khiến Chu Đệ dời đô vẫn là nhu cầu chính trị. Đã quyết tâm rồi thì dời thôi.

Khoan đã! Chuyện này không phải nói dời là dời được ngay. Dời đô không phải là chuyển nhà, tuyệt đối không phải cứ đóng gói hành lý rồi gọi điện thoại cho công ty chuyển nhà là xong. Nan đề lớn nhất nằm ở chỗ, Chu Đệ không phải chuyển đến Bắc Bình một mình, nếu được như vậy thì đã đỡ tốn công sức.

Dời đô không chỉ là dời đi Chu Đệ, mà còn phải dời theo vô số thê thiếp, vương công đại thần, binh lính bách tính. Những người này cũng cần tìm chỗ ở, cũng cần xây nhà. Bắc Bình đã trải qua nhiều năm chiến tranh, đường phố, cung điện đều cần tu sửa, bố cục thành phố cũng cần sắp xếp lại. Hơn nữa, những người theo ông đến Bắc Bình đều không phải hạng tầm thường, cần một số vốn khổng lồ mới có thể an trí được họ. Độ khó của việc này tuyệt đối không kém gì xây dựng kinh đô mới.

Những vấn đề này tuy khó giải quyết nhưng dù sao vẫn có cách. Trước mặt Chu Đệ còn một nan đề lớn hơn, nếu nan đề này không được giải quyết, dời đô cũng bằng không.

Chúng ta đều biết, nguyên nhân chính khiến Chu Đệ dời đô là để kiểm soát biên giới phía Bắc, đảm bảo an ninh quốc gia. Theo lý mà nói, dời đô là giải quyết được vấn đề này, nhưng chư vị đã nghĩ tới chưa, còn một thứ bắt buộc phải có.

Đó chính là lương thực.

Vùng lân cận Bắc Bình không phải là vùng sản xuất lương thực, mà dời đô chắc chắn sẽ khiến dân số tràn vào ồ ạt (người Trung Quốc vốn có thói quen đổ xô về các thành phố lớn). Những người này cần tiêu thụ lượng lương thực khổng lồ, hơn nữa để kiểm soát biên giới, bắt buộc phải nuôi một lượng lớn binh lính. Tuy nhà Minh đã thực hiện quân đồn (quân nhân lúc bình thường trồng trọt, khi chiến tranh thì ra trận), có thể giải quyết một phần lương thực cho quân đội, nhưng quân tinh nhuệ tại kinh thành (như Tam đại doanh) lại không trồng trọt. Nhiều người như vậy thì ăn gì, chẳng lẽ uống gió Tây Bắc?

Vấn đề nghiêm trọng hơn nằm ở chỗ, chỉ đảm bảo lương thực cho binh lính bách tính ở Bắc Bình thôi là chưa đủ. Vì chính phủ nhà Minh tương lai có thể sẽ thường xuyên ra ngoài "thăm hỏi" những người hàng xóm không mấy thân thiện kia, dạy cho họ một bài học nhỏ. Cái gọi là "binh mã chưa động, lương thảo đi trước", phái mười vạn quân đi đánh trận thì phải chuẩn bị lương thực cho mười vạn người, mà sản lượng lương thực quanh Bắc Bình tuyệt đối không đủ để đảm bảo cho những hành động này.

Có lẽ sẽ có người nói, đây có là gì, vận chuyển lương thực từ vùng sản xuất phía Nam lên phía Bắc là xong chứ gì?

Nếu bạn nghĩ như vậy, thì xin chúc mừng bạn, bạn cuối cùng đã tìm ra điểm khó của vấn đề này.

Vấn đề lương thực trở thành trở ngại lớn nhất khi dời đô, cái khó nằm ở khâu vận chuyển. Ở thời đại đó, không có tàu hỏa, ô tô, cũng chẳng có máy bay, muốn vận chuyển lương thực chỉ có thể dựa vào sức người. Ngày nay chúng ta dùng phương tiện giao thông hiện đại đi từ Nam Kinh đến Bắc Kinh cũng mất không ít thời gian, còn người thời đó đi một chuyến mất hơn một tháng. Hơn nữa, mọi người đừng quên một vấn đề: người vận chuyển lương thực cũng phải ăn. Dù họ có tận trung tận tụy đến đâu, bạn cũng nên có một nhận thức tỉnh táo: trước khi họ ăn sạch số lương thực mình đang vận chuyển, họ tuyệt đối sẽ không chết đói.

Vì vậy, nếu bạn thuê người vận chuyển lương thực bằng đường bộ, bạn bắt buộc phải chuẩn bị thêm khẩu phần ăn cho người vận chuyển. Cho hắn đẩy hai xe lương lên đường, vận chuyển một xe, ăn một xe, đến nơi giao lại phần chưa ăn hết, thế là xong việc. Mà phần khẩu phần ăn chuẩn bị thêm đó có khi còn nhiều hơn cả số lương thực hắn vận chuyển đến.

Nếu có chính phủ nào sẵn lòng duy trì cách vận chuyển vật tư này lâu dài, thì số phận chờ đợi chính phủ đó chỉ có một: phá sản.

Vì vậy, lựa chọn duy nhất còn lại của chính phủ nhà Minh là: đường thủy (còn gọi là Tào vận).

Phải rồi, vấn đề dường như đã được giải quyết, câu trả lời rất đơn giản, dùng thuyền vận chuyển lương thực chẳng phải có thể hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển vừa nhanh vừa nhiều sao? Vậy tại sao còn phải đi đường vòng lớn như thế?

Tôi có thể đảm bảo, tuyệt đối không có ý trêu đùa mọi người. Về vấn đề này, tôi có thể trả lời bằng hai chữ:

Không thông.

Thời bấy giờ, đường thủy từ vùng sản xuất lương thực chính ở phía Nam đến phía Bắc không thông suốt, kênh đào tắc nghẽn, sông ngòi đổi dòng gây ra bất tiện cực lớn cho vận tải đường thủy lúc đó. Trừ khi thuyền của nhà Minh là loại lưỡng cư, nếu không muốn thuận buồm xuôi gió là điều tuyệt đối không thể. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương từng chịu thiệt lớn vì chuyện này. Năm xưa khi ông đánh trận, cần điều động lương quân từ phía Nam đến vùng Liêu Đông, Bắc Bình, nhưng đường thủy không thông, bất đắc dĩ phải đi đường biển, qua vịnh Bột Hải vận chuyển. Không chỉ đi đường vòng, mà vì sóng to gió lớn rất không an toàn, mười cân lương quân mà vận chuyển đến nơi còn được một nửa đã là tạ ơn trời đất rồi.

Thế nhưng, việc tu sửa kênh đào tuyệt đối không phải chuyện có thể tùy tiện đề xuất. Mọi người nên nhớ, ngòi nổ khiến nhà Nguyên diệt vong chính là việc trị thủy. Công trình thủy lợi dù ở thời đại nào cũng tuyệt đối là dự án đầu tư trọng điểm của quốc gia, cần lượng tiền lớn và đông đảo nhân lực. Hơn nữa, nếu tiêu tốn quá nhiều tiền bạc, làm lay chuyển gốc rễ quốc gia thì vấn đề sẽ rất nghiêm trọng (Kinh Hàng Đại Vận Hà của Tùy Dạng Đế chính là ví dụ). Vì vậy, việc này cũng giống như việc biên soạn sách, không phải thời cường quốc thịnh thế thì đừng có mà mơ tưởng.

Thời đại của Chu Đệ chính là thịnh thế.

Sau thời gian dài phục hồi thời Hồng Vũ, cộng với phương lược trị quốc đúng đắn của Chu Đệ, nhà Minh lúc bấy giờ đã có đủ thực lực kinh tế để hoàn thành những việc mà trước đây không thể tưởng tượng nổi. "Vĩnh Lạc Đại Điển" đã biên soạn xong, làm chút thủy lợi tất nhiên không thành vấn đề.

Năm Vĩnh Lạc thứ chín (năm 1411), Chu Đệ hạ lệnh cho Công bộ Thượng thư Tống Lễ trị thủy sông Hội Thông để đảm bảo đường thủy thông suốt. Tống Lễ là một chuyên gia thủy lợi rất có năng lực, ông đã hoàn thành nhiệm vụ. Sau đó, Tào vận Tổng đốc Trần Huyên tiếp tục khơi thông kênh đào, từ đó Tào vận Nam - Bắc thông suốt không trở ngại, cái gọi là "Nam cực cửa sông, Bắc tận cầu Đại Thông, vận đạo ba ngàn dặm", vấn đề lương thực cuối cùng đã được giải quyết.

Còn các công việc khác của việc dời đô vẫn luôn được tiến hành khẩn trương. Các đơn vị văn phòng của các bộ từ sớm đã xây xong vào năm Vĩnh Lạc thứ bảy (1409), còn công trình xây dựng kinh thành bắt đầu từ năm Vĩnh Lạc thứ mười lăm, kéo dài suốt hơn ba mươi năm mới kết thúc.

Nhận thấy thời cơ đã chín muồi, năm Vĩnh Lạc thứ mười chín (năm 1421), Chu Đệ chính thức hạ lệnh: Dời đô!

Kinh sư cũ được đổi tên thành Nam Kinh, Bắc Kinh được xác định là kinh đô mới của đế quốc Minh. Từ đó, thành phố Bắc Kinh chính thức trở thành thủ đô của nhà Minh và duy trì suốt hơn hai trăm năm. Nhưng lịch sử của nó không kết thúc theo sự diệt vong của nhà Minh, ngược lại, nó vẫn tồn tại và phát triển đầy sức sống, cuối cùng trở thành một trong những thành phố có tầm ảnh hưởng nhất thế giới.

Khi chúng ta ngày nay dạo bước trong đô thị hiện đại Bắc Kinh, ngắm nhìn cảnh tượng phồn hoa cao ốc san sát, xe cộ tấp nập, không nên quên rằng chính một người tên Chu Đệ hơn năm trăm năm trước đã đặt nền móng cho tất cả những điều này.

Cần nói thêm là, khi Chu Đệ xây dựng Bắc Kinh, ông có ý thức hiện đại khá cao. Ông rất chú trọng quy hoạch tổng thể thành phố, xây dựng lần lượt vài tuyến đường chính và nhánh, quy hoạch khu vực Bắc Kinh thành những khối vuông vức chỉnh tề, đồng thời đặt ra quy định nghiêm ngặt, cấm xây dựng bừa bãi, còn lắp đặt hệ thống cống thoát nước hoàn chỉnh.

Còn những công trình nổi tiếng Bắc Kinh mà chúng ta thấy hiện nay như Cố Cung và Thiên Đàn đều là nền móng do thời Chu Đệ đặt ra (sau này nhà Thanh từng tu sửa lại). Đặc biệt phải kể đến Cố Cung, nó chiếm diện tích 170.000 mét vuông, trưng dụng vô số nhân lực, mất hai mươi năm mới hoàn thành. Nó vốn chỉ là nơi dành cho hoàng đế cư ngụ, bách tính tuyệt đối không có duyên đặt chân tới, cũng không có chuyện mua vé tham quan, nhưng điều này không ảnh hưởng đến địa vị của nó trong lịch sử. Hiện nay, Cố Cung đã trở thành báu vật lịch sử của dân tộc Trung Hoa, là niềm tự hào của mỗi người Trung Quốc chúng ta.

Không thể phủ nhận, đây chính là công lao của Chu Đệ, không thể và cũng không cách nào xóa bỏ.

Cần nhắc lại rằng, việc dời đô năm xưa tuyệt đối không hề thuận buồm xuôi gió, được mọi người hưởng ứng. Thực tế, căn bản không có mấy người tán thành quyết định này của Chu Đệ.

Nguyên nhân rất đơn giản, ngoài những người theo Chu Đệ từ cuộc Tĩnh Nan, phần lớn đại thần triều đình đều sống lâu năm ở phương Nam, vợ con đều ở Nam Kinh, bạn bè thân hữu, quan hệ xã hội cũng ở đây cả, ai muốn theo Chu Đệ đến phương Bắc chịu gió lạnh chứ?

Vừa hay không lâu sau khi dời đô, hoàng cung xảy ra hỏa hoạn, hơn nữa rất nhiều nơi trên cả nước xuất hiện thiên tai. Người thời đó gọi là "thiên tai", các đại thần tự nhiên quy kết mọi chuyện là do: tất cả đều là họa của việc dời đô.

Chu Đệ làm người tuy đủ tàn nhẫn quyết đoán, nhưng dù sao kiến thức lý luận khoa học tự nhiên cũng thiếu hụt, ông cũng có chút hoảng loạn, bèn trưng cầu ý kiến quần thần để bù đắp sai lầm.

Nhưng ông không ngờ rằng, các đại thần lại nhân cơ hội này phát động cuộc tấn công mãnh liệt vào ông.

Nhiều đại thần dâng sớ, trình bày cái hại của việc dời đô, và cho rằng sở dĩ có thiên tai là do việc dời đô gây ra. Trong đó, lời lẽ của Chủ sự Tiêu Nghi là kịch liệt nhất, sử liệu ghi chép "Nghi ngôn chi vưu tuấn" (lời Nghi cực kỳ gay gắt). Còn rốt cuộc ông ta nói gì thì không liệt kê ra, nhưng đoán chừng là đã mắng Chu Đệ. Mọi người biết đấy, Chu Đệ chưa bao giờ là người nhẫn nhịn, phản ứng của ông cũng rất dứt khoát, trực tiếp giết chết Tiêu Nghi.

Chuyện này đã chọc vào tổ kiến lửa, phải biết rằng kẻ sĩ không dễ chọc, từ nhỏ đã nghe lời thánh hiền, tự coi mình là môn sinh của thánh nhân, hoàng đế thì đã sao? Sợ ngươi chắc?

Thế là đông đảo đại thần lũ lượt dâng sớ, dư luận như sóng trào, còn tụ tập ở Ngọ Môn công khai biện luận. Gọi là buổi biện luận, nhưng ý kiến tại buổi họp hoàn toàn nghiêng về một phía, thực chất là cuộc đấu tố nhắm vào Chu Đệ. Nếu đổi lại là một vị hoàng đế bình thường, thấy quá nhiều thủ hạ phản đối mình, rất có thể sẽ dao động, nhưng Chu Đệ không phải hoàng đế bình thường, ông kiên trì quan điểm của mình, củng cố quyết tâm dời đô.

“Các ngươi đều không cần nói nữa, dời đô là quyết định của ta, nhất định phải dời, ta nói là được, cứ làm như vậy đi!”

Chu Đệ làm vậy cần phải có dũng khí. Ông dám kiên trì quan điểm, không hề lùi bước khi phe phản đối chiếm đa số. Thực tế, ý kiến nhiều đại thần đưa ra cũng rất xác đáng, như dời đô làm hao người tốn của, gây ra tham ô hủ bại, đều là sự thật khách quan. Nhưng lịch sử sẽ chứng minh, lựa chọn của Chu Đệ là đúng đắn.

Trong lịch sử, thường xuất hiện những nhân vật rất có tầm nhìn, họ có thể tiên liệu được sự phát triển tương lai của sự vật khi tình hình còn chưa rõ ràng. Như Gia Cát Lượng ngồi trong nhà tranh cũng có thể suy tính ra thiên hạ tương lai sẽ chia ba, nhưng cái suy tính này của Gia Cát Lượng không cần cái giá phải trả, dù ông có tính sai cũng không ai tìm ông gây phiền phức.

Dễ gây phiền phức là ở khâu quyết trạch (quyết định lựa chọn), nghĩa là bắt buộc phải hy sinh một vài lợi ích trước mắt để đổi lấy lợi ích lâu dài hơn trong tương lai. Sự lựa chọn này thường cực kỳ đau đớn, vì lợi ích trước mắt là thứ ai cũng nhìn thấy, còn lợi ích lâu dài lại không nhìn thấy được. Giống như bạn bảo mọi người vứt bỏ số tiền đang có trong tay để đi theo bạn đào mỏ vàng, mỏ vàng tuy hấp dẫn, nhưng liệu có thật hay không lại là một dấu hỏi lớn. Bạn nói có là có? Dựa vào đâu?

Hơn một trăm năm sau, nhà cải cách vĩ đại Trương Cư Chính chính là ngã ngựa vì sự lựa chọn này, bởi vì các đại thần thà ôm đống tài sản trong tay chờ chết, cũng không chịu đi theo ông trên con đường chưa biết đó.

Chu Đệ chính là một vị lãnh đạo có tầm nhìn như vậy, cũng là một vị lãnh đạo dám quyết trạch. Ông biết dời đô là một công trình lớn, tốn thời gian tốn sức, nhưng ông phán đoán chính xác rằng yếu tố lớn nhất ảnh hưởng đến sự thái bình lâu dài của đế quốc Minh chính là quân Mông Cổ phía Bắc. Muốn tương lai sống yên ổn, thì bắt buộc phải từ bỏ lợi ích trước mắt, dời đô về Bắc Kinh. Nếu không, nhà Minh sẽ khó thoát khỏi vận mệnh của Nam Tống.

So với Trương Cư Chính, Chu Đệ có một ưu thế: ông là hoàng đế, hơn nữa còn là một vị hoàng đế bàn tay sắt, một vị hoàng đế dám gánh tiếng xấu, làm theo ý mình. Vì vậy ông có thể kiên trì niềm tin của mình đến cùng, vì vậy ông cuối cùng đã hoàn thành công việc dời đô đầy gian nan này.

Hành vi dời đô của Chu Đệ đã vấp phải sự phản đối của mọi người lúc bấy giờ, rất nhiều người cũng khẳng định việc này tất không thể thực hiện được. Nhưng mười chín năm sau, đứng trên thành Bắc Kinh nhìn ra xa, Vu Khiêm chắc hẳn sẽ không nghĩ như vậy.

Lịch sử mới là người phán xét cuối cùng cho sự phát triển của sự vật. Không lâu sau đó, nó sẽ không chút nghi ngờ mà nói với mỗi người: Quyết định của Chu Đệ là đúng đắn.

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »