Những Chuyện Thời Minh – Tập 1

Lượt đọc: 150 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
Báo thù

❊ ❊ ❊

Công tâm mà nói, Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành đích thực là những đối thủ mạnh nhất của Chu Nguyên Chương, nhưng xét về tình cảm cá nhân, ông không hề có thù oán với hai người này, thậm chí còn có chút cảm giác "tương tri tương tích".

Thế nhưng nhà Nguyên thì khác. Chính dưới sự thống trị của vương triều tàn bạo này, Chu Nguyên Chương đã mất đi cha mẹ, gia đình tan nát. Bản thân ông phải phiêu bạt khắp nơi, ăn xin qua ngày, đến đường cùng mới phải khởi nghĩa.

Trong lòng Chu Nguyên Chương, luôn chôn giấu mối thù khắc cốt ghi tâm với nhà Nguyên.

Không chỉ là thù nhà, mà còn là nợ nước.

Trong cuộc chiến quét sạch Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành, để làm tê liệt nhà Nguyên, Chu Nguyên Chương không xưng vương, không xưng đế, đồng thời ngầm biểu thị không đối đầu với triều đình Nguyên. Ông còn gửi lễ vật hậu hĩnh cho đại tướng nhà Nguyên lúc bấy giờ là Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi.

Nhìn vào điều này, quả thực ông là một cao thủ trong việc tạo dựng quan hệ.

Trong mắt nhà Nguyên, đây chỉ là một gã nhà quê muốn kiếm chút lợi lộc trong chiến tranh, cứ cho chút lợi ích là xong.

Nếu họ chịu điều tra về quá khứ bi thảm thời thơ ấu của Chu Nguyên Chương, rồi suy ngẫm xem ai là kẻ gây ra nỗi đau ấy, họ sẽ nhận ra suy nghĩ của mình nực cười đến nhường nào.

Chiến lược của Chu Nguyên Chương đã đạt được thành công vang dội.

Khi ông giải quyết xong Trần Hữu Lượng, sắp sửa quét sạch Giang Nam, triều đình nhà Nguyên vội vã phái Hộ bộ Thượng thư Trương Sưởng đến phong quan cho ông. Họ luôn cho rằng kẻ này có thể lợi dụng được, chỉ cần cho ít tiền là xong.

Thế nhưng phản ứng của Chu Nguyên Chương lại nằm ngoài dự đoán của họ. Ông từ chối chức quan, nhưng lại giữ Trương Sưởng ở lại. Chu Nguyên Chương đã "đào tường" nhà Nguyên, còn nói với Lưu Cơ rằng: "Nhà Nguyên tặng ta một người hiền tài, các ngươi rảnh rỗi có thể đàm đạo nhiều hơn với ông ta."

Nếu hành động này vẫn chưa đủ để nhà Nguyên hiểu được ý đồ thực sự của Chu Nguyên Chương, thì họ quả thực quá ngu ngốc.

Khi Chu Nguyên Chương giao chiến với Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành, đánh nhau đến mức sống chết, triều đình nhà Nguyên từng rất vui mừng làm một khán giả xem đấu quyền anh. Đối với họ, kết quả tốt nhất là cả ba đều gục ngã, rồi họ sẽ bước lên tuyên bố chiến thắng.

Sự ngu xuẩn nhất của chính quyền nhà Nguyên nằm ở chỗ, họ không biết rằng trận đấu này là một cuộc loại trực tiếp, và phần thưởng cho kẻ chiến thắng cuối cùng chính là tư cách quyết chiến với họ!

Khi Chu Nguyên Chương trải qua muôn vàn gian khổ, bước ra từ núi xương sông máu, bò dậy từ xác của Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành, triều đình nhà Nguyên mới kinh hoàng nhận ra, kẻ chiến thắng này còn đáng sợ hơn bất kỳ đối thủ nào trước đây.

Ông có quân đội tinh nhuệ, mưu thần quyết đoán, võ tướng dũng mãnh. Đội quân ông dẫn dắt không còn là kiểu quân khởi nghĩa nông dân dễ dàng bị đánh bại, mà là một đội quân hùng mạnh với sức chiến đấu không hề thua kém họ.

Để cứu vãn vận mệnh, triều đình nhà Nguyên đã dùng đủ mọi cách. Họ gửi vô số vàng bạc châu báu cho Chu Nguyên Chương, hy vọng ông chấp nhận chiêu an, tiếp tục làm nô lệ cho họ.

Thế nhưng họ dần nhận ra, Chu Nguyên Chương trước mắt không chỉ muốn tiền của họ, mà còn muốn mạng của họ.

Trận đấu sắp bắt đầu!

Hãy cùng nhìn qua các tuyển thủ của hai bên. Bây giờ, chúng ta chào đón tuyển thủ nhà Nguyên, Nguyên Thuận Đế ra sân!

Sau đây xin mời Nguyên Thuận Đế dùng một câu để bày tỏ tâm trạng hiện tại.

Nguyên Thuận Đế: "Chỉ còn một câu thôi sao? Vậy ta nói nhé, hy vọng đối phương ra tay nhẹ chút, ta sợ đau."

Bây giờ xin mời tuyển thủ Chu Nguyên Chương nói cảm nghĩ. Ơ, tuyển thủ Chu Nguyên Chương đâu mất rồi?

À, chúng ta tìm thấy ông ấy rồi, ông ấy đang mài đao, vậy chúng ta không làm phiền nữa.

Bây giờ, trận đấu bắt đầu!

"Giới thiệu bối cảnh các tuyển thủ"

Trước đó, chúng ta cần giới thiệu về đối thủ của Chu Nguyên Chương: Nhà Nguyên.

Nhà Nguyên là chính quyền do người Mông Cổ thiết lập. Sự lớn mạnh của Mông Cổ bắt nguồn từ thế kỷ 12. Năm 1206, thủ lĩnh người Mông Cổ là Thiết Mộc Chân thống nhất Mạc Bắc, đánh dấu thời kỳ hoàng kim của Mông Cổ.

Cần phải nói rõ rằng, nhiều người cho rằng sự hùng mạnh của Mông Cổ chỉ bắt đầu sau thời Thiết Mộc Chân, quan điểm này còn gây tranh cãi. Thực tế, sức chiến đấu của người Mông Cổ luôn rất mạnh, họ là những chiến binh bẩm sinh.

Dân tộc hùng mạnh này sở dĩ mãi không bước lên vũ đài lịch sử chỉ vì sự chia rẽ nội bộ. Khi Thiết Mộc Chân giải quyết được vấn đề này, sức tàn phá và năng lực chiến tranh đáng sợ của họ đã trút xuống khắp nơi trên thế giới như cuồng phong bão táp.

Việc một dân tộc văn hóa tiên tiến bị một dân tộc tương đối lạc hậu chinh phục vốn không hiếm trong lịch sử, như sự diệt vong của Tây Tấn và Bắc Tống, nhưng trong đó tồn tại một hiểu lầm. Đó là người ta luôn cho rằng những dân tộc lạc hậu này có thể trở thành kẻ chinh phục là nhờ binh lính dũng mãnh, chứ không phải do cơ cấu quân sự của họ tiên tiến.

Trong mắt những người đó, lũ man di không biết chữ này chỉ dựa vào cái gọi là dũng mãnh để tác chiến, làm sao có thể thắng được các sĩ quan của những dân tộc văn hóa tiên tiến vốn được đào tạo bài bản về lý luận quân sự?

Sự thật chứng minh, họ có thể đã sai.

Sự phát triển của quân sự và kinh tế thường tách rời, câu nói này đã được lịch sử chứng minh nhiều lần.

Chế độ quân sự của Mông Cổ tuy đơn giản nhưng rất thực dụng. Họ không có những cơ quan quan liêu vô dụng như Nam Tống. Khi tác chiến, họ dùng kỵ binh nhỏ lẻ thăm dò, sau đó dùng phương pháp tập kích bất ngờ để đánh vào những điểm yếu của đối phương. Một khi đòn tấn công bị chặn lại, họ lập tức rút lui, rồi tìm cơ hội đột phá từ bên sườn.

Cơ động, đây chính là ưu điểm lớn nhất của quân đội Mông Cổ.

Điều càng khó tin hơn là vũ khí của quân Mông Cổ cũng tiên tiến hơn Nam Tống. Họ đã phát minh ra loại cung đáng sợ nhất thời bấy giờ, tầm bắn lên tới 300 mét, dù giáp dày đến đâu cũng khó lòng chống đỡ. Chỉ có loại Thần Tí Cung được trang bị cho quân đội tinh nhuệ nhất của Nam Tống mới có thể so sánh. Nhưng trong chiến tranh, vũ khí chưa bao giờ là quan trọng nhất, binh lính tác chiến mới là yếu tố quyết định thắng bại.

Đánh trận với người Mông Cổ là một việc rất đau khổ, vì họ không trực tiếp dùng đao kiếm chém giết với đối phương, vũ khí quan trọng nhất của họ chính là cung tên.

Khi bạn đụng độ kỵ binh Mông Cổ, cơn ác mộng của bạn bắt đầu. Trước khi tấn công bắn tên, trong lúc tấn công bắn tên, thậm chí khi họ bỏ chạy vẫn bắn tên. Bạn đuổi không kịp, đánh không trúng, kiểu đánh "vô lại" này có thể khiến người ta phát điên!

Đây cũng là lý do tại sao quân đội Mông Cổ sau này tiến công Đông Âu, những người châu Âu có thể chất khỏe mạnh hơn họ rất nhiều lại bị đánh cho tan tác.

Họ cơ bản đều không phải bị đao kiếm chém chết, mà là bị tên bắn chết.

Một đặc điểm khác của người Mông Cổ mà ai cũng quen thuộc, đó chính là đồ thành (tàn sát cả thành).

Người Mông Cổ đánh từ Đông Á sang Tây Á, rồi tới châu Âu, đi đến đâu cũng áp dụng chiêu này. Việc đồ thành của họ khá đặc trưng, rất đáng nói.

Theo các tài liệu (như Đa Tang Mông Cổ Sử, Nguyên Sử), việc đồ thành của người Mông Cổ không phải do kỷ luật quân đội lỏng lẻo, mà mang màu sắc chính trị rõ rệt (hãy lưu ý đặc điểm này).

Đồ thành là để khiến đối thủ khuất phục.

Trước khi công thành, họ thường sẽ đánh tiếng trước: đầu hàng thì không đồ thành, không đầu hàng thì hậu quả tự biết.

Nhưng sự thất đức của họ nằm ở chỗ, không đầu hàng thì họ chắc chắn đồ thành, nhưng người đầu hàng họ cũng không buông tha. Tại sao vậy?

Đây là để đảm bảo nhu cầu hậu phương. Họ cho rằng, để người ở lại sau lưng mình là không an toàn, nhất định phải giết sạch mới yên tâm (đại ý: quân Mông Cổ không muốn hậu phương có dân cư, để tránh nỗi lo âu phía sau).

Cơn cuồng phong Mông Cổ quét qua toàn cầu, nhưng người châu Âu dường như có tinh thần tự giác hơn. Họ cho rằng bỗng dưng xuất hiện những kẻ khủng bố này là do mình phạm quá nhiều lỗi, Thượng đế dùng roi để dạy dỗ mình, nên họ gọi người Mông Cổ là "Ngọn roi của Thượng đế".

Danh hiệu vinh dự này được trao tặng lần thứ hai trong lịch sử châu Âu, lần đầu tiên dành cho vua Hung Nô là Attila.

Các nhà sử học đã đưa ra một định nghĩa rất chính xác cho hành vi tàn sát này của quân đội Mông Cổ - Chủ nghĩa khủng bố quốc gia.

Quân đội Mông Cổ dường như cũng có một số kẻ rất yêu thích "nghệ thuật sắp đặt", biểu hiện cụ thể là trong các chiến dịch ở Tây Á, họ chặt đầu người bị giết rồi chất thành một ngọn núi hình tam giác.

Ngoài ra, họ cũng có khiếu hài hước đen tối. Ví dụ sau khi chiếm được Baghdad, họ nhốt thủ lĩnh tối cao là Khalifah vào một căn phòng đầy vàng bạc châu báu, để ông ta chết đói.

Họ đã giải quyết vấn đề ăn uống cho hàng chục triệu người trên toàn thế giới, nhưng lại bằng cách tàn khốc nhất - tàn sát!

Đây là một kẻ thù đáng sợ, sức tàn phá của họ cực kỳ kinh người. Ở đây chúng ta liệt kê vài con số.

Những con số này khiến người ta nhìn vào phải rùng mình.

Số liệu dân số còn lại khi Mông Cổ diệt Kim:

Thời hoàng kim của Kim (1207) có 7,68 triệu hộ, khi nhà Nguyên diệt Kim (1235) chỉ còn 870.000 hộ, giảm 89%.

Số liệu dân số còn lại khi Mông Cổ diệt Nam Tống:

Năm Gia Định thứ 16 thời Nam Tống (1223) có 12,67 triệu hộ, khi nhà Nguyên diệt Tống còn lại 9,37 triệu hộ, giảm 26%.

Xem ra, Mông Cổ đối với Nam Tống vẫn còn khá rộng lượng, tất nhiên là có nguyên nhân, chúng ta sẽ nói sau.

Cuộc tấn công của quân Mông Cổ vào các nước Trung Nguyên quả thực rất lợi hại. Diệt nước Tây Hạ mất 22 năm (1205-1227), diệt nước Kim từng càn quét thiên hạ mất 23 năm (1211-1234).

Lúc này, Mông Cổ đã nhận ra sức mạnh đáng sợ của mình, họ chĩa mũi nhọn tiếp theo vào Nam Tống.

Trong mắt họ, nước Kim khỏe mạnh dũng cảm như họ còn không chịu nổi một đòn, huống chi là đám người phương Nam yếu đuối, suốt ngày chỉ biết ngâm thơ vẽ tranh?

Năm Đoan Bình thứ nhất thời Nam Tống (năm 1234), người Mông Cổ chuẩn bị mọi thứ để tấn công Nam Tống.

Họ cho rằng trong vòng mười năm chắc chắn sẽ diệt được Tống.

Nhưng họ không ngờ rằng, trận chiến này kéo dài gần 50 năm, còn phải đánh đổi bằng mạng sống của một vị Đại hãn.

Dưới sự đe dọa đồ thành, những người phương Nam yếu đuối này dường như không hề sợ hãi. Từ Lưỡng Hoài đến Tương Dương rồi đến Tứ Xuyên, không nơi nào không gặp phải sự kháng cự quyết liệt.

Họ đã chịu thất bại lớn nhất tại Hợp Châu.

Tháng 2 năm Bảo Hựu thứ 7 (1259), Đại hãn Mông Ca đích thân dẫn quân tấn công Hợp Châu, Tứ Xuyên. Trận chiến này kéo dài 5 tháng. Thủ tướng Vương Kiên kiên thủ Điếu Ngư Thành, không những đánh lui cuộc tấn công của quân Mông Cổ, mà trong trận chiến còn đả thương Đại hãn Mông Ca.

Tất cả những chuyện này khiến các quý tộc Mông Cổ rất khó hiểu: sức mạnh nào đã hỗ trợ những người yếu đuối này, khiến họ kiên cường đến thế?

Họ quyết tâm tìm ra câu trả lời.

Dù Nam Tống kháng cự quyết liệt, nhưng cuối cùng vẫn không thể ngăn được thiết kỵ của quân Mông Cổ.

Năm 1279, sau khi kháng cự quyết liệt, vị thừa tướng thời chiến cuối cùng của Nam Tống là Lục Tú Phu đã hành lễ với vị hoàng đế nhỏ tuổi Triệu Bính trên biển, nói những lời cuối cùng:

"Đất nước đã đến nước này, bệ hạ cũng đành phải lấy thân mình báo quốc."

Sau đó ông cõng hoàng đế nhảy xuống biển.

Nam Tống diệt vong, nhưng những nghi vấn trong lòng các quý tộc Mông Cổ vẫn chưa được giải đáp.

Lúc này, họ phát hiện mình có thể tìm ra câu trả lời từ một người.

Người này tên là Văn Thiên Tường.

"Đạo nghĩa"

Lúc này Văn Thiên Tường đã ở trong ngục của nhà Nguyên rất lâu. Ông khởi binh vào thời điểm Nam Tống nguy cấp nhất, tổ chức nghĩa quân kháng Nguyên, sau khi thất bại thì bị bắt.

Một người biết rõ không thể làm mà vẫn làm như vậy, chính là đối tượng nghiên cứu lý tưởng của những kẻ thống trị nhà Nguyên. Cái gì đã hỗ trợ ông làm một việc vốn không thể nào thành công?

Thế là, từ thừa tướng đầu hàng của nhà Tống đến hoàng đế, rồi đến thừa tướng, hoàng đế nhà Nguyên, ai ai cũng đến khuyên hàng, nhưng câu trả lời họ nhận được đều như nhau.

Tuyệt đối không đầu hàng!

Trong những lần giao phong hết lần này đến lần khác, các quý tộc Mông Cổ nhận ra, trong lòng người này có một thứ đang nâng đỡ ông.

Thứ đó gọi là đạo nghĩa!

Đạo nghĩa là cái quái gì?

Nhìn không thấy, chạm không được, nhưng các quý tộc Mông Cổ vẫn nắm bắt được một điểm: chỉ cần khuất phục được người này, có thể dựng lên một tấm gương, rằng đạo nghĩa là thứ có thể bị đánh bại.

Thế là họ dùng đủ mọi cách để hành hạ Văn Thiên Tường, từ căn phòng ấm áp tiện nghi đến hầm ngục tối tăm hôi thối, từ mềm đến cứng, không thủ đoạn nào là không dùng.

Nhưng Văn Thiên Tường "ăn mềm không ăn cứng".

Trong môi trường khắc nghiệt, Văn Thiên Tường vẫn kiên trì niềm tin của mình, viết nên tác phẩm thiên cổ - "Chính Khí Ca".

Trong đó có hai câu là sự phản chiếu nội tâm của ông:

"Thời cùng tiết nãi hiện, nhất nhất thùy đan thanh."

(Lúc cùng quẫn khí tiết mới hiển lộ, từng nét đều lưu danh sử sách).

Khí tiết và tôn nghiêm của một người, chính là thể hiện rõ nhất vào lúc khó khăn nhất.

Các quý tộc Mông Cổ hết cách, đành để Hốt Tất Liệt ra mặt.

Hốt Tất Liệt là người đã tiếp nhận giáo dục Hán hóa trong thời gian dài, ông hiểu rõ giết Văn Thiên Tường thì dễ, nhưng chinh phục được niềm tin trong lòng ông mới là khó.

Ông dùng giọng điệu gần như van nài nói với Văn Thiên Tường: "Ngươi là nhân tài thực thụ, hãy ở lại làm tể tướng cho ta đi."

Văn Thiên Tường từ chối ông!

Hốt Tất Liệt khuyên nhủ nhiều lần đều vô hiệu, ông thực sự hết cách, đành hỏi Văn Thiên Tường: "Ngươi muốn làm gì, tự mình nói đi."

Văn Thiên Tường ngẩng đầu nói: "Chỉ cầu được chết!"

Sống tốt không phải tốt sao, tại sao nhất định phải chết? Đạo nghĩa đó quan trọng đến thế sao?

Ông khâm phục người này, nhưng cũng không hiểu nổi ông.

"Thành toàn cho ngươi vậy!"

Năm 1283, Văn Thiên Tường bị áp giải đến pháp trường Đại Đô. Khi ông đến nơi, xung quanh là vô số bách tính, họ sẽ chứng kiến người anh hùng bất khuất này bị xử tử.

Văn Thiên Tường đưa ra câu hỏi cuối cùng trong đời: "Nam là hướng nào?" Lập tức có người dân chỉ cho ông.

Ông quỳ lạy về hướng Nam, rồi ngồi xuống, thản nhiên nói với kẻ hành hình:

"Việc của ta xong rồi."

Ngày hôm đó, Văn Thiên Tường là người chiến thắng thực sự!

Ông dùng dũng khí và quyết tâm của mình nói cho tất cả mọi người biết, trong cuộc chiến cá nhân đối đầu với một quốc gia này, ông mới là người chiến thắng không thể chối cãi!

Đến chết ông cũng không từ bỏ niềm tin của mình!

Những kẻ thống trị nhà Nguyên cuối cùng vẫn không tìm ra câu trả lời.

Thực ra câu trả lời nằm ngay trong "Y đới chiếu" (chiếu thư giấu trong đai áo) của Văn Thiên Tường, đó cũng là di thư của ông:

"Khổng viết thành nhân, Mạnh viết thủ nghĩa, duy kỳ nghĩa tận, sở dĩ nhân chí. Độc thánh hiền thư, sở học hà sự? Nhi kim nhi hậu, thứ kỷ vô quý."

(Khổng Tử nói thành nhân, Mạnh Tử nói lấy nghĩa, chỉ vì làm tròn nghĩa, nên nhân mới đạt tới. Đọc sách thánh hiền, học để làm gì? Từ nay về sau, mong là không hổ thẹn).

Đây thực sự là tuyệt xướng sáng rọi nhật nguyệt, khí thế tráng sơn hà!

Hành vi của Văn Thiên Tường nói cho tất cả mọi người biết, thể xác có thể bị chinh phục, nhưng đạo nghĩa thì không.

Đạo nghĩa này, không chỉ thuộc về mỗi cá nhân, mà còn thuộc về quốc gia, dân tộc của họ.

"Đạo chi sở tại, tuy thiên vạn nhân, ngô vãng hĩ!" (Đạo ở nơi đâu, dù hàng vạn người, ta vẫn cứ đi!).

Chúng ta giới thiệu Văn Thiên Tường không chỉ để giới thiệu sự vĩ đại của ông, mà còn có nguyên nhân quan trọng hơn.

Là một nhân vật điển hình, hành vi và tư tưởng của Văn Thiên Tường rất đáng nghiên cứu. Như đã nói trước đó, nhiều sự việc tưởng chừng không liên quan lại có mối liên hệ rất sâu sắc. Hành vi của Văn Thiên Tường có mối liên hệ mật thiết với sự ra đời của các trung thần và Đông Lâm Đảng thời nhà Minh sau này. Chúng ta sẽ tiết lộ mối liên hệ bí mật và nguyên nhân hình thành của nó trong những bài viết tới.

Và nhà Nguyên trong hoàn cảnh đó đã bắt đầu sự thống trị của mình. Họ không hiểu những người dưới quyền mình đang nghĩ gì, cũng không muốn hiểu, trong khi Văn Thiên Tường lại trở thành một tấm gương, một thần tượng tinh thần của những kẻ bị trị.

Sự thống trị như vậy sẽ không bao giờ vững bền.

Các quý tộc Mông Cổ rất chú trọng giữ gìn đặc điểm dân tộc của mình, họ không chấp nhận Hán hóa, không kết hôn với người Hán (ai mơ lấy Triệu Mẫn thì từ bỏ đi), khoảng cách giữa họ và kẻ bị trị ngày càng lớn, không thể đạt được sự đồng thuận. Thêm vào đó, thỉnh thoảng lại có vài quý tộc gào thét đòi đuổi hết người Hán đi, lấy đất nông nghiệp để nuôi bò cừu. Rất may lúc đó thừa tướng Thoát Thoát đã ngăn cản, ý tưởng ngu xuẩn này mới không thành hiện thực.

Ở đây cần nói rõ, Thoát Thoát này không phải là Thoát Thoát sau này. Thoát Thoát thời đầu Nguyên là một người tốt thực sự, chính vì kiến nghị của ông mà quân đội nhà Nguyên sau khi chiếm được nhiều thành phố đã không tàn sát bừa bãi cư dân địa phương, mà không ngừng phát triển theo hướng văn minh nông nghiệp. Người này thực sự có công lao to lớn.

Nói thêm hai câu, đọc sử nhà Nguyên là một việc rất cực nhọc, tên của họ thường xuyên trùng lặp, động chút là Thiếp Mộc Nhi, Thoát Thoát... Tôi từng viết một bài thơ vè:

"Chỉ đầu giai quải Thiếp Mộc Nhi, đài nhãn vọng khứ tận Thoát Thoát."

(Trên giấy toàn treo Thiếp Mộc Nhi, ngẩng mắt nhìn đi toàn Thoát Thoát).

Chỉ là đùa chút thôi.

Trong đại gia đình nhà Nguyên, gia trưởng dường như không có tình cảm gì với các thành viên, thấy gì vừa mắt là cướp, cứ như cái nhà này vốn không phải của mình. Tình trạng này kéo dài mấy chục năm, hai bên càng nhìn càng thấy ngứa mắt. Đã không ở được với nhau thì chia nhà thôi.

Nhưng vấn đề là người làm việc trong nhà này đều là các thành viên gia đình, rời bỏ họ, những quý tộc Mông Cổ này không thể sống sót. Một bên muốn chia, một bên không cho chia, đành phải sử dụng "bạo lực gia đình".

Thế nhưng những kỵ binh Mông Cổ từng tung hoành thiên hạ này đã chìm đắm trong cuộc sống hưởng lạc, có kẻ đến ngựa còn không biết cưỡi. Ngoài việc bắt nạt những người hầu tay không tấc sắt trong nhà, họ chẳng có bản lĩnh gì khác.

Đến khi những người hầu này cầm dao thái rau và cuốc làm ruộng để phản kháng, những kẻ thống trị từng một thời oai phong sẽ trở nên lúng túng.

Ví dụ như đội quân tinh nhuệ nhất trong quân đội Mông Cổ là quân A Tốc, đội quân này ngay cả trong quân đội Mông Cổ hùng mạnh cũng là hàng xuất sắc, từng lập công lớn. Khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ, họ được phái đi trấn áp. Đội quân này nhận lệnh, lập tức xuất phát, ngày đêm không nghỉ, với tốc độ sét đánh không kịp bưng tai – đi cướp bóc người dân trước.

Nhưng vận đen, sau khi cướp bóc xong, họ vừa vặn đụng độ quân khởi nghĩa. Vừa nhìn thấy cờ hiệu đối phương, thủ lĩnh dẫn đầu liền hét lớn "A Bốc, A Bốc" (chạy mau). Đội quân tinh nhuệ nhất này đã bại lui như vậy, sau khi rút về còn không ngừng nhấn mạnh mình gặp phải quân khởi nghĩa đông gấp nhiều lần nên mới bại lui.

Chính tư chất quân đội như vậy mới khiến quân Nguyên ở giai đoạn đầu khởi nghĩa tỏ ra không chịu nổi một đòn.

Nhưng cùng với sự mở rộng của khởi nghĩa, những kẻ thống trị nhà Nguyên đã nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề. Dòng máu Thành Cát Tư Hãn hồi sinh trong huyết quản họ, họ tái tổ chức quân đội, sức chiến đấu tăng vọt, liên tiếp trấn áp các cuộc khởi nghĩa ở nhiều nơi trên cả nước.

Chỉ cần lên ngựa, chúng ta vẫn là con cháu vĩ đại của Thành Cát Tư Hãn!

Và trong lúc nhà Nguyên lâm vào nguy cấp, cũng xuất hiện một số tướng lĩnh có kinh nghiệm tác chiến phong phú và tài năng quân sự.

Người xuất sắc nhất trong đó tên là Khoát Khoát Thiếp Mộc Nhi.

Ông còn có một cái tên quen thuộc - Vương Bảo Bảo.

Cái tên Khoát Khoát Thiếp Mộc Nhi quá khó đọc, chúng ta cứ gọi ông là Vương Bảo Bảo vậy.

Vương Bảo Bảo là cháu ngoại, cũng là con nuôi của danh tướng nhà Nguyên Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi. Sau khi Sát Hãn bị giết, ông gánh vác sứ mệnh bảo vệ nhà Nguyên và trở thành kẻ thù chính của nhà Minh.

Cái tên này sẽ xuất hiện trong tầm mắt chúng ta trong một thời gian dài.

"Mục tiêu, nhà Nguyên!"

Chu Nguyên Chương cuối cùng cũng có thể làm điều mình muốn: tiêu diệt nhà Nguyên, báo thù cho cha mẹ. Và khẩu hiệu ông đưa ra càng dễ gây được sự cộng hưởng.

"Khu trừ Hồ lỗ, khôi phục Trung Hoa, lập cương trần kỷ, cứu tế tư dân." (Đuổi lũ Hồ lỗ, khôi phục Trung Hoa, lập lại kỷ cương, cứu giúp người dân), đây cũng là suy nghĩ của rất nhiều người lúc bấy giờ.

Chúng ta trích dẫn lời của nhà sử học nổi tiếng Ngô Hàm để mô tả tình thế lúc bấy giờ: "Trong tình cảnh như vậy, tính chất của chiến tranh đã thay đổi, không còn là tính chất đấu tranh giai cấp của Hồng Cân quân ban đầu nữa, mà là một cuộc chiến tranh dân tộc giữa người Hán và người Mông Cổ."

Người Mông Cổ ngày nay tất nhiên là một phần của dân tộc Trung Hoa, nhưng xét theo quan điểm duy vật lịch sử, người thời đó khó có khả năng liên hoan cùng kỵ binh Mông Cổ.

Thực tế là, họ đã chờ đợi ngày này từ rất lâu rồi.

Đúng vậy, lúc đó chính là như thế.

"Bắc phạt bắt đầu"

Tháng 10 năm Chí Nguyên thứ 27 (1367), Chu Nguyên Chương phái đại tướng Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân mang quân Bắc phạt. Cuộc Bắc phạt này có ý nghĩa lịch sử đặc biệt. Đầu thế kỷ 10, Thạch Kính Đường vì vinh hoa phú quý của bản thân đã cắt nhượng vùng đất hiểm yếu phía Bắc là Yên Vân thập lục châu cho người Khiết Đan.

Người này xứng đáng là một trong những tội nhân lớn nhất lịch sử Trung Quốc. Nhân cách vô sỉ, hành vi bỉ ổi, độ dày của mặt mũi không ai địch nổi.

Hành vi này của hắn khiến các vương triều Trung Nguyên từ đó về sau luôn ở thế bị động, không có hiểm địa để phòng thủ trong các cuộc đấu tranh quân sự với các dân tộc du mục. Do Trung Nguyên chủ yếu là bộ binh, còn dân tộc du mục chủ yếu là kỵ binh, sau khi cắt nhượng 16 châu, bộ binh Trung Nguyên phải đối mặt trực tiếp với sự tấn công của kỵ binh trên bình nguyên vạn dặm.

Ở một mức độ nào đó, toàn bộ triều đại nhà Tống đã bị hủy hoại trong tay Thạch Kính Đường, binh lính Trung Nguyên buộc phải dùng xương máu của chính mình để chống lại sự xâm lược của dân tộc du mục. Cho đến khi toàn bộ vương triều Đại Tống sụp đổ.

Bốn trăm năm sau khi Yên Vân thất thủ, Chu Nguyên Chương bắt đầu cuộc Bắc phạt, mở màn cho cuộc chiến thống nhất từ Nam ra Bắc hiếm có trong lịch sử Trung Quốc.

Chu Nguyên Chương lúc này lại đối mặt với lựa chọn mới: nên tấn công như thế nào?

Lúc đó Chu Nguyên Chương đã chiếm được vùng Giang Chiết và Hồ Quảng, nhưng nhà Nguyên vẫn chiếm giữ phần lớn khu vực phía Bắc. Để đạt được mục đích lật đổ nhà Nguyên, phải có một kế hoạch tác chiến rõ ràng.

Chu Nguyên Chương không chọn chiến lược tấn công trực diện vào kinh đô Đại Đô của nhà Nguyên. Ông cho rằng muốn đánh bại hoàn toàn những kẻ thống trị nhà Nguyên, phải chiếm Sơn Đông và Hà Nam trước, sau đó mới tính đến Đại Đô.

Chiến lược này đã chứng minh là đúng đắn, bởi thực lực của nhà Nguyên lúc bấy giờ vẫn còn rất mạnh.

Để cổ vũ sĩ khí quân đội, trước khi xuất chinh, Chu Nguyên Chương đã nói một câu với các tướng sĩ của mình: "Đạo trời ưa báo đáp, Trung Quốc tất có lý lẽ để vươn mình, lòng người hướng về lẽ phải, kẻ phàm phu cũng có mối thù không thể không báo."

Chúng ta có thể hình dung được rằng, hẳn là Chu Nguyên Chương đã phải nghiến răng mà thốt ra câu nói này.

Cuộc Bắc phạt chính thức bắt đầu, chủ tướng là Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân, hai người được mệnh danh là "song bích" của đế quốc Minh, họ đã không phụ sự kỳ vọng của Chu Nguyên Chương. Quân Ngô sau khi trải qua sự tôi luyện của những cuộc chiến tàn khốc đã liên tiếp phá vỡ các tuyến phòng thủ của nhà Nguyên, chỉ trong vòng ba tháng đã chiếm được Sơn Đông.

Quá trình này thực sự không có gì để viết, bởi quân Nguyên quá đỗi yếu ớt, không chịu nổi một đòn.

Trong lòng Vương Bảo Bảo, ông ta không hề coi Chu Nguyên Chương và Từ Đạt ra gì. Theo cách nhìn của ông ta, quân của Từ Đạt cũng chẳng khác nào những đội quân khởi nghĩa nông dân kỷ luật lỏng lẻo, sức chiến đấu kém cỏi mà ông ta từng đánh bại trước đây. Ông ta đem lực lượng chủ lực đi đối phó với Lý Tư Tề - kẻ đang tranh giành quyền lực với mình, mà chỉ giao nhiệm vụ phòng thủ cho em trai là Thoát Nhân Thiếp Mộc Nhi. Vị Thoát Nhân Thiếp Mộc Nhi này tuy cũng là một vị tướng không tệ, nhưng so với những nhân vật siêu đẳng như Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân thì vẫn còn kém rất xa.

Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đã dùng hành động quân sự của mình để dạy cho ông ta một bài học về lý luận quân sự. Khi ông ta còn chưa kịp định thần tại Tế Nam, thì đã phát hiện ra vùng Sơn Đông mà mình trấn thủ đã cắm đầy cờ của quân Ngô.

Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân không dừng lại một khắc nào, từ Sơn Đông xuất phát, chia quân làm hai đường tiến đánh Hà Nam. Tại đây, họ đã gặp phải sự kháng cự ngoan cường nhất trên chặng đường Bắc phạt.

Trấn thủ tại đây là Lương Vương A Lỗ Ôn của nhà Nguyên, ông ta là một vị tướng khá có năng lực. Trong thời khắc nguy cấp, ông ta nhận định đúng tình hình, tập hợp năm vạn quân, dàn trận ở bờ bắc sông Lạc Thủy, đợi chờ địch quân đến.

Phải nói rằng, ông ta đã chiếm được một vị trí rất tốt. Địa hình thuận lợi này mang lại cho ông ta hai ưu thế: nếu địch quân dám cưỡng ép tấn công, ông ta sẽ tập hợp quân đội đánh vào lúc nửa chừng qua sông, khiến địch không kịp trở tay; hơn nữa, dù tác chiến bất lợi thì cũng thuận tiện cho việc rút lui chạy trốn.

Thực tế đã chứng minh, ông ta quả thực đã tận dụng triệt để một trong hai ưu thế của địa hình, tất nhiên, không phải là ưu thế thứ nhất.

Khi quân Từ Đạt đến sông Lạc Thủy, họ không hề do dự như quân Mông Cổ tưởng tượng, mà ngay lập tức phát động tấn công. Người tổ chức cuộc tấn công đó chính là Thường Ngộ Xuân, vị tướng luôn làm tiên phong.

Ông dẫn quân vượt sông Lạc Thủy nhanh như bay. Quân Nguyên đang ngơ ngác còn chưa kịp tổ chức đội hình thì thanh đao thép của Thường Ngộ Xuân đã kề tận cổ họ. Thế là "địch đại bại, đuổi theo hơn năm mươi dặm". Lương Vương A Lỗ Ôn bị bắt làm tù binh.

Lúc này Vương Bảo Bảo mới nhận ra, đối thủ trước mặt mình đáng sợ đến nhường nào.

Nhưng đã quá muộn.

Ngay khi Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân xuất chinh Sơn Đông, đại phá quân Nguyên, thì một triều đại mới đã tuyên bố sự ra đời của mình tại Ứng Thiên.

Ngày mùng bốn tháng Giêng năm 1368, Chu Nguyên Chương tuyên bố lên ngôi Hoàng đế tại Ứng Thiên, đặt niên hiệu là Hồng Vũ, quốc hiệu là Minh!

Tất nhiên, trước đó nhất định phải có một nhóm đại thần khuyên Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế, và phản ứng của Chu Nguyên Chương đương nhiên cũng vô cùng ngạc nhiên, rồi liên tục từ chối.

Các đại thần chắc chắn sẽ không bỏ cuộc, thế là người dập đầu thì dập đầu, người đòi chết thì đòi chết (tất nhiên chỉ là nói suông), giống như thể nếu Chu Nguyên Chương không làm Hoàng đế thì họ không sống nổi vậy.

Để các đại thần không phải đau lòng và cứu vãn những vị đại thần muốn tìm cái chết kia, Chu Nguyên Chương đành phải "miễn cưỡng" lên ngôi.

Tất nhiên, cuối cùng còn phải nói thêm vài câu kiểu như "Ta là bị ép buộc, tất cả là do các người ép ta". Chú ý rằng khi nói những câu này, trên mặt nhất định phải lộ ra vẻ vô cùng đau khổ, giống như thể sắp bị lôi đi chém đầu vậy.

Trò diễn này trong lịch sử chắc hẳn mọi người cũng đã quen mắt, xã hội phong kiến xưa nay vẫn luôn như vậy. Nhưng trò này nếu không diễn thì cũng không được, mọi người đều có nhu cầu riêng: đại thần diễn xong thì có thể thăng quan phát tài, Chu Nguyên Chương diễn xong thì có thể làm Hoàng đế, có thể nói là đôi bên cùng có lợi.

Dù chúng ta có coi thường trò diễn này đến đâu, thì sự thật về việc triều đại được thành lập và ảnh hưởng sâu rộng của nó đối với lịch sử là có thật.

Ngay trong ngày hôm đó, triều Minh được thành lập. Nó sẽ tồn tại suốt hai trăm bảy mươi sáu năm với phương thức sinh tồn độc đáo của riêng mình, và mở rộng ảnh hưởng đến tận mỗi chúng ta.

Sự huy hoàng và vinh quang của nó là thứ mà mỗi chúng ta đều sở hữu.

Sự đen tối và xấu xa của nó là thứ mà mỗi chúng ta đều phải gánh chịu.

Ngày mùng bốn tháng Giêng năm 1368, cái ngày này sẽ mãi mãi được lịch sử khắc ghi. Trong ngày hôm đó, một triều đại vĩ đại đã được thành lập.

Cậu bé chăn bò Chu Nguyên Chương ngồi trên ngai vàng của mình, nhìn văn võ bá quan quỳ dưới chân, lòng trăm mối ngổn ngang.

Ông không ngờ rằng, vị trí này lại thuộc về chính mình. Thực ra ban đầu thứ ông yêu cầu chỉ là một bát cơm no, một mái nhà, một người vợ, nếu may mắn thì có thêm một con bò để giúp ông cày cấy.

Thế nhưng sự tàn khốc của thực tại đã ép ông phải chọn con đường gian khổ này. Trên con đường đó không có ai có thể đồng hành cùng ông, thứ duy nhất ông có thể tin tưởng và dựa vào, chỉ có chính bản thân mình.

Nếu cho ta chọn lại một lần nữa, nếu lúc đó ta có thể ăn no, có thể sống sót, liệu ta có còn chọn con đường này không?

Những điều này đã không còn ý nghĩa nữa. Cậu bé chăn bò Chu Nguyên Chương, không, chúng ta nên gọi ông là Hoàng đế Chu Nguyên Chương, ông hiểu rất rõ:

Đã bước lên con đường này, thì không thể quay đầu lại!

Ở đây, chúng ta cũng cần nhắc đến Hàn Lâm Nhi. Vị "Hoàng đế" trước đây của Chu Nguyên Chương hiện giờ đang ở đâu?

Ông ta đã chìm dưới đáy sông được một năm rồi.

Năm 1367, Hàn Lâm Nhi đi thuyền đến Ứng Thiên, do tướng dưới quyền Chu Nguyên Chương là Liêu Vĩnh Trung đón tiếp. Kết quả là trên đường đi xảy ra tai nạn giao thông, thuyền đắm. Sau sự việc, Liêu Vĩnh Trung thừa nhận là do mình làm. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, liệu ông ta có nhận được chỉ thị của Chu Nguyên Chương hay không?

Tôi cho rằng khả năng này là rất lớn. Chu Nguyên Chương giữ lại Hàn Lâm Nhi chỉ để "ép thiên tử ra lệnh chư hầu", nhưng khi ông tiêu diệt được Trần Hữu Lượng và Trương Sĩ Thành, thì một cục diện khó xử đã xuất hiện.

Chư hầu đều không còn nữa, cần thiên tử để làm gì?

Chu Nguyên Chương sau đó từng phân trần, nói rằng mình vốn không có ý đó, là do Liêu Vĩnh Trung tự ý làm càn, hơn nữa còn công khai chỉ trích ông ta, nói rằng nếu không phải ngươi tự ý làm chuyện này, thì với công lao của ngươi, ta vốn đã phong ngươi làm Công tước, giờ để trừng phạt ngươi, chỉ phong làm Hầu tước.

Đây quả thực là chuyện lạ đời, với công lao của Liêu Vĩnh Trung, làm sao có thể so với Từ Đạt, Lý Văn Trung mà đòi phong Công tước? Cho ngươi cái tước Hầu là tự thấy vui mừng đi thôi.

Dù thế nào đi nữa, Chu Nguyên Chương đã đạt được tất cả những gì mình muốn.

Mọi chuyện vẫn chưa kết thúc, Chu Nguyên Chương vẫn còn một kẻ địch nữa, chỉ có tiêu diệt được kẻ địch này, ông mới có thể trở thành chủ nhân thực sự của Hoa Hạ!

Sau khi chiếm lĩnh thành công Sơn Đông và Hà Nam, quân Minh tiến về mục tiêu cuối cùng là Đại Đô (nay là Bắc Kinh). Đại Đô là thủ đô của nhà Nguyên, cũng là trung tâm thống trị của người Mông Cổ, chỉ cần chiếm được Đại Đô là có thể tuyên bố sự diệt vong của nhà Nguyên.

Điều này không nghi ngờ gì là cực kỳ hấp dẫn.

Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân là những người may mắn, họ nhận được nhiệm vụ có thể lưu danh sử sách này.

Ngày 27 tháng 7 năm Hồng Vũ thứ nhất (1368), quân Từ Đạt công phá Thông Châu, áp sát Đại Đô, mục tiêu đã ở ngay trước mắt!

Đại Đô với tư cách là trung tâm của nhà Nguyên, thành trì vô cùng kiên cố, hơn nữa trong thành có lượng lớn quân đội và lương thực, đủ để cố thủ hơn một năm. Mà nghiêm trọng hơn là, ngay tại Thái Nguyên không xa Đại Đô, mười vạn đại quân do Vương Bảo Bảo thống lĩnh đang nhìn chằm chằm, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng cần vương.

Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đã đánh giá đầy đủ các khó khăn, chuẩn bị sẵn sàng cho nhiều tình huống, đến ngày mùng 2 tháng 8 mới chính thức bao vây Đại Đô.

Thế nhưng điều khiến họ kinh ngạc là, ở đây không có đại quân trấn giữ, cũng không có Hoàng đế nhà Nguyên. Vị nhân huynh này vừa nghe tin, ngày 28 tháng 7 đã dẫn theo vợ con bỏ chạy.

Xem ra kẻ sợ chết quả thực không ít.

Khi Từ Đạt phi ngựa lao vào cửa Tề Hóa, ông không hề nhận ra rằng, mình đã để lại một dấu ấn đậm nét trong lịch sử.

Vùng Yên Vân - nơi mà chính quyền Trung Nguyên đã đánh mất suốt bốn trăm năm - cuối cùng cũng được thu hồi. Từ nay về sau, nó giống như cánh tay của người mẹ bảo vệ đứa con mình, chống lại sự xâm lược của các dân tộc du mục. Dưới sự che chở của nó, nhà Minh có được thời gian và môi trường để phát triển chính trị, kinh tế, đóng góp to lớn cho sự phát triển và tiếp nối của dân tộc Trung Hoa.

Sau thời Thịnh Đường, trải qua bốn trăm năm chiến loạn, chính quyền Trung Nguyên cuối cùng đã thực sự và hoàn toàn nắm quyền thống trị vùng đất này. Trên mảnh đất này, dưới sự bảo vệ của vương triều Minh, nông dân chăm chỉ cày cấy, thương nhân ngược xuôi buôn bán, lực lượng sản xuất tiên tiến không ngừng phát triển về phía trước.

Đây là công trạng bất hủ của lịch sử!

Vinh quang thuộc về Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, và càng thuộc về Chu Nguyên Chương!

Dù những việc Chu Nguyên Chương làm là đúng hay sai, và dù hậu thế có đánh giá ông như thế nào, thì vinh quang thuộc về ông không ai có thể tước đoạt, công lao bất hủ của ông không ai có thể phủ nhận!

Chu Nguyên Chương, lịch sử sẽ chứng minh sự vĩ đại của ông!

Chúng ta cần nói rõ một chút, Hoàng đế nhà Nguyên lúc bấy giờ tên là Thỏa Hoan Thiếp Mộc Nhi, thụy hiệu là Nguyên Huệ Tông. Danh xưng "Nguyên Thuận Đế" không phải do nhà Nguyên đặt cho ông, mà là một sự mỉa mai của nhà Minh đối với vị Hoàng đế vong quốc này. Chu Nguyên Chương trong điểm này khá là có khiếu hài hước, bởi vì ông ta đã từ bỏ thành Đại Đô kiên cố để chọn cách bỏ chạy, nhà Minh cho rằng ông ta "thuận theo ý trời", nên gọi là Nguyên Thuận Đế.

Nguyên Thuận Đế sau khi rời khỏi Đại Đô đã chạy đến Thượng Đô (nay là Khai Bình, nằm trong địa phận chính lam kỳ Nội Mông), tiếp tục làm Hoàng đế của mình. Lịch sử gọi đó là Bắc Nguyên, thời đại nhà Nguyên với tư cách là một chính quyền thống nhất toàn quốc đã kết thúc.

Triều đại nhà Nguyên đã diệt vong, nhưng đối với Chu Nguyên Chương và các tướng lĩnh của ông, thử thách mới chỉ bắt đầu.

Cuộc đối đầu thực sự, Vương Bảo Bảo!

Sau khi triều Nguyên thống trị toàn quốc diệt vong, quý tộc Mông Cổ vẫn mưu toan quay lại làm chủ Trung Nguyên, không ngừng tổ chức lực lượng phản công. Tình thế lúc bấy giờ đối với Chu Nguyên Chương không hề lạc quan.

Lúc này Vương Bảo Bảo dẫn hơn mười vạn quân, chiếm giữ Sơn Tây, Cam Túc. Thừa tướng Nạp Cáp Xuất dẫn hơn hai mươi vạn quân trấn giữ Liêu Đông. Mà Vân Nam vẫn còn hơn mười vạn quân Nguyên, thậm chí Cao Ly (nay là Triều Tiên) cũng vẫn phục tùng sự thống trị của nhà Nguyên.

Điều này giống như việc Chu Nguyên Chương đang ngủ mà xung quanh đứng đầy những kẻ cầm đại đao và gậy dài, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng giáng cho ông một đòn.

Trong tình cảnh đó, Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân lại bắt đầu tiến công, lần này mục tiêu của họ chính là Vương Bảo Bảo.

Quân Nguyên lúc này cuối cùng cũng biết đau mà sửa mình, tổ chức lại quân đội. Nguyên Thuận Đế cũng nhận ra thực lực của Vương Bảo Bảo, giao toàn bộ quyền chỉ huy quân sự cho ông ta. Vương Bảo Bảo cuối cùng đã đạt được quyền binh mà mình hằng ao ước, ông sẽ danh chính ngôn thuận dẫn dắt quân Nguyên tinh nhuệ quyết chiến với vị danh tướng số một nhà Minh là Từ Đạt.

Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân sau khi chiếm được Đại Đô, chia quân làm hai đường. Thường Ngộ Xuân nam hạ Bảo Định, từ đường phía bắc tấn công Sơn Tây.

Đội quân của Từ Đạt tiến quân Chương Đức, từ đường phía nam tấn công. Họ chuẩn bị hợp kích Vương Bảo Bảo tại Thái Nguyên để tiêu diệt gọn. Do tiên phong số một là Thường Ngộ Xuân trở thành thống soái quân đường phía bắc, nên tiên phong của quân Từ Đạt do Thang Hòa đảm nhiệm. Vị bạn cũ này của Chu Nguyên Chương rất muốn giành công đầu, ông đã tự ý tiến quân mà không có sự cho phép của Từ Đạt, công chiếm Trạch Châu. Trong mắt ông, việc chiếm được Sơn Tây đã ở ngay trước mắt!

Thực tế đã chứng minh, họ đã coi thường Vương Bảo Bảo quá mức.

Vương Bảo Bảo chính là đang đợi thời khắc này. Ông lợi dụng việc Thang Hòa đơn độc tiến quân quá sâu, đêm khuya tập hợp đại quân tập kích Thang Hòa tại Hàn Điếm, Sơn Tây. Quân Minh do Thang Hòa chỉ huy đại bại, thương vong hàng ngàn người.

Quân Từ Đạt lâm vào cảnh khốn đốn, đây là lần giao tranh đầu tiên của ông với đối thủ cũ Vương Bảo Bảo sau này.

Lúc này, Nguyên Thuận Đế bỗng nhiên không còn "thuận" nữa. Sau khi trở về Thượng Đô, ngày nào cũng chỉ thấy thảo nguyên và sa mạc, ông thấy vẫn là thành phố lớn tốt hơn. Ông có chút hối hận, tại sao mình lại bỏ chạy khỏi Đại Đô. Thắng lợi ở Hàn Điếm cổ vũ ông, xem ra quân Minh cũng chẳng đáng sợ. Thế là ông ra lệnh cho Vương Bảo Bảo tập hợp chủ lực, bắc xuất Cư Dung Quan, thu phục Đại Đô!

Vương Bảo Bảo sau khi chuẩn bị và lên kế hoạch chu đáo, dẫn mười vạn đại quân tấn công Đại Đô. Nhưng trong lòng ông có hai tính toán: nếu Từ Đạt không đến cứu, ông sẽ nhân cơ hội chiếm lấy Đại Đô, đón Nguyên Thuận Đế quay về. Nếu Từ Đạt đến cứu, ông sẽ lấy nhàn hạ đợi mệt mỏi, đặt bẫy phục kích Từ Đạt.

Đây là một kế hoạch vạn vô nhất thất, dù Từ Đạt chọn con đường nào, ông cũng là người chiến thắng.

Thế nhưng Từ Đạt lại chọn con đường thứ ba, một con đường khiến ông dở khóc dở cười.

Từ Đạt sau khi nhận được tin Vương Bảo Bảo tấn công Đại Đô, đã bình tĩnh phân tích tình hình. Ông nhìn thấu ý đồ của Vương Bảo Bảo, quyết định cho ông ta một bất ngờ không tưởng.

Ngươi không phải muốn đánh Đại Đô sao, ta sẽ đánh Thái Nguyên của ngươi!

Từ Đạt cho rằng Đại Đô có đại quân trấn giữ, hơn nữa thành trì kiên cố, không đáng lo ngại. Lùi một vạn bước mà nói, dù có mất, chiếm lại là được, vẫn đền bù được. Còn Vương Bảo Bảo thì khác, ông ta dốc toàn lực ra ngoài, Thái Nguyên trở thành thành trống, mà chủ lực quân Minh lại ở rất gần Thái Nguyên. Nếu Vương Bảo Bảo mất Thái Nguyên, chỉ có thể ra ngoài quan chăn cừu. Thế là ông dẫn kỵ binh đêm ngày không nghỉ, đánh thẳng vào Thái Nguyên.

Thực ra mục tiêu của Từ Đạt cũng không phải là Thái Nguyên, mà là Vương Bảo Bảo. Ông tin rằng Vương Bảo Bảo chắc chắn sẽ rút quân về cứu.

Quả nhiên, Vương Bảo Bảo nhận được tin này vô cùng kinh ngạc, lập tức dẫn mười vạn kỵ binh quay về cứu Thái Nguyên. Tốc độ phản kích của ông cực kỳ nhanh, và đã chạm trán Từ Đạt gần Thái Nguyên.

Lúc này quân của Từ Đạt chủ yếu là kỵ binh, còn đại quân bộ binh vẫn chưa kịp đến, số lượng binh sĩ chỉ bằng một nửa Vương Bảo Bảo.

Hai đội kỵ binh cứ như vậy gặp nhau, đây cũng là cuộc giao tranh quy mô lớn đầu tiên giữa kỵ binh của chính quyền Trung Nguyên với kỵ binh Mông Cổ tung hoành thiên hạ.

[Làm thế nào để chiến thắng kỵ binh]

Từ xưa đến nay, kỵ binh luôn là một trong những binh chủng có sức mạnh nhất. Nhờ có ngựa, bộ binh vốn yếu ớt đã trở thành đội quân có tính đột kích và cơ động cao. Nhưng không may là trong lịch sử Trung Quốc, ngoại trừ một vài triều đại, lực lượng quân sự chủ yếu vẫn là bộ binh. Điều này khiến họ phải chịu thiệt thòi lớn khi đối mặt với kỵ binh.

Nhưng kỵ binh không phải là không thể chiến thắng. Thực tế đã chứng minh, bộ binh hạng nặng của La Mã cổ đại có thể dùng trận pháp giáo dài để khắc chế kỵ binh. Thế nhưng người Trung Quốc xưa nay không có thói quen mặc bộ giáp nặng vài chục cân, hơn nữa thời đó không có cơ chế giao lưu Trung-Tây. Người Trung Quốc có cách của người Trung Quốc, họ không ngừng nghiên cứu phương pháp dùng bộ binh chế ngự kỵ binh, một trong những người thành công là Gia Cát Lượng.

Quân Thục dưới sự thống trị của ông là cơn ác mộng của quân đoàn Tào Tháo.

Ông đã phát minh ra một số vũ khí để khắc chế kỵ binh. Đầu tiên là "bàn mã đinh" (đinh cản ngựa), thứ này được thiết kế độc đáo, bất kể bạn ném xuống đất thế nào, luôn có một mặt đinh sắt hướng lên trên. Trước khi đánh trận, rải trên địa hình mà kỵ binh sắp lao tới, khi kỵ binh đến, móng ngựa sẽ bị đâm nát. Cách sử dụng tương tự như những người bán hàng sửa xe đạp ngày nay rải đinh lên đường. Tất nhiên, điểm khác biệt duy nhất là sau khi ngựa bị đâm, sẽ không có ai giúp bạn vá lại.

Chiêu thứ hai là xe gỗ, quân đội của Gia Cát Lượng đều được trang bị xe gỗ, khi phát hiện kỵ binh thì dùng xe gỗ chắn trước bộ binh để cản đòn xung kích của kỵ binh, cũng có thể coi là bộ đội "cơ giới hóa bằng gỗ".

Chiêu hiểm nhất là chiêu thứ ba, cũng là phát minh kỳ diệu nhất của Gia Cát Lượng: Liên nỗ (nỏ liên thanh), thứ này tuyệt đối là súng máy thời bấy giờ. Theo ghi chép sử liệu, loại nỏ này một lần bắn mười phát, sức sát thương cực lớn, vì thế kỵ binh quân Ngụy thời đó rất sợ giao tranh với quân Thục.

Nhưng phương pháp này tính thao tác quá cao, hơn nữa không thích hợp để tấn công, nên phạm vi sử dụng không lớn.

Đến thời Tống, trong cuộc chiến với Tây Hạ và Liêu, do bộ binh lâu ngày không thắng nổi kỵ binh, để thay đổi cục diện bị động này, không biết vị thiên tài nào vỗ đầu nghĩ ra cách dùng vài ngàn bộ binh tạo thành phương trận lớn, còn đặt tên gọi mỹ miều là "Dĩ bộ chế kỵ" (Dùng bộ binh chế ngự kỵ binh).

Ra trận giao phong, kết quả là đánh cũng không đánh được, chạy cũng không chạy thoát. Mãi cho đến khi vị tướng thiên tài Nhạc Phi xuất hiện và thành lập đội kỵ binh chuyên nghiệp "Nhạc gia quân", chính quyền Trung Nguyên mới được một lần ngẩng cao đầu, chống đỡ được sự tấn công của kỵ binh nhà Kim.

Đến thời Nguyên, quân Mông Cổ vốn khởi nghiệp bằng kỵ binh đã phát triển chiến thuật kỵ binh đến mức cực hạn, và dựa vào chiến thuật này để càn quét thiên hạ. Họ tự hào cho rằng, chỉ cần mình có ngựa, thì không cần lo lắng sự thống trị của mình bị lật đổ.

Thế nhưng ngay khi kỵ binh Mông Cổ đang hùng hổ gầm rú lao qua quan lộ, dân chúng người Nam hai bên chỉ biết cúi đầu né tránh, những cái đầu cúi xuống đó không chỉ suy nghĩ xem nên trốn đi đâu, mà rất nhiều người trong số họ tin chắc rằng, nhất định có cách để đánh bại những kỵ binh này, nhất định là có cách.

Thực ra cách làm rất đơn giản, chỉ là thực hiện thì vô cùng khó khăn.

[Xung kích! Kỵ binh đối đầu kỵ binh]

Nhìn lại các vương triều Trung Nguyên cường thịnh trong lịch sử, đều có một đội kỵ binh hùng mạnh, và triều Minh lúc bấy giờ cũng vậy. Từ Đạt và Thường Ngộ Xuân đều là những vị tướng kỵ binh vô cùng lợi hại. Họ điều phối kỵ binh linh hoạt, chọn hướng đột phá chính xác, việc sử dụng kỵ binh đã đạt đến mức độ thuần thục.

Trong hơn chín mươi năm bị nhà Nguyên thống trị, người dân Trung Nguyên không ngừng học hỏi từ kẻ thù - kỵ binh Mông Cổ - về cách sử dụng kỵ binh cũng như chiến thuật chiến thắng kỵ binh.

Sau thời gian dài tích lũy và chờ đợi, những người cầm vũ khí đứng lên kháng chiến cuối cùng cũng bước ra sân khấu, quyết chiến với thầy dạy kỵ binh của mình là quân đội Mông Cổ. Và Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân chính là những đại diện ưu tú nhất trong số đó.

Hiện tại, họ đang đối mặt với vị tướng dũng mãnh nhất của quân đội Mông Cổ là Vương Bảo Bảo.

Ngày 1 tháng 12 năm Hồng Vũ thứ nhất (1368), Từ Đạt dẫn kỵ binh quân Minh đến dưới thành Thái Nguyên, đối đầu với quân Vương Bảo Bảo vừa quay về cứu viện ở bên ngoài thành. Nhưng do binh lực không bằng Vương Bảo Bảo, Từ Đạt vẫn không phát động tấn công. Vương Bảo Bảo không biết đối phương đang giở trò gì, mình đã kịp thời đến nơi, mục đích tập kích Thái Nguyên của Từ Đạt không đạt được, nhưng hắn lại không đánh cũng không rút, thực sự không thể hiểu nổi, vì thế một thời gian ông cũng không dám manh động.

Ngày 4 tháng 12, Thường Ngộ Xuân sau ba ngày quan sát và suy nghĩ đã nói lên ý kiến của mình với Từ Đạt: "Kỵ binh ta tuy đã tập hợp, nhưng bộ binh vẫn chưa tới, nếu giao chiến ngay tất sẽ thương vong nhiều, chi bằng đêm tối tập kích doanh trại địch."

Ý kiến này không nghi ngờ gì là hoàn toàn đúng đắn, Thường Ngộ Xuân quả thực là một danh tướng đời đời, tầm nhìn độc đáo, phán đoán chính xác. Dường như trời giúp Từ Đạt, đúng lúc này, tướng giữ Thái Nguyên là Hốt Tị Mã phái sứ giả đến đầu hàng, và bày tỏ sẵn sàng làm nội ứng (đây hẳn nên tính là một tên Hán gian).

Mọi thứ đã chuẩn bị sẵn sàng, ngựa đã cho ăn no, đao đã mài sắc, chỉ chờ đêm xuống là ra tay.

Đêm hôm đó, Vương Bảo Bảo không ngủ (tính là ông ta may mắn), người ham học hỏi này lúc bấy giờ đang ngồi trong doanh trại thắp nến đọc binh thư, bỗng nghe bên ngoài tiếng hô hoán vang trời. Ông biết tình hình không ổn, quyết đoán ngay lập tức, kiên quyết chạy trốn. Khi chạy trốn vô cùng thảm hại, chân không đi giày chạy ra khỏi doanh trại, vội vã nhảy lên ngựa rồi phi thẳng ra ngoài.

Bạn hỏi mười vạn đại quân đó làm sao? Đến giày của ta còn không cần nữa, thì cần quân đội làm gì? Có thể thấy danh tướng chính là danh tướng, biết cân nhắc lợi hại, dù sao mạng sống của mình vẫn là quan trọng nhất, cái gọi là ngàn quân dễ được, một tướng khó tìm mà.

Thế nhưng mười vạn đại quân đó không có chủ soái, giống như ruồi mất đầu, bốn vạn người bị tiêu diệt, số còn lại đều tan tác bỏ chạy. Vương Bảo Bảo dưới sự bảo vệ của đội cận vệ chạy một mạch hơn trăm dặm, nhưng Thường Ngộ Xuân không hề buông tha cho ông.

Thường Ngộ Xuân hiểu rõ đạo lý "trừ ác phải tận gốc", đêm khuya xuất kích. Vương Bảo Bảo kêu khổ không thấu, vừa chạy vừa đánh, đến khi chạy đến Đại Đồng, bên cạnh ông chỉ còn lại mười tám thị vệ. Còn Thường Ngộ Xuân đuổi theo một mạch đến Hân Châu mới rút quân về.

Đây là một trận tiêu diệt thực sự, cũng là thắng lợi lớn đầu tiên của kỵ binh Trung Nguyên đối với kỵ binh Mông Cổ.

〖Trăng đen nhạn bay cao,

Thiền Vu đêm trốn chạy.

Muốn đem kỵ binh đuổi,

Tuyết đầy cung cùng đao!〗

Sau khi chiếm được Sơn Tây, Từ Đạt dẫn quân tiếp tục tiến đánh Thiểm Tây. Thiểm Tây lúc này do lực lượng vũ trang của các địa chủ như Lý Tư Tề và Trương Lương Bật trấn giữ. Trong lịch sử Trung Quốc, do vấn đề địa hình, phàm là từ Sơn Tây tấn công Thiểm Tây đều cực kỳ gian khổ, khó mà chiếm được. Từ thời nước Tần giữ cửa Hàm Cốc chống sáu nước, cho đến sau này khi người Nhật xâm lược Trung Quốc, họ đã dốc hết sức bình sinh nhưng vẫn không thể đặt chân vào Thiểm Tây một bước.

Nhưng lần này tình hình lại khác.

Lý Tư Tề trải qua trăm trận chiến, nhưng ông không muốn đánh trận. Ông tổ chức quân đội chống lại quân khởi nghĩa, nói cho cùng cũng chỉ là sợ những kẻ "chân lấm tay bùn" kia cướp mất lương thực nhà mình. Vì vậy khi quân Từ Đạt tấn công, ông lùi lại hết lần này đến lần khác, lùi thẳng đến Lâm Thao, cảm thấy trò diễn đã đủ, có lời giải thích với nhà Nguyên rồi, liền đầu hàng. Còn Trương Lương Bật và em trai là Trương Lương Thần có thể nói là không biết thời thế, trước hàng sau phản, cố thủ Khánh Dương, sau bị Từ Đạt dẹp tan, cuối cùng cũng không gây ra sóng gió gì lớn.

Đến đây, Thiểm Tây và Sơn Tây đã bình định, phần lớn khu vực phía Bắc đã rơi vào tay quân Minh, chuẩn bị sẵn sàng cho trận quyết chiến với nhà Nguyên sau này.

Vương triều mới đối với vương triều cũ luôn có thói quen "nhổ cỏ tận gốc", như tàn quân Nam Tống chạy đến Nhai Sơn (nay là Tân Hội, Quảng Đông), quân Nguyên vẫn không buông tha, ép họ ra biển rồi tiêu diệt sạch. Thế sự xoay vần, giờ đây đến lượt Chu Nguyên Chương.

Nguyên Thuận Đế vốn không thích vùng Thượng Đô (Khai Bình) hoang vu, ông ta muốn quay về Đại Đô (Bắc Kinh), thế nhưng Chu Nguyên Chương thậm chí còn chẳng muốn để ông ta ở lại Thượng Đô nữa.

Tháng 6 năm Hồng Vũ thứ hai, Thường Ngộ Xuân xuất binh bắt đầu cuộc Bắc phạt, nhưng ông không ngờ rằng, đây lại là lần xuất chinh cuối cùng của đời mình.

Cùng xuất chinh với ông là Lý Văn Trung, hai người dẫn theo tám vạn bộ binh, một vạn kỵ binh bắt đầu chuyến viễn chinh này. Dưới lối đánh tập kích đặc trưng của Thường Ngộ Xuân, quân Nguyên không chịu nổi một đòn. Quân Bắc phạt trước tiên tấn công Cẩm Châu, đánh bại tướng Nguyên là Giang Văn Thanh, sau đó đánh Toàn Ninh, đánh bại Thừa tướng nhà Nguyên là Dã Tốc. Quân đội không hề dừng lại, tiếp tục tiến đánh Đại Hưng Châu, đánh bại quân Nguyên và bắt sống Thừa tướng nhà Nguyên là Thoát Hỏa Xích.

Chỉ trong vòng một tháng ngắn ngủi, tuyến phòng thủ mà quân Nguyên dày công thiết lập, được rêu rao là có thể chống đỡ trong hai mươi năm, trước mặt Thường Ngộ Xuân lại yếu ớt như đậu phụ. Vị tiên phong số một của nhà Minh này trong trận chiến cuối cùng của cuộc đời đã phô diễn trọn vẹn uy lực sắc bén không thể ngăn cản. Ông dẫn kỵ binh phi nước đại, áp sát Thượng Đô!

Lúc này Nguyên Thuận Đế đang ở Thượng Đô, nghe tin quân Minh kéo đến, ông ta phát huy triệt để sở trường của mình - đó là chạy trốn, dắt díu vợ con bỏ trốn trong đêm. Ông ta chạy một mạch đến Ứng Xương (nay là hồ Đạt Lai Nào Nhĩ, Nội Mông), bộ dạng vô cùng nhếch nhác. Trên đường tháo chạy, chắc hẳn ông ta đã thấm thía được tâm trạng của các bậc quân chủ nhà Tống một trăm năm về trước. Và sự thật sau đó đã chứng minh, đây không phải là lần cuối cùng ông ta phải "dọn nhà".

Thường Ngộ Xuân vốn là người đánh đuổi tận cùng, ông truy kích mấy chục dặm, giết chết Tông vương Khánh Sinh và Bình chương Đỉnh Châu. Trận này còn bắt sống hàng vạn binh sĩ Mông Cổ. Trong lúc đánh trận, Thường Ngộ Xuân cũng không quên "thu hoạch", ông mang toàn bộ gia sản của Nguyên Thuận Đế là ba ngàn con ngựa, năm vạn con bò về.

Trận chiến này không hề có hồi hộp, cũng chẳng có giao tranh kịch liệt. Điều này không phải vì quân Nguyên yếu đuối, mà là do Thường Ngộ Xuân quá nhanh. Ông giống như một kiếm khách cao cường, tay cầm lợi kiếm, khi đối thủ còn chưa kịp phản ứng, ông đã đâm thẳng vào tim địch! Đối thủ như vậy quả thực quá đáng sợ.

Thường Ngộ Xuân thắng trận trở về, khi đi ngang qua Liễu Hà Xuyên thì mắc bệnh hiểm nghèo mà qua đời, hưởng dương bốn mươi tuổi.

"Say nằm sa trường chớ cười chê, xưa nay chinh chiến mấy người về!"

Nhìn lại cuộc đời Thường Ngộ Xuân, từ trận Thái Bình xung phong đi đầu, cho đến khi bắc xuất sa mạc, đi đến đâu thắng đến đó, ông đã dùng hành động của mình để chứng minh ông là thiên tài quân sự thực thụ, là vị tiên phong số một đích thực. Mạng sống của ông giống như sao băng rực rỡ, tuy ngắn ngủi nhưng lại chói lọi huy hoàng, tài năng quân sự và công lao của ông sẽ mãi mãi được người đời ca tụng.

Cùng thời điểm Thường Ngộ Xuân Bắc phạt, Từ Đạt cũng đang chiến đấu ác liệt ở Quan Trung. Ông phái bộ tướng Trương Ôn (một người vô cùng lợi hại) đi đánh chiếm Cam Túc. Trương Ôn tiến triển thuận lợi, nhanh chóng chiếm được Lan Châu và các vùng phụ cận. Ngay khi Từ Đạt đang thắng thế liên tiếp, nguy hiểm cũng đang dần áp sát ông.

"Kế hoạch của Vương Bảo Bảo"

Sau khi bại trận rút về Thái Nguyên, Vương Bảo Bảo không thực hiện các hành động quân sự lớn, ông ta đang quan sát động thái của Từ Đạt. Sau hai lần giao tranh trước đó, ông ta đã hiểu rõ đối thủ trước mắt mình đáng sợ đến nhường nào. Nếu không có cơ hội tốt, tuyệt đối ông ta sẽ không xuất kích.

Cao thủ đối chiêu, kỵ nhất là tâm phù khí táo. Trực giác mách bảo Vương Bảo Bảo rằng, lúc này chỉ có thể chờ đợi.

Khi phát hiện Trương Ôn đơn độc thâm nhập sâu, đánh chiếm Lan Châu, Vương Bảo Bảo vốn đang trốn ở nhà ngủ đã cảm nhận một cách nhạy bén rằng: cơ hội đã đến.

Ông ta lập tức huy động hơn mười vạn đại quân, chia làm hai đường. Trước tiên dùng vài vạn bộ kỵ binh vây đánh Lan Châu, nhưng Lan Châu không phải là mục tiêu cuối cùng của ông ta, đó chỉ là miếng mồi nhử. Ông ta giấu kín chủ lực, đồn trú mười vạn quân tại Định Tây, nơi có địa hình hiểm yếu. Chiêu này trong binh pháp gọi là "vây điểm đánh viện".

Ông ta tin vào phán đoán của mình, Lan Châu quá quan trọng đối với quân Minh, họ chắc chắn sẽ phái quân đến cứu. Việc cần làm bây giờ là đợi cá cắn câu.

Phán đoán của ông ta không hề sai, chẳng bao lâu sau, con cá đầu tiên đã tới.

Sau khi biết tin Lan Châu bị vây, tướng Minh là Vu Quang dẫn quân đến cứu viện. Khi tới gần Lan Châu, ông phát hiện mình đã rơi vào vòng vây của quân Nguyên. Sau khi chiến đấu kiên cường, toàn quân bị tiêu diệt, Vu Quang tử trận.

Vương Bảo Bảo cuối cùng cũng đạt được thắng lợi đầu tiên trong kế hoạch này, nhưng có một việc ông ta không ngờ tới, đó chính là năng lực của thủ tướng Lan Châu - Trương Ôn.

Khi hàng vạn đại quân vây chặt Lan Châu không một kẽ hở, Trương Ôn không hề hoảng sợ. Sau khi phân tích tình hình địch, ông đưa ra phán quyết chính xác là chủ động xuất kích. Ông đích thân dẫn ba ngàn người tập kích hàng vạn quân địch ngoài thành, thế mà lại đánh bại được quân Nguyên, khiến chúng phải rút lui mấy chục dặm, giành lấy thời gian cho trận Định Tây sau này.

Tất nhiên, ngoài việc này khiến Vương Bảo Bảo bất ngờ ra, mọi thứ khác đều nằm trong kế hoạch. Ông ta vẫn áp dụng phương thức cũ, chờ đợi con cá thứ hai cắn câu.

Con cá thứ hai quả thực đã tới, nhưng đó lại là một con cá mập.

Hành động quân sự của Vương Bảo Bảo đã thu hút sự chú ý của Chu Nguyên Chương. Ngày mùng 3 tháng Giêng năm Hồng Vũ thứ ba (1370), Chu Nguyên Chương triệu tập hội nghị quân sự, ông nhìn thấu mưu đồ của Vương Bảo Bảo và vạch ra một kế hoạch phức tạp hơn.

Kế hoạch như sau: Đầu tiên lệnh cho Từ Đạt làm Chinh Lỗ Đại tướng quân, Lý Văn Trung làm Tả Phó tướng quân, Phùng Thắng làm Hữu Phó tướng quân, Đặng Dũ làm Tả Phó phó tướng quân, Thang Hòa làm Hữu Phó phó tướng quân dẫn quân xuất chinh. Lúc đó Nguyên Thuận Đế đang ở Ứng Xương, mà Chu Nguyên Chương vốn là người làm việc gì cũng làm đến nơi đến chốn, ông chuẩn bị cho Nguyên Thuận Đế "dọn nhà" xa hơn một chút, nếu có thể đuổi đến tận Siberia thì càng tốt, dù không được thì cũng không để ông ta sống thoải mái.

Ông ra lệnh không được cứu viện Lan Châu nữa, mà để Đại tướng quân Từ Đạt từ Đồng Quan qua Tây An tấn công thẳng vào Định Tây, quyết chiến với Vương Bảo Bảo; một đường khác, để Tả Phó tướng quân Lý Văn Trung xuất Cư Dung Quan vào sa mạc tấn công Ứng Xương, đi giúp Nguyên Thuận Đế "dọn nhà".

Đồng thời, để mê hoặc Vương Bảo Bảo, ông còn lệnh cho các đại tướng Kim Triều Hưng, Uông Hưng Tổ lần lượt tấn công Sơn Tây, phía bắc Hà Bắc để thu hút sự chú ý của quân Nguyên, hỗ trợ cho chủ lực tác chiến.

Kế hoạch này có thể nói là kín kẽ không một kẽ hở, Vương Bảo Bảo quả thực đã không nhìn thấu mưu kế của Chu Nguyên Chương. Ông ta vẫn cứ "ôm cây đợi thỏ" ở Định Tây, đáng tiếc đối thủ của ông ta là Chu Nguyên Chương và Từ Đạt, chứ không phải là thỏ.

Tháng 2 năm Hồng Vũ thứ ba (1370), bốn lộ đại quân đồng loạt xuất phát. Trong phút chốc, quân báo dồn dập truyền đến chỗ Vương Bảo Bảo, chiến cuộc rối loạn cả lên. Ngày 25, Vương Bảo Bảo nhận được tin Kim Triều Hưng công chiếm Đông Thắng Châu. Ngày 23 tháng 3, ông ta lại hay tin Uông Hưng Tổ công chiếm Sóc Châu. Còn Lý Văn Trung đã xuất Cư Dung Quan. Trong lúc ông ta đang luống cuống tay chân, kẻ địch thực sự đã áp sát.

Ngày 29 tháng 3, Từ Đạt dẫn quân tiến đến Định Tây. Vương Bảo Bảo không còn đường lui, chỉ có thể quyết một trận tử chiến.

Thẩm Nhi Dục ở Định Tây sắp trở thành chiến trường quyết chiến.

"Sự ứng phó của Vương Bảo Bảo"

Lần này, Từ Đạt mang gần bốn mươi vạn quân tấn công Vương Bảo Bảo. Để đạt được hiệu quả tập kích, ông đích thân dẫn mười vạn quân hành quân gấp trong đêm tới Định Tây. Quân Nguyên đã chuẩn bị sẵn sàng nghênh chiến, thế nhưng chuyện xảy ra tiếp theo lại khiến họ rơi vào cảnh mờ mịt.

Sau khi mười vạn quân của Từ Đạt tới nơi, không hề có dấu hiệu tác chiến nào, trái lại, hành động đầu tiên của quân đội ông là đi tìm gỗ, sửa nhà và dựng trại. Quân Nguyên vô cùng khó hiểu, chẳng lẽ họ muốn ở lại đây lâu dài?

Thống soái Vương Bảo Bảo lại hiểu ý đồ của Từ Đạt, ông không ngừng cảm thán, Từ Đạt quả thực là người am hiểu binh pháp. Mục đích Vương Bảo Bảo thủ Định Tây Thẩm Nhi Dục là để nhử địch công kiên, từ đó tìm cơ hội phản công, thế nhưng Từ Đạt không mắc mưu, trước tiên dựng chắc trận thế, chậm rãi đối phó với ông ta.

Người này thật sự không dễ đối phó chút nào.

Điều khiến ông ta bực bội hơn là, quân Minh đến ngày 29 tháng 3 nhưng không vội xuất chiến, chỉ dùng những toán quân nhỏ thăm dò, khiến quân Nguyên phiền lòng không thôi. Đến ngày 5 tháng 4, tình hình bắt đầu tồi tệ hơn.

Từ ngày 5 tháng 4, Từ Đạt chia binh sĩ thành ba ca, không ngừng phái người đến doanh trại Vương Bảo Bảo phóng hỏa, tập kích. Nếu không làm những việc này, họ cũng chẳng rảnh rỗi, cứ đứng trước doanh trại quân Nguyên gõ chiêng đánh trống, có kẻ còn đứng luyện giọng, suýt chút nữa là dựng sân khấu hát kịch. Quân Nguyên vừa mệt vừa đói, không được nghỉ ngơi. Bị dồn vào đường cùng, muốn tấn công thì vướng phải doanh lũy địch kiên cố, chỉ biết đứng nhìn mà sốt ruột.

Vương Bảo Bảo không thể ngồi yên được nữa, ông hiểu rằng cứ tiếp tục thế này, quân đội chưa bị đánh bại đã bị quấy phá đến kiệt quệ. Ông buộc phải xuất kích.

Ngày mùng 6, Vương Bảo Bảo thông qua sự chỉ dẫn của người địa phương, tìm thấy một con đường nhỏ có thể đánh vào bên sườn quân Minh. Ông phái một ngàn tinh binh phát động cuộc tập kích bất ngờ. Quân Minh không ngờ quân Nguyên đột nhiên xuất hiện, trận thế đại loạn. Tướng lĩnh quân Tả hoảng loạn, rời khỏi vị trí chỉ huy. Quân Nguyên thừa cơ công vào nội doanh, tưởng chừng quân Minh sắp đại loạn. Lúc này Từ Đạt ở trong trung quân trướng nghe thấy bên ngoài náo loạn, ông không hề hoảng sợ như Vương Bảo Bảo, mà bình tĩnh lắng nghe động tĩnh, dựa vào trực giác quân sự phán đoán đây chỉ là toán quân nhỏ lẻn vào tập kích. Thế là ông cưỡi ngựa chạy tới bên sườn, đích thân cầm kiếm đốc chiến. Binh sĩ nhìn thấy bóng dáng ông, sĩ khí lập tức chấn động, đánh tan quân Nguyên.

Trong lúc nguy cấp mà phán đoán được tình hình địch, lại có thể ứng phó kịp thời, đó là tố chất quan trọng nhất của một vị tướng. Từ Đạt quả không hổ danh là danh tướng.

Sau khi quân Nguyên đại bại, Vương Bảo Bảo tưởng rằng quân Minh sẽ thu liễm một chút, nào ngờ vừa thu quân về doanh, quân Minh lại bắt đầu dựng sân khấu hát kịch. Lần này đến Vương Bảo Bảo cũng hết cách, ban đêm ông ta cũng không ngủ được, chỉ biết cười khổ nhìn quân Minh đối diện thỏa sức biểu diễn.

Thực ra ông ta cũng chẳng phiền muộn được bao lâu nữa, bởi mục đích của quân Minh đã đạt được, họ sắp sửa hành động.

Ngay lúc quân Nguyên bị quấy nhiễu không được yên ổn mà lại không có cách nào đối phó, đêm ngày 7 tháng 4, quân Minh đột nhiên ngừng mọi tiếng ồn ào. Quân Nguyên mừng rỡ, đua nhau nghỉ ngơi. Dù trong lòng họ cũng biết sự yên tĩnh này của quân Minh không hề bình thường, nhưng nỗi đau khổ vì không được ngủ suốt thời gian dài khiến họ không thể chịu đựng thêm nữa. Thế là ai nấy đều đặt lưng xuống là ngủ ngay.

Trong lúc quân Nguyên bắt đầu nghỉ ngơi, Từ Đạt đã đợi từ lâu đang duyệt binh sĩ của mình. Chờ đợi bấy lâu nay chính là vì đêm nay! Ông hiểu rất rõ, đêm nay là thời cơ tốt nhất, cũng là cơ hội duy nhất. Vương Bảo Bảo chiếm địa lợi, lại có mười vạn quân, mình thì từ xa đến, lương thảo không thể duy trì lâu dài, cơ hội này nhất định phải nắm lấy. Nếu không thể một hơi đánh bại đối phương, người thất bại cuối cùng sẽ là chính mình. Để giành thắng lợi, ông đã đưa ra một quyết định.

Phát huy tối đa sức chiến đấu của binh sĩ là trách nhiệm của người tướng. Thông thường, các tướng lĩnh dùng mưu lược và điều động quân sự để đạt được mục đích này. Tuy nhiên, khi trận chiến đến thời khắc mấu chốt nhất, mọi trí tuệ quân sự đều không còn tác dụng, các tướng lĩnh chỉ còn lại chiêu cuối cùng: đích thân ra trận.

Trước khi xuất chinh, Từ Đạt đặt đội quân của mình ở hàng đầu để đảm bảo tất cả binh sĩ đều có thể nhìn thấy soái kỳ của ông. Bất kể binh sĩ đang chiến đấu ở đâu, chỉ cần nhìn thấy lá cờ này, họ sẽ có dũng khí chiến đấu tiếp.

Đây là cách không còn cách nào khác, nhưng cũng là cách duy nhất.

"Cho nên biết thắng có năm: biết có thể chiến hay không thể chiến thì thắng, biết cách dùng quân đông hay ít thì thắng, trên dưới cùng lòng thì thắng, lấy nhàn đợi mệt thì thắng, tướng giỏi mà vua không can thiệp thì thắng. —— Tôn Tử Binh Pháp"

Từ Đạt chiếm trọn cả năm điều, làm sao có thể không thắng!

Ngay lúc quân Nguyên ngủ say, Từ Đạt dùng chiến thuật đột phá trung tâm, tập kích trung quân quân Nguyên. Quân Nguyên quá mệt mỏi, thậm chí có binh sĩ nghe thấy tiếng hô hoán cũng không còn sức để đứng dậy, ngoan ngoãn làm tù binh. Quân Minh dưới sự dẫn dắt của Từ Đạt, với thế như sấm sét, tiêu diệt hoàn toàn quân Nguyên, mười vạn đại quân cứ thế tan rã.

Lúc này Vương Bảo Bảo đang nghỉ ngơi trong doanh trung quân. Thực tế chứng minh, ông ta quả thực có chút thiên phú trong việc chạy trốn. Vị huynh đài này trong lúc đại loạn vẫn phản ứng vô cùng nhanh nhẹn, cướp lấy ngựa, còn tiện thể dắt theo vợ con chạy về phía bắc. Trong cảnh hỗn loạn như vậy mà vẫn chu toàn được như thế, quả thực không phục không được.

Trận này quân Minh đại phá quân Nguyên, bắt sống Nguyên Diễm Vương, Nguyên Tế Vương cùng văn võ đại thần hơn một ngàn chín trăm người, binh sĩ Mông Cổ hơn tám vạn bốn ngàn người (con số đáng sợ). Vương Bảo Bảo một lần nữa mất sạch quân đội. Lần này, ngay cả mười tám thị vệ cũng không còn, chỉ dắt vợ con chạy đến bờ Hoàng Hà, nghĩ lại thảm cảnh, chỉ biết ôm đầu khóc lớn.

Nhiều sử sách viết đến đây là hết, điều này không logic cho lắm, vì Vương Bảo Bảo không mọc cánh, cũng không có xe máy, không thể bay qua Hoàng Hà, nên bỏ mặc Vương Bảo Bảo ở đây cũng không phải là cách làm tử tế. Thực ra nếu khảo cứu nhiều chi tiết trong lịch sử, sẽ phát hiện ra nhiều điểm thú vị.

Phân tích kỹ trải nghiệm Vương Bảo Bảo vượt sông Hoàng Hà, chúng ta sẽ thấy việc học thêm vài kỹ năng quan trọng đến nhường nào.

Sau khi Vương Bảo Bảo đến bờ Hoàng Hà, không có thuyền qua sông, nhưng danh tướng sẽ không bị làm khó. Ông không biết tìm đâu ra một khúc gỗ, cho vợ con nằm lên đó, cả nhà lớn nhỏ ôm lấy khúc gỗ này mà qua sông. (Bảo Bảo cùng vợ và vài người từ phía bắc thành cổ bỏ chạy, đến Hoàng Hà, lấy gỗ trôi mà qua).

Có thể thấy, Vương Bảo Bảo chắc chắn rất giỏi bơi lội, ngoài ra ông còn có khả năng điều khiển phương tiện trên mặt nước. Định Tây nằm ở Cam Túc, là thượng nguồn Hoàng Hà, nơi đây dòng nước chảy xiết, chèo thuyền chưa chắc đã qua được, mà ông ôm khúc gỗ lại có thể qua sông, quả thực là một bản lĩnh. Đây đúng là một người đa tài đa nghệ.

Vương Bảo Bảo lên bờ, nhìn cảnh vật bên kia sông, đau đớn tột cùng. Cách đây không lâu, ông còn có một đội quân hùng hậu, giờ đây chỉ còn lại mình ông và vợ con.

Mười vạn đại quân, hủy hoại trong chốc lát!

Sau khi bái lạy về phía bờ bên kia, ông lên ngựa chạy về phía Hòa Lâm (nay là tây nam Ulaanbaatar, Mông Cổ), ở đó ông vẫn còn có thể đông sơn tái khởi.

Chuyện vẫn chưa kết thúc, mình vẫn còn cơ hội.

Trong lúc Vương Bảo Bảo đại bại, Lý Văn Trung đang giúp Nguyên Thuận Đế "dọn nhà". Sau khi xuất Cư Dung Quan, ông liên tiếp đánh bại các chốt chặn của quân Nguyên là Thái úy Man Tử (không phải biệt danh), Bình chương Sa Bất Đinh Đóa Nhĩ Chỉ Bát Lạt (tên khá dài), và một lần nữa công chiếm Khai Bình. Ngày 21 tháng 5, ông đến sào huyệt của Nguyên Thuận Đế là Ứng Xương.

Nguyên Thuận Đế quả thực là kẻ đáng thương, từ sau khi bị ép dọn nhà vào năm Hồng Vũ thứ hai (1369), ở Ứng Xương chỉ được vài tháng đã qua đời. Vị hoàng đế này quả thực rất nhu nhược. Nhưng lễ truy điệu còn chưa kịp tổ chức, người quen cũ Lý Văn Trung lại một lần nữa không mời mà tới. Lúc này nhà Nguyên lại tỏ ra khá cứng rắn, muốn cố thủ. Nhưng cố thủ cũng phải có thực lực, huống hồ người công thành là Lý Văn Trung.

Lý Văn Trung chẳng hề khách sáo, đã không tự mình dọn đi thì chỉ có cách giúp một tay.

Hiệu suất công thành của ông cao đến mức đáng kinh ngạc, chiếm được Ứng Xương chỉ mất một ngày. Kỵ binh Mông Cổ vốn nổi tiếng với tốc độ nhanh, tính cơ động cao, nhưng đối mặt với tốc độ tấn công như vậy của Lý Văn Trung, họ cũng chỉ biết há hốc mồm.

Vì không ngờ Lý Văn Trung lại lợi hại đến thế, các vương công quý tộc trong thành không kịp chạy trốn, các bà vợ của Nguyên Thuận Đế đều bị bắt, vương công đại thần đều bị tóm gọn, trong đó còn có cả cháu nội của Nguyên Thuận Đế là Mãi Đích Lý Bát Lạt.

Người duy nhất chạy thoát là con trai của Nguyên Thuận Đế - Ái Du Thức Lý Đạt Lạp, tức Nguyên Chiêu Tông sau này. Ông ta chạy tới Hòa Lâm, hội quân với Vương Bảo Bảo, đôi anh em khó khăn này ôm nhau khóc lớn, thề sẽ trả thù rửa hận.

Nói đến đây, mọi người có thể thắc mắc, tại sao Vương Bảo Bảo thảm bại như vậy mà vẫn được gọi là danh tướng? Điều này liên quan đến một vấn đề quan trọng: danh tướng là người như thế nào.

"Danh tướng được tôi luyện như thế nào"

Như đã nói ở trên, chúng ta sẽ phân tích những thứ mang tính bản chất trong lịch sử, tất nhiên vẫn theo cách của tôi.

Nhiều người ngưỡng mộ phong thái của danh tướng, cũng rất muốn trải nghiệm cảm giác chỉ huy vạn quân trên chiến trường, vì vậy các diễn đàn quân sự thường chật kín người, nhiều người mê quân sự hận mình không sinh ra trong thời đại đao kiếm vang dội.

Nhưng thực tế là, danh tướng trong lịch sử dù sao cũng chỉ là số ít, phần lớn đều giống như những binh lính nhỏ bé trong game Tam Quốc, ra trận chẳng bao lâu đã bị giết. Hơn nữa, danh tướng tuyệt đối không dễ dàng tôi luyện mà thành.

Tôi xin đưa ra vài quan điểm, bởi điều này cũng giúp chúng ta hiểu được quá trình trưởng thành và trải nghiệm của các đại tướng nhà Minh sau này, cũng như một số vấn đề về chế độ quân sự nhà Minh.

Trên con đường trở thành danh tướng, chúng ta phải trải qua sáu trở ngại, hãy coi đó như sáu lớp học, chỉ khi vượt qua trở ngại trước mắt mới có thể lên lớp tiếp theo. Tất nhiên, có những học sinh thiên tài không cần trải qua sáu lớp này, sinh ra đã biết đánh trận, cũng có, nhưng cực ít, chúng ta có thể bỏ qua.

Được rồi, trường học danh tướng khai giảng, lớp một cần học là lý thuyết quân sự. Tất cả những ai muốn trở thành danh tướng đều phải học một số kiến thức lý thuyết kinh điển, bao gồm Tôn Tử Binh Pháp, Ngô Tử Binh Pháp, v.v. Chỉ sau khi tích lũy được lượng lớn lý thuyết, bạn mới có thể bước sang lớp tiếp theo. Nhưng lớp này có một quy định rất đặc biệt, vì một số học sinh nhà nghèo, không mua nổi sách vở, nên họ chỉ có thể học những lý thuyết này trong thực chiến. Đại diện xuất sắc của họ chính là học sinh Lý Vân Long.

Con nhà nghèo sớm tự lập, quả không sai, những học sinh học lý thuyết trong thực chiến này sẽ được bỏ qua quy trình thứ hai, trực tiếp vào quy trình thứ ba.

Chúng ta hãy cùng đa số học sinh xem lớp hai học những gì. Nội dung lớp hai là thực chiến. Đây là điều cực kỳ quan trọng, những người xuất sắc về lý thuyết nếu không vượt qua được ải này, họ sẽ được trao tặng một danh hiệu vẻ vang - "đàm binh trên giấy". Người đầu tiên nhận danh hiệu này là học sinh Triệu Quát, người trao tặng là chủ nhiệm lớp hai Triệu Xa.

Chúng ta hãy giải thích tại sao thực chiến lại quan trọng như vậy. Đó là vì mặc dù lý thuyết quân sự là kinh nghiệm đúc kết của các học sinh lớp trên, nhưng do khi họ viết những thứ này, tình hình và thực trạng không hoàn toàn giống nhau, trong thực chiến, nếu bê nguyên xi vào thì sẽ chịu thiệt lớn. Học sinh Triệu Quát chính là chưa học tốt nên mới không thể tốt nghiệp.

Là một học viên, muốn trở thành danh tướng, thông thường đều phải làm từ binh lính nhỏ, tất nhiên trừ con ông cháu cha, ví dụ như Triệu Quát, do chủ nhiệm lớp Triệu Xa là cha cậu ta, nên cậu ta mới bắt đầu đã là đại tướng, điều này không thỏa đáng.

Bởi chỉ có chiến trường mới khiến một người trở thành danh tướng thực thụ. Họ phải đích thân cầm đao truy kích kẻ địch, chứng kiến sự tàn khốc của chiến trường, hiểu rằng người bị đao chém là sẽ chết, hiểu đạo lý bất biến trên chiến trường rằng "ngươi không giết ta thì ta giết ngươi", biết rằng đánh trận là đánh cược bằng tính mạng, họ mới hiểu thế nào là chiến trường, thế nào là thực chiến.

Đa số học viên sẽ bị loại ở ải này, họ sẽ đổi nghề, cả đời làm một người chơi quân sự nghiệp dư, điều này đối với họ chưa chắc đã là chuyện xấu.

Còn những học viên ở lại, trong thực chiến tàn khốc dần dần hiểu ra quy luật của chiến tranh, bắt đầu thực sự bước lên con đường danh tướng.

Được rồi, chúng ta dẫn những học viên còn lại đến lớp ba, lớp ba cần học là sự lạnh lùng.

Trở thành một danh tướng, phải nói lời tạm biệt với những từ ngữ như nhân từ, ôn hòa. Anh ta phải có trái tim sắt đá, lạnh lùng vô tình. Tất nhiên trong lịch sử cũng có nhiều nho tướng nổi tiếng với lòng nhân, nhưng xin mọi người lưu ý, lòng nhân của họ là đối với binh sĩ và bách tính, còn đối với kẻ địch thì họ lạnh lùng hơn bất cứ ai.

"Nhân không mang quân, nghĩa không hành thương", lạnh lùng không phải là tàn nhẫn, không phải là giết hại bách tính vô tội, mà là kiên trì. Ví dụ, một người bạn rất tốt của bạn phạm quân quy, nhưng để chấp hành quân kỷ, bạn nhất định phải giết anh ta. Chỉ có như vậy, bạn mới có thể kiểm soát quân đội, dù đó là người bạn thân nhất, thậm chí là người thân của bạn, bạn cũng phải làm như vậy.

Đó mới là sự lạnh lùng thực sự!

Các học viên sẽ học được sự lạnh lùng trên chiến trường. Họ có thể đều là những thanh niên lương thiện, bình thường không bao giờ tranh cãi với ai, nhưng khi bước lên chiến trường, tận mắt nhìn thấy đồng hương và chiến hữu bị kẻ địch giết chết, hoặc bị thương nặng nằm trên mặt đất rên rỉ đau đớn, họ sẽ bị sự phẫn nộ và đau khổ thúc đẩy, không chút thương xót giết chết tất cả những kẻ đối địch với mình, bồi thêm một nhát dao cho thương binh trên mặt đất, rồi một mình lầm bầm bên cạnh thi thể. Chính trong môi trường địa ngục này, họ đã thay đổi.

Từ chỗ giết gà cũng sợ thấy máu đến chỗ máu và não của kẻ địch bắn lên người mà vẫn không hay biết, từ chỗ nho nhã ôn hòa đến lạnh lùng vô tình, họ đã tốt nghiệp trong môi trường tàn khốc. Người không đạt yêu cầu sẽ bị loại, còn những kẻ có trái tim sắt đá sẽ vào học lớp bốn, họ ngày càng tiến gần đến việc trở thành danh tướng.

Lớp bốn cần học là lý trí, đây cũng là một khâu cực kỳ quan trọng. Chúng ta là những người bình thường, trong cuộc sống sẽ bị nhiều việc chi phối cảm xúc, ví dụ mua xổ số trúng giải nhì vài trăm đồng, bạn cũng vui cả buổi, nếu đầu cơ cổ phiếu kiếm được món hời lớn thì càng không cần phải nói. Vậy nếu trò chơi bạn chơi lấy mạng người làm tiền cược thì sao? Bạn sẽ có phản ứng gì?

Khi bạn ở trong môi trường cực kỳ căng thẳng giằng co với kẻ địch một thời gian dài, đột nhiên kẻ địch rút lui, bạn có thể kiềm chế sự phấn khích trong lòng, bình tĩnh phán đoán tình hình rồi mới truy kích không? Khi bạn không chống đỡ nổi sự tấn công của kẻ địch, toàn quân sắp tan rã, bạn có thể kịp thời bình tĩnh lại, phát hiện ra điểm yếu của kẻ địch không?

Phải, điều này thật quá khó khăn. Chúng ta đều là người phàm, đều có tình cảm, dễ bị kích động. Thế nhưng, các học viên của chúng ta buộc phải giữ được sự bình tĩnh và lý trí, không bao giờ để tình cảm chi phối, giống như đua xe vậy. Đua xe là một môn thể thao đầy nhiệt huyết, nhưng tay đua lại phải giữ được sự bình tĩnh tuyệt đối.

Đây là điều mà học viên năm thứ tư cần phải đạt được. Những người vượt qua được cửa ải này đã là rất ít, những tinh anh còn lại, chúng ta hãy tiếp tục tiến lên!

Năm thứ năm là năm quan trọng nhất. Trong năm học này, học viên phải học cách phán đoán.

Đây là đặc trưng quan trọng của một danh tướng. Không cần lý do, không cần căn cứ, thứ duy nhất bạn có thể dựa vào chính là khả năng phán đoán của bản thân. Bạn phải hiểu rằng, thứ bạn nắm giữ là sinh mệnh của vô số binh sĩ, và tất cả mọi người đều đang chờ bạn đưa ra quyết định.

Tiểu binh chỉ biết đánh trận, gặp vấn đề sẽ hỏi Ngũ trưởng, Ngũ trưởng hỏi Bách hộ, Bách hộ hỏi Thiên hộ, Thiên hộ hỏi Chỉ huy. Bạn chính là Chỉ huy, vậy bạn còn có thể đi hỏi ai nữa?!

Trong mắt binh sĩ, bạn chính là Thượng đế, là vị thần thống trị thế giới! Họ có thể sống sót hay không đều trông cậy cả vào bạn!

Binh pháp sở dĩ kỳ diệu, mấu chốt nằm ở chữ "Biến". Cái gọi là người giỏi dùng kỳ binh, biến hóa vô cùng như trời đất, không bao giờ cạn kiệt như sông biển! Chiến trường là một thế giới biến hóa trong chớp mắt, quyết định chỉ nằm trong đường tơ kẽ tóc. Tấn công hay phòng thủ, tiến lên hay rút lui, đều cần bạn đưa ra quyết định. Bên cạnh bạn có thể có một đám quân sư, nhưng họ thường không đứng về phía chân lý, người quyết định cuối cùng vẫn là bạn. Nếu quân sư giỏi hơn bạn, tại sao bạn còn phải làm chủ soái?!

Nếu bạn có thể từ thế giới biến hóa khôn lường đó mà phát hiện ra sự huyền diệu, rồi từ đó đưa ra quyết định đúng đắn, vậy thì chúc mừng bạn, bạn đã có được tố chất quan trọng nhất của một danh tướng. Nhưng vẫn còn một cửa ải nữa mà bạn bắt buộc phải vượt qua, chỉ khi qua được cửa ải này, bạn mới là danh tướng thực sự.

Bây giờ, chúng ta đến với năm học cuối cùng, năm học này chúng ta phải học về sự kiên cường.

Xét trên một khía cạnh nào đó, đây là nội dung học tập vô cùng quan trọng. Cái gọi là "thắng bại là chuyện thường tình của binh gia" chỉ là lời tự an ủi bản thân mà thôi. Thua trận, chết mấy vạn người, bạn có chịu nổi áp lực tâm lý đó không? Bạn đối mặt thế nào với gia đình của những binh sĩ đó? Làm sao có mặt mũi gặp cấp trên đã giao quyền chỉ huy cho bạn? Đó là mấy vạn mạng người, chứ không phải mấy vạn con gà!

Thế nhưng, lựa chọn của bạn chỉ có thể là kiên cường. Dù cho bạn có "bách chiến bách bại", thì vẫn phải "bại rồi lại chiến"! Chúng ta có thể hình dung, khi bạn nhiều lần bại dưới tay cùng một người, bạn sẽ nảy sinh nỗi sợ hãi đối với kẻ đó, cái gọi là "chứng sợ kẻ địch" chính là từ đó mà ra. Ngay cả khi bạn có tài năng quân sự kiệt xuất, nếu không thể chiến thắng sự yếu đuối của bản thân, thì vẫn không thể trở thành danh tướng.

Mà những kẻ ưu tú nhất chính là những người có thể đứng dậy từ thất bại, đi thách thức kẻ đã nhiều lần đánh bại mình, đó mới là kiên cường!

Khi bạn đã có đủ tất cả các điều kiện trên, bạn đã trở thành một danh tướng thực thụ. Nhưng còn một điểm nữa bạn bắt buộc phải có, đó chính là vận khí.

Nói ra nghe có vẻ nực cười, nhưng đây cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng. Biết đâu ngay lúc bạn vạn sự sẵn sàng, chuẩn bị thi triển tài năng thì một mũi tên lạnh bắn tới và bạn bỏ mạng tại đó. Thế thì còn oan ức hơn cả Đậu Nga, mọi hoài bão và năng lực của bạn đều không thể thể hiện được. Trong sử sách sẽ chỉ ghi chép rằng: "Ngày... tháng... năm..., người nọ bị một tiểu binh không tên bắn chết trên chiến trường, tình hình cụ thể không rõ".

Cho nên, con đường trở thành danh tướng là một con đường gian khổ, không phải người có đại trí đại dũng, đại cát đại lợi thì không thể làm được.

"Binh vô thường thế, thủy vô thường hình. Năng nhân địch biến hóa nhi thủ thắng giả, vị chi thần."

Trên chiến trường biến hóa vô cùng này, muốn trở thành quân thần thực sự, bạn bắt buộc phải sống sót qua những cuộc tàn sát hết lần này đến lần khác, nhìn những người xung quanh ngã xuống, nhẫn nhịn nỗi đau vô tận, học chiến tranh trong chính chiến tranh, nỗ lực nắm bắt những quy luật và bí ẩn không ai hay biết, trải qua vô số lần thất bại, có dũng khí đứng lên từ xác của vô số binh sĩ để đánh bại đối thủ.

Đây mới chính là con đường của danh tướng thực thụ, một con đường đau khổ, cô độc và đẫm máu. Trên con đường này, người duy nhất có thể tin tưởng và dựa vào chỉ có chính bản thân bạn. Nhưng chỉ cần bạn đi đến đích, vinh quang và thắng lợi sẽ chờ đợi bạn ở đó.

Dù là Từ Đạt, Thường Ngộ Xuân, Vương Bảo Bảo hay sau này là Thích Kế Quang, Viên Sùng Hoán đều là những danh tướng như vậy. Họ chính là được tôi luyện như thế. Họ hoàn toàn có lý do để kiêu hãnh và tự hào về quá trình trưởng thành của mình.

Vì vậy, các học viên không thể trở thành danh tướng cũng chẳng cần phải đau buồn thất vọng, bởi vì công việc này không phải người bình thường nào cũng làm được, thậm chí có thể nói, không phải là việc con người có thể đảm đương. Các vị học viên bình thường, hãy quay về làm bách tính đi thôi, đó mới là cuộc sống hạnh phúc.

Sau khi liên tiếp giành thắng lợi trong cuộc chiến chống Bắc Nguyên, quân Nguyên cuối cùng đã hiểu ra rằng kẻ địch trước mắt không còn là chính quyền Nam Tống dễ bắt nạt năm nào, mà là một đối thủ mạnh mẽ có khả năng tiêu diệt hoàn toàn mình.

Vương Bảo Bảo hiểu rằng, việc bây giờ cần làm là chờ đợi. Thế nào cũng sẽ có cơ hội.

Hai năm sau, quân Nguyên vốn luôn co cụm cuối cùng cũng chậm rãi vươn những xúc tu về phía nhà Minh. Chúng tấn công tứ phía, nhân lúc quân Minh rút lui, chúng lại chiếm đóng vùng đất rộng lớn từ Cát Lâm ở phía Đông đến Cam Túc, phía Bắc Ninh Hạ ở phía Tây. Chúng lấy những cứ điểm này làm căn cứ, không ngừng tấn công quân Minh, sử dụng chiến thuật du kích đáng ghét nhất: đánh rồi chạy, đi rồi lại tới.

Trong tình cảnh này, Chu Nguyên Chương cùng các tướng lĩnh bắt đầu thảo luận về phương thức đối phó với Bắc Nguyên, dẫn đến những bất đồng trong cách ứng phó. Đa số mọi người, bao gồm cả Từ Đạt, đều tán thành tấn công để giải quyết dứt điểm Bắc Nguyên một lần cho xong. Nhưng cũng có người phản đối.

Người phản đối có hai vị, một là Lưu Cơ, người kia là Chu Nguyên Chương.

Lưu Cơ cho rằng Bắc Nguyên vẫn còn thực lực hùng hậu, và quan trọng hơn là Vương Bảo Bảo vẫn còn sống (Bảo Bảo vị khả khinh dã - Bảo Bảo không thể coi thường). Còn về phần Chu Nguyên Chương, ông thiên về trực giác quân sự thiên bẩm của mình hơn. Nếu là mười năm trước, có lẽ ông sẽ kiên trì với quan điểm của mình, lấy phòng thủ làm chính, nhưng bây giờ đã khác rồi.

Ông hiện là quân chủ của một quốc gia vĩ đại, không thể tỏ ra yếu thế trước người khác, vì vậy ông đồng ý với yêu cầu của Từ Đạt và những người khác, lập kế hoạch tấn công.

Từ tình hình này có thể thấy, danh tiếng của Lưu Bá Ôn quả thật không hề hư truyền, ông đã giải thích hoàn hảo cho quy luật "chân lý thường nằm trong tay thiểu số". Còn Chu Nguyên Chương cũng chứng minh rằng việc ông giành được thiên hạ tuyệt đối không hề có nửa phần may mắn.

Lãnh đạo quả nhiên là có tầm nhìn!

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »