Ngôi nhà đó nằm trên một con phố cổ quanh co, rợp bóng cây. Khi họ lái xe đến gần, Mark theo bản năng trượt người xuống ghế, nhìn qua cửa sổ xe chỉ thấy được mắt và đỉnh đầu cậu. Trên đầu cậu là chiếc mũ có vẽ hình các vị thánh bằng hai màu đen và vàng – chiếc mũ mà Reggie đã mua cho cậu tại một cửa hàng thuộc chuỗi Walmart, tiện thể mua luôn cho cậu một bộ quần áo yếm và hai chiếc áo thun. Một tấm bản đồ thành phố đã bị vò nát, vứt bừa bãi bên cạnh cần phanh tay.
"Đó là một căn nhà lớn." Giọng Mark vang lên từ dưới vành mũ. Lúc này họ đang lao nhanh trên con phố uốn lượn mà không hề giảm tốc độ. Reggie cố gắng quan sát xung quanh hết mức có thể, nhưng dù sao cô cũng đang lái xe trên một con phố lạ, nên cô phải cố giữ cho mình không trông có vẻ khả nghi. Hiện đã là ba giờ chiều, còn vài tiếng nữa mới tối, nếu muốn, họ có thể lái xe đi dạo và quan sát cả buổi chiều như thế này. Reggie cũng đội một chiếc mũ vẽ hình các vị thánh, chỉ khác là những hình vẽ đó toàn màu đen. Chiếc mũ che khuất mái tóc ngắn màu xám trắng của cô. Đôi mắt cô thì ẩn sau cặp kính râm bản lớn.
Khi họ lái xe ngang qua chiếc hòm thư có khắc tên Clifford ở một bên, Reggie không dám thở mạnh. Những chữ cái trên hòm thư không lớn, màu vàng và nổi lên trên bề mặt. Đúng vậy, đó là một căn nhà lớn, nhưng trong khu dân cư này thì nó chẳng có gì lạ lẫm. Kiến trúc căn nhà mô phỏng theo phong cách thời Tudor của Anh, sử dụng gỗ đen và gạch đen; toàn bộ một bên và phần lớn mặt tiền căn nhà bị dây thường xuân bò kín mít. Reggie thầm nghĩ, căn nhà này chẳng có điểm gì đặc biệt xinh đẹp cả. Lúc này cô nhớ lại bài báo viết về Clifford, nói rằng ông ta là một người cha đã ly hôn và có một đứa con. Rõ ràng, căn nhà này không thể thu hút một người phụ nữ đến sống; ít nhất là đối với cô thì không. Cô chỉ có thể liếc nhìn căn nhà khi lái xe qua khúc cua, vì lúc đó cô phải quan sát tứ phía, để ý hàng xóm, cảnh sát và đám côn đồ, đồng thời phải chú ý cả gara và căn nhà; nhưng cô vẫn nhận ra trong bồn hoa không có lấy một bông hoa, còn những hàng rào cây thì cần được cắt tỉa.
Ngôi nhà này tuy không đẹp, nhưng chắc chắn là rất yên tĩnh. Nó nằm giữa một bãi đất trống rộng lớn, xung quanh mọc hàng chục cây sồi sum suê. Con đường lái xe dẫn vào nhà biến mất ở đâu đó phía sau những hàng rào cây rậm rạp. Mặc dù Clifford đã chết được năm ngày, nhưng cỏ trên bãi vẫn được cắt tỉa gọn gàng, không có dấu hiệu nào cho thấy ngôi nhà hiện đang bỏ trống, người ta cũng không thấy điểm gì khả nghi. Có lẽ đây thực sự là nơi lý tưởng để giấu xác.
"Gara ở đằng kia." Mark nói, cậu đang nhìn ra ngoài qua cửa sổ xe. Gara là một tòa nhà độc lập, cách căn nhà khoảng năm mươi bộ. Rõ ràng nó được xây thêm sau này, có một lối đi dẫn đến căn nhà, ngay sát gara là một bức tượng đá Nữ thần Chiến thắng màu đỏ.
Mark không khỏi rùng mình; khi họ tiếp tục lái xe dọc theo con phố, cậu nhìn căn nhà qua cửa sổ phía sau. "Cảm giác của chị thế nào, Reggie?"
"Nơi này trông tĩnh lặng đến đáng sợ, phải không?"
"Vâng."
"Đây chẳng phải là điều em đã dự đoán sao?"
"Em không biết. Em đã xem rất nhiều phim về cảnh sát, chị biết đấy, không hiểu sao, em cứ như nhìn thấy nhà của Romy bị cảnh sát giăng dây vàng khắp nơi vậy."
"Tại sao chứ? Trong nhà đó đâu có xảy ra vụ án hình sự nào. Đó chỉ là nhà của một người tự sát, cảnh sát việc gì phải quan tâm đến nơi đó?"
Ngôi nhà khuất khỏi tầm mắt họ. Mark quay người lại, ngồi thẳng dậy. "Chị nói xem, liệu họ có lục soát căn nhà này không?" Cậu hỏi.
"Có thể. Chị cá là họ đã lấy được lệnh khám xét để lục soát nhà và văn phòng của ông ta. Nhưng họ có thể tìm thấy gì chứ? Ông ta đã mang theo chút bí mật đó xuống mồ rồi."
Họ dừng lại ở một ngã tư, rồi tiếp tục chuyến hành trình quanh khu vực này.
"Còn căn nhà của ông ta thì sao?" Mark hỏi.
"Ông ta chắc chắn đã để lại di chúc. Người thừa kế sẽ nhận được căn nhà này và toàn bộ tài sản của ông ta."
"Đúng. Chị biết không, Reggie, em nghĩ mình phải lập một bản di chúc. Vì bây giờ mọi người đều đang truy lùng em, và vì tất cả những chuyện đã xảy ra. Chị thấy sao?"
"Vậy rốt cuộc em có tài sản gì?"
"Ồ, bây giờ em đã nổi tiếng rồi, còn những lý do khác nữa, em nghĩ đám người Hollywood sẽ đến gõ cửa nhà em. Ừm, em nhớ ra rồi, hiện tại chúng ta chẳng có cửa nào cả. Nhưng chuyện đó sẽ xảy ra thôi. Chị không nghĩ vậy sao, Reggie? Ý em là chúng ta sẽ có cửa, chị hiểu không? Dù sao đi nữa, họ chắc chắn muốn làm một bộ phim ăn khách, nội dung là một đứa trẻ biết quá nhiều bí mật. Em ghét phải nói những điều này, lý do thì rõ ràng rồi, nhưng một khi đám người xấu đó giết em, thì bộ phim này sẽ rất đắt giá; như vậy mẹ và Ricky sẽ không phải lo lắng về cuộc sống nữa, chị hiểu ý em chứ?"
"Chị nghĩ chị hiểu. Em muốn lập di chúc để Diane và Ricky có thể nhận được quyền quay phim về câu chuyện cuộc đời em, đúng không?"
"Chính là như vậy."
"Em không cần lập di chúc đâu."
"Tại sao?"
"Dù thế nào đi nữa họ cũng sẽ nhận được tài sản của em thôi."
"Lập hay không cũng như nhau. Thế này lại đỡ được tiền luật sư cho em."
"Chúng ta có thể nói chuyện khác được không, đừng nói về di chúc hay người chết nữa, được không?"
Mark im lặng, quay đầu nhìn những căn nhà bên đường. Đêm qua cậu ngủ gần hết đêm ở ghế sau xe, ban ngày lại ngủ năm tiếng trong phòng nhà nghỉ. Còn Reggie thì ngược lại, cô lái xe suốt đêm, ban ngày chỉ ngủ chưa đầy hai tiếng, cô vừa mệt mỏi vừa lo lắng nên bắt đầu cáu gắt với Mark.
"Reggie, có phải chị thấy chán em rồi không?" Mark hỏi mà không nhìn cô.
"Tất nhiên là không. Em thấy chán chị à?"
"Không, Reggie. Lúc này trên thế giới này chị là người bạn duy nhất của em. Em chỉ mong mình không làm chị giận."
"Chị hứa là không giận em."
"Reggie, chị có muốn bỏ trốn không?"
"Có chút ít. Còn em?"
"Em không biết. Chúng ta đã đi đến bước này rồi, nếu bây giờ bỏ trốn thì có vẻ hơi ngốc. Theo em thấy thì cái gara đó chẳng có gì đáng sợ cả."
Reggie gấp tấm bản đồ lại. "Chị nghĩ chúng ta có thể thử. Nếu sợ, chúng ta lại chạy về đây."
"Chúng ta đang ở đâu vậy?"
Cô mở cửa xe, nói: "Hãy đi dạo một chút nào."
Con đường dành cho xe đạp dẫn đến một sân bóng đá, rồi cắt ngang qua một khu rừng rậm rạp. Cành cây hai bên đan xen phía trên khiến con đường trông tối om như trong đường hầm, ánh nắng len lỏi qua kẽ lá lúc ẩn lúc hiện. Thỉnh thoảng có một người đi xe đạp lướt qua, gạt những cành cây trên đường nhựa trong vài giây.
Chuyến đi dạo này thực sự giúp tinh thần tỉnh táo hơn. Mark đã ở bệnh viện ba ngày, trong tù hai ngày, sau đó lại ngồi trong xe bảy tiếng, ngủ trong nhà nghỉ sáu tiếng, nên khi họ đi dạo trong rừng, Mark gần như không thể kìm nén được bản thân. Lúc này cậu rất nhớ chiếc xe đạp của mình, cậu ước gì bây giờ cậu và Ricky có thể cùng nhau chạy trên con đường nhỏ này thì tốt biết mấy. Như vậy họ có thể vô tư lự mà lao vun vút trong khu rừng này. Như vậy họ lại có thể là hai đứa trẻ bình thường. Cậu nhớ những con phố chật chội ở khu nhà lưu động nơi họ sống, ở đó trẻ con có thể chạy nhảy khắp nơi, muốn chơi trò gì thì chơi, chẳng ai để ý đến chúng. Gần trang viên Tucker-Wheeler có một khu rừng, đó là thế giới của riêng cậu. Cậu nhớ những con đường mòn chỉ mình cậu biết, cùng những lối đi dài hoang vắng. Cậu thích những nơi này từ khi còn bé, dù nghe có vẻ khó tin, nhưng cậu vẫn rất nhớ nơi ẩn náu đó của mình, ngay dưới mấy cái cây cậu tự chọn, bên cạnh con suối nhỏ chỉ thuộc về riêng cậu. Ở đó, cậu có thể ngồi suy nghĩ, đúng rồi, còn có thể lén hút một hai điếu thuốc. Từ thứ Hai đến giờ cậu chưa hề đụng vào một điếu nào.
"Mình đang làm gì ở đây vậy?" Cậu hỏi bằng giọng gần như không nghe thấy.
"Đó là ý tưởng của chính em mà." Reggie nói, hai tay đút sâu vào túi quần của bộ quần áo yếm mới mua.
"'Mình đang làm gì ở đây vậy?' – câu nói này đã trở thành câu hỏi em thích nhất trong tuần này rồi. Ở đâu em cũng hỏi câu đó, dù là ở bệnh viện, trong tù hay tòa án, đi đâu cũng hỏi."
"Em muốn về nhà không, Mark?"
"Nhà nào cơ?"
"Memphis. Chị đưa em về tìm mẹ em."
"Được thì được, nhưng em sẽ không được ở cùng bà ấy, đúng không? Thực tế là chưa kịp đến gần phòng của Ricky, họ đã lôi em đi rồi. Em sẽ lại quay lại nhà tù, quay lại tòa án; em sẽ lại gặp Harry, và ông ta sẽ rất giận dữ, phải không?"
"Đúng, nhưng chị có thể làm việc với Harry."
"Em không thể quay lại, Reggie."
Tuy nhiên, cả hai người họ đều không tin rằng mình sẽ thực sự đi đào xác của Boyd Boyette. Giữa chừng khi đi làm việc đó, chắc chắn sẽ có chuyện xảy ra khiến họ sợ hãi mà bỏ chạy, chạy thẳng về Memphis. Một trong hai người họ sớm muộn gì cũng sẽ thừa nhận điều đó.
Reggie dừng lại ở tấm biển báo nửa dặm. Bên trái họ là một cánh đồng cỏ rộng lớn, ở giữa có một cái chòi cho mọi người dã ngoại; bên phải là một con đường mòn nhỏ dẫn sâu vào trong rừng. "Hãy thử con đường này xem," Reggie nói, thế là họ rời khỏi con đường dành cho xe đạp.
Mark đi sát phía sau Reggie, hỏi: "Chị có biết chị đang đi đâu không?"
"Không. Dù sao thì cứ đi theo chị là được."
Con đường nhỏ dần rộng ra rồi đột ngột biến mất. Dưới đất đầy vỏ chai bia và túi đựng khoai tây chiên. Hai người họ len lỏi qua cây cối và bụi rậm cho đến khi tìm thấy một bãi đất trống nhỏ. Lúc này ánh nắng đột nhiên trở nên rực rỡ. Reggie lấy tay che mắt, nhìn hàng cây được xếp ngay ngắn trước mặt.
Sau đó họ nhìn thấy hàng rào. Phía bên kia hàng rào sắt, bức tượng Nữ thần Chiến thắng màu đỏ đứng trơ trọi ở đó, bị bỏ lại ngay sát gara của Romy. Cuối khu rừng cách hàng rào đó chưa đầy hai mươi bộ. Giữa hàng rào và bức tường phía sau gara có hàng chục cây sồi và cây du phủ đầy rêu Tây Ban Nha, chúng che khuất hoàn toàn sân sau.
Chẳng có gì lạ khi Romy là một kẻ lười biếng, vì ông ta chất đống ván gỗ, gạch vụn, xô chậu và cả cào cỏ sau gara, từ con phố phía trước nhìn vào hoàn toàn không thấy gì cả.
Trên hàng rào sắt có một cái cổng. Bức tường phía sau gara có một cửa sổ và một cánh cửa. Dựa vào tường là những bao phân bón chưa dùng đến đã hết hạn; bên cạnh cửa còn để một chiếc máy cắt cỏ cũ nát bị gãy tay cầm. Tóm lại, sân sau cỏ dại mọc um tùm, tình trạng này đã kéo dài một thời gian khá lâu rồi. Dọc theo hàng rào cỏ dại mọc cao ngang đầu gối.
Hai người họ ngồi xổm trong bụi rậm, nhìn chằm chằm vào cái gara đó. Họ không thể đến gần hơn nữa, vì khu vực ăn uống ngoài trời và bếp nướng của hàng xóm ở ngay sát bên.
Reggie muốn nín thở nhưng không làm được, cô nắm chặt lấy một bàn tay của Mark; nghĩ đến việc thi thể của một thượng nghị sĩ Mỹ đang được chôn cách nơi cô đang ẩn náu chưa đầy một trăm bộ, cô cảm thấy điều đó thật khó tin.
"Chúng ta đến đó chứ?" Mark hỏi. Câu nói này gần như là một lời thách thức, nhưng Reggie vẫn cảm nhận được một tia nhút nhát trong giọng nói của cậu. Tốt lắm, cô thầm nghĩ, cậu ấy sợ rồi.
Cô nín thở, một lúc lâu sau mới thì thầm: "Không, chúng ta đi xa thế này là đủ rồi."
Mark do dự một lúc lâu rồi nói: "Việc này không khó."
"Đó là một cái gara lớn đấy," Reggie nói.
"Em biết chính xác vị trí của nó."
"Được rồi, đến tận bây giờ chị vẫn không ép em nói ra, nhưng chẳng lẽ em không nghĩ đã đến lúc cho chị chia sẻ bí mật của em rồi sao?"
"Nó ở dưới chiếc thuyền."
"Ông ta đã nói với em?"
"Vâng. Ông ấy nói rất rõ, thi thể được chôn ngay dưới chiếc thuyền."
"Nếu không có thuyền thì sao?"
"Vậy thì chúng ta cứ mặc kệ đám ngu ngốc đó thôi."
Mark cuối cùng bắt đầu đổ mồ hôi và thở dốc, Reggie cho rằng mình đã xem đủ rồi, vì vậy cô ngồi xổm người, bắt đầu lùi lại phía sau. "Chị phải đi đây," cô nói.
Kay O. Lewis hoàn toàn không rời khỏi máy bay. Khi máy bay hạ cánh, McThune và đám người của ông ta đã đợi sẵn ở sân bay. Tranh thủ lúc máy bay tiếp nhiên liệu, họ như xung phong lao lên máy bay. Ba mươi phút sau, họ khởi hành bay đến New Orleans, nơi Larry Truman đang sốt ruột chờ đợi họ.
Lewis không hề thích cuộc hành động lần này. Rốt cuộc ông ta đến New Orleans để làm gì? Đó là một thành phố lớn. Không ai biết cô ta lái loại xe gì đến đó. Thực tế, Reggie và Mark lái xe đến đó hay đi máy bay, đi xe buýt hay tàu hỏa, họ hoàn toàn không biết gì cả. New Orleans là một thành phố du lịch, đồng thời cũng là thành phố thường xuyên tổ chức hội nghị; phòng khách sạn ở đó nhiều vô kể, trên đường phố người đông như kiến. Trừ khi họ phạm phải sai lầm gì, nếu không thì muốn tìm được họ là điều hoàn toàn không thể.
Tuy nhiên, Cục trưởng Voyles yêu cầu ông ta đến hiện trường, nên ông ta đành phải rời khỏi đây để đến New Orleans. Tìm được đứa trẻ đó, bắt nó mở miệng – đó là chỉ thị ông ta nhận được. Vì việc này, họ hứa sẽ cho ông ta bất cứ thứ gì ông ta muốn.
Trong ba người này có hai người, là Leo và Yunucci, vốn là tay sai kỳ cựu của gia tộc Sulari. Mặc dù họ liên tục phủ nhận, nhưng thực tế cả hai đúng là có quan hệ huyết thống với Barry "Dao Găm". Người còn lại là một thanh niên vạm vỡ nhưng mặt búng ra sữa. Cậu ta cơ bắp cuồn cuộn, cổ to eo rộng; mọi người đều gọi cậu ta là "Bò Mộng"; lý do thì không cần nói cũng hiểu. Cậu ta được cử đến làm công việc khác thường này, vì hầu hết các công việc tay chân đều phải do cậu ta làm. Barry đã đảm bảo với họ rằng việc này không khó. Còn nói lớp bê tông đó rất mỏng, hơn nữa thi thể cũng rất nhỏ. Họ chỉ cần đục chỗ này một chút, chỗ kia một chút, trong lúc vô tình là có thể nhìn thấy cái túi rác màu đen đó.
Barry đã vẽ một sơ đồ mặt bằng gara, và rất tự tin đánh dấu vị trí chính xác của ngôi mộ trên bản đồ. Ông ta còn vẽ một tấm bản đồ, trên đó đánh dấu một đường kẻ, điểm bắt đầu của đường kẻ này là bãi đỗ xe công viên phía Tây, qua sân tennis, sân bóng đá, xuyên qua một khu rừng, theo con đường dành cho xe đạp đó đến một con đường mòn nhỏ, sau đó xuyên qua một bãi đất trống có một cái chòi dã ngoại ở giữa, cuối cùng là đến bên mương nước. Việc này rất dễ, cả buổi chiều ông ta đều cố gắng xua tan sự lo lắng của họ.
Con đường dành cho xe đạp lúc này không một bóng người, cũng đúng thôi, vì bây giờ đã là mười một giờ mười phút đêm thứ Bảy rồi. Không khí oi bức, khi họ đến được con đường mòn nhỏ đó, ai nấy đều mồ hôi nhễ nhại, thở không ra hơi. Bò Mộng trẻ hơn và khỏe hơn hai người kia rất nhiều; khi hai người kia lầm bầm phàn nàn trong bóng tối về thời tiết oi bức, cậu ta đi theo phía sau họ, một mình mỉm cười. Cậu ta đoán hai người kia có lẽ đã ngoài ba mươi; hai người này bình thường hút thuốc liên tục, uống rượu thì không biết sợ là gì, ăn uống thì dáng vẻ khó coi vô cùng. Họ lải nhải phàn nàn công việc này quá vất vả, thực ra họ còn chưa đi được một dặm nữa.
"Cẩn thận." Leo đã nói câu này lần thứ mười rồi, cứ như thể cứ lặp đi lặp lại câu này thì mọi việc sẽ an toàn hơn vậy. Họ đi dọc theo lòng sông tối om, cỏ dại um tùm về phía trước hai trăm mét, rồi trèo lên bờ bên kia. Đèn pin sáng lên, họ đều bò trườn qua bụi rậm cho đến khi đến được phía sau hàng rào sắt của nhà Clifford. Họ quỳ ở đó nghỉ một lát.
"Phải biết rằng làm thế này thật ngu xuẩn." Yunucci vừa thở hổn hển vừa nói không ra hơi. "Chúng ta bắt đầu làm cái nghề trộm xác từ bao giờ thế?"
Sân sau nhà Clifford tối đen như mực, Leo đang quan sát động tĩnh ở đó. Không có lấy một tia sáng. Vài phút trước họ đã lái xe đi qua trước nhà, nhận thấy gần cửa trước có một chiếc đèn ga với chụp đèn thủy tinh hình cầu, còn phía sau nhà thì tối om. "Ngậm miệng lại." Leo không quay đầu lại nói. Họ chạy nhanh qua bãi cỏ, đến cổng hàng rào nhà Clifford, rồi bước vào. Họ chạy giữa những hàng cây, cuối cùng đến được bức tường phía sau gara. Yunucci đau đớn không chịu nổi, chỉ thấy anh ta nằm sấp xuống đất, cơ thể phập phồng dữ dội. Leo bò đến một góc gara, quan sát động tĩnh nhà hàng xóm, không thấy gì cả, ngoại trừ tiếng tim đập thình thịch của Yunucci như sắp ngừng đập, không nghe thấy gì khác. Bò Mộng nhìn trộm ở góc kia, chú ý động tĩnh phía sau căn nhà của Clifford.
Cả khu phố đều chìm vào giấc mộng, đến cả chó cũng đi ngủ hết rồi.
Leo đứng dậy, muốn thử mở cửa sau gara, cửa đã khóa. "Ở đây đừng động đậy." Ông ta dặn dò, rồi khom người đi dọc theo tường gara đến cửa trước, cửa trước cũng khóa. Ông ta lại quay lại phía sau bức tường, nói: "Chúng ta phải đập kính thôi, cửa trước cũng khóa rồi."
Yunucci lấy từ chiếc túi nhỏ bên hông ra một cái búa, Leo bắt đầu gõ nhẹ vào ô kính cửa sổ bẩn thỉu phía trên tay nắm cửa. "Để ý góc kia." Ông ta dặn Bò Mộng. Bò Mộng bò ra sau ông ta, nhìn về hướng nhà Ballantine bên cạnh.
Leo cứ gõ nhẹ mãi cho đến khi ô kính vỡ tan. Ông ta cẩn thận lấy những mảnh kính vỡ ra, vứt sang một bên. Đợi những mảnh kính sắc nhọn trên khung cửa sổ được dọn sạch, ông ta thò cánh tay trái vào, mở khóa cửa. Ông ta bật đèn pin lên, ba người cùng nhau bước vào.
Barry đã nói ông ta nhớ nơi này bừa bộn; rõ ràng, Clifford trước khi chết quá bận rộn, không rảnh để dọn dẹp đồ đạc cho gọn gàng. Điều đầu tiên họ chú ý là sàn gara được trải bằng đá vụn, chứ không phải đổ bê tông. Leo đá vài cái vào đống đá vụn dưới chân mình. Ngay cả khi Barry đã nói với họ nền ở đây được trải bằng đá vụn, bây giờ ông ta cũng không nhớ nữa.
Chiếc thuyền nhỏ nằm ngay giữa gara. Đó là một chiếc thuyền dài mười sáu bộ, có gắn động cơ ngoài và thiết bị lướt ván, trên thuyền phủ đầy bụi. Bốn chiếc lốp trên xe kéo thì ba chiếc bị xẹp. Chiếc thuyền này ít nhất vài năm rồi chưa xuống nước.
Leo chiếu chùm sáng đèn pin trực tiếp vào phía dưới thanh ngang của xe kéo thuyền. Ông ta ra hiệu cho Bò Mộng qua đây, Bò Mộng nằm xuống, bắt đầu dùng tay quét sạch những viên đá vụn màu trắng đó. Yunucci lại lấy từ túi bên hông ra một chiếc xẻng nhỏ. Bò Mộng cầm lấy xẻng, cạo thêm nhiều đá vụn ra. Hai người đồng bọn đứng hai bên vai cậu ta.
Khi đào sâu xuống hai inch, tiếng sắt cạo vào bê tông thay đổi, chiếc thuyền này quá vướng víu. Bò Mộng đứng dậy, từ từ nhấc chốt kéo lên, rồi dùng sức kéo mạnh một cái, khiến phần trước của xe kéo dịch chuyển sang một bên năm bộ. Một bên xe kéo quẹt vào đống lon nhôm chất cao như núi, gây ra một hồi âm thanh loảng xoảng rất dài. Mấy người này lập tức sững sờ, đứng im bất động lắng nghe âm thanh đó.
"Cẩn thận một chút," Leo thì thầm với Bull. "Hai người cứ ở đây, đừng nhúc nhích." Hắn bảo hai người họ đứng dựa vào thành thuyền trong bóng tối, còn bản thân thì lẻn ra ngoài bằng cửa sau. Hắn đứng cạnh một cái cây lớn phía sau gara, quan sát động tĩnh trong ngôi nhà của gia đình Ballantine ở ngay bên cạnh. Lúc này bên ngoài tối đen như mực, bốn bề tĩnh lặng. Trong sân có một chiếc đèn đường, hắt ra luồng sáng yếu ớt lên hàng rào sắt và bồn hoa, nhưng chẳng thấy có gì chuyển động. Leo dáo dác nhìn quanh, chờ đợi. Hắn nghĩ rằng đám hàng xóm này lúc này e là tiếng búa hơi đập bên tai cũng chẳng nghe thấy. Hắn lại rón rén quay về phía gara, chiếu đèn pin vào lớp bê tông dưới đống sỏi. "Làm quách cho xong cái công việc xui xẻo này đi," hắn nói, Bull lại quỳ xuống.
Barry đã giải thích với họ, rằng hắn đào một cái huyệt khá nông, dài khoảng 6 feet, rộng 2 feet, sâu chưa đầy 18 inch. Sau đó nhét cái xác vào. Tiếp đó, hắn đổ bê tông đã trộn sẵn xung quanh cái xác, vốn được bọc trong túi rác nhựa màu đen. Cuối cùng, hắn tưới thêm chút nước lên kiệt tác nhỏ bé của mình. Hôm sau, hắn quay lại đó, phủ sỏi lên trên và đẩy chiếc thuyền về vị trí cũ.
Hắn làm việc khá gọn gàng. Barry nói cái huyệt này chỉ là tạm thời, hắn vốn định di dời cái xác, ai ngờ sau đó người của FBI bắt đầu theo dõi hắn. Leo và Unuci trước đây từng xử lý vài cái xác; thường thì chúng được nhét vào thùng phuy nặng rồi ném xuống nước. Lần này, chỗ giấu xác tạm thời của Barry lại để lại ấn tượng sâu sắc cho cả hai.
Bull ở đó cào rồi quét, chẳng mấy chốc toàn bộ bề mặt bê tông đã lộ ra. Unuci quỳ xuống phía bên kia, cùng Bull bắt đầu dùng đục và búa phá bê tông. Leo đặt đèn pin lên đống sỏi bên cạnh họ, rồi lại lẻn ra ngoài bằng cửa sau. Hắn khom người, di chuyển về phía mặt trước của gara. Bốn bề tĩnh mịch. Bên ngoài vẫn nghe tiếng búa đục chan chát, nhưng không sao cả. Hắn bước nhanh đến phía sau nhà Clifford, cách đó chừng năm mươi feet, ở đây gần như không còn nghe thấy tiếng đục đẽo nữa, trên mặt hắn nở một nụ cười. Ngay cả khi người nhà Ballantine có thức, họ cũng không thể nghe thấy âm thanh ở đây.
Hắn lại chạy về phía gara, ngồi xuống trong bóng tối giữa góc tường và bức tượng Nữ thần Chiến thắng, từ đây hắn có thể nhìn thấy con phố. Một chiếc xe hơi nhỏ màu đen di chuyển trên con đường ngoằn ngoèo trước nhà rồi biến mất. Không còn chiếc xe nào khác nữa. Qua hàng rào cây, hắn có thể nhìn thấy hình dáng ngôi nhà của gia đình Ballantine, không có gì chuyển động. Âm thanh duy nhất hắn nghe được là tiếng đục bê tông trầm đục truyền đến từ phía mộ phần của Boyd-Boyte.
Chiếc xe Concord của Clint đỗ gần sân tennis. Phía sát đường còn đỗ một chiếc Cadillac nhỏ màu đỏ. Reggie tắt đèn và tắt máy.
Hai người lặng lẽ ngồi trong xe, nhìn qua kính chắn gió ra sân bóng đá trong bóng tối. Reggie nghĩ đây đúng là nơi tuyệt hảo để bị cướp, nhưng cô không nói ra. Ngay cả khi không nghĩ đến chuyện bị cướp, những điều đáng sợ cũng đã đủ nhiều rồi.
Từ lúc trời tối, Mark hầu như rất ít nói. Chủ quán đã giao bánh pizza kiểu Ý đến nhà nghỉ theo yêu cầu của họ, sau đó hai người nằm chung giường ngủ được một tiếng, rồi lại xem tivi một lát. Cậu cứ liên tục hỏi Reggie về thời gian, như thể sắp phải ra pháp trường đến nơi. Đến mười giờ, Reggie bắt đầu tin chắc rằng cậu sắp bỏ cuộc. Đến mười một giờ, cậu bắt đầu đi đi lại lại trong phòng, lúc thì ra phòng tắm, lúc lại quay vào.
Thế mà đến mười một giờ bốn mươi, họ lại có mặt ở đây, trong đêm tối mịt mù, ngồi trong chiếc xe nóng hầm hập, chuẩn bị thực hiện một nhiệm vụ hoàn toàn không thể thực hiện nổi; thực ra cả hai người chẳng ai thật lòng muốn làm việc này.
"Chị nói xem liệu có ai biết chúng ta ở đây không?" Cậu khẽ hỏi Reggie.
Reggie nhìn cậu. Còn ánh mắt cậu lại hướng về phía nào đó bên kia sân bóng đá. "Ý em là ở New Orleans sao?"
"Vâng. Chị nghĩ có ai biết chúng ta ở New Orleans không?"
"Không đâu. Chị nghĩ không ai biết đâu."
Có vẻ câu trả lời này khiến cậu rất hài lòng. Khoảng bảy giờ, cô đã nói chuyện với Clint. Một đài truyền hình ở Memphis đã đưa tin rằng cô cũng mất tích, nhưng hiện tại mọi thứ vẫn có vẻ bình lặng. Clint đã mười hai tiếng không rời khỏi phòng ngủ, vì vậy, anh nói, hãy bảo họ nhanh lên, dù họ định làm gì thì cũng làm cho nhanh đi. Cô đã gọi cho bà Love. Dù bà rất lo lắng, nhưng trong tình cảnh hiện tại, bà thể hiện khá tốt.
Hai người ra khỏi xe, đi dọc theo con đường dành cho xe đạp.
"Em thực sự định làm vậy sao?" Reggie vừa hỏi vừa lo lắng nhìn quanh. Con đường nhỏ tối đen như mực, nhờ có mặt đường nhựa dưới chân mà họ không đi lạc vào rừng. Họ sát vai nhau, tay nắm tay, chậm rãi bước đi. Thành phố này, trong những cánh rừng này, trên con đường này, rốt cuộc là vì cái gì. Dù cô thực lòng yêu thương đứa trẻ này, nhưng cô không muốn chết thay cho nó. Cô nắm chặt tay Mark, muốn nhờ đó mà lấy thêm can đảm. Đúng vậy, trong lòng cô quả thực đang không ngừng cầu nguyện, mong sao có chuyện gì đó xảy ra ngay lập tức, để họ có thể lập tức chạy về xe rồi rời khỏi New Orleans.
"Em đang nghĩ đến một chuyện," Mark nói.
"Chị sẽ không ngạc nhiên đâu."
"Thực sự tìm thấy cái xác có lẽ rất khó, chị biết mà. Nên em quyết định thế này. Chị cứ ở lại trong rừng sát con mương, hiểu chứ, còn em, em sẽ lẻn từ sân sau vào gara. Em muốn kiểm tra dưới gầm thuyền, biết chứ, để xem nó có thực sự ở đó không. Rồi chúng ta sẽ rời khỏi đây."
"Em nghĩ chỉ cần kiểm tra dưới gầm thuyền là thấy cái xác sao?"
"Có lẽ em sẽ thấy chỗ chôn nó, chị nghĩ sao?"
Cô siết chặt tay cậu hơn. "Nghe chị này, Mark, chúng ta bị buộc chặt vào nhau, đúng không. Nếu em định vào gara, thì chị cũng phải đi cùng." Giọng cô vô cùng kiên định. Tất nhiên, họ không thể vào gara được.
Trong rừng có một khoảng trống nhỏ. Qua ánh sáng từ chiếc đèn treo trên cột, họ thấy bên trái mình là một cái chòi dã ngoại. Còn con đường mòn ngoằn ngoèo bắt đầu từ bên phải họ. Mark ấn nút, chiếc đèn pin nhỏ trong tay cậu lập tức chiếu một luồng sáng, soi rõ con đường phía trước. "Theo chị," Mark nói, "Không ai thấy chúng ta ở đây đâu."
Cậu di chuyển khéo léo, không một tiếng động trong rừng. Lúc nãy ở nhà nghỉ, cậu đã liệt kê bao nhiêu chuyện cũ, đều là về việc cậu đi dạo trong rừng gần khu nhà di động vào đêm khuya, và những trò chơi mà lũ con trai thường chơi trong bóng tối. Cậu gọi đó là trò chơi trong rừng rậm. Lúc này, tay cầm đèn pin, cậu đi nhanh hơn, cơ thể thỉnh thoảng cọ vào những cành cây lớn, lại phải chú ý tránh những bụi cây nhỏ.
"Đi chậm thôi, Mark," Reggie nói không dưới một lần.
Mark nắm tay cô, giúp cô xuống dốc mương. Họ leo qua bên kia mương, rồi không ngừng xuyên qua rừng và bụi rậm, cho đến khi tìm thấy con đường mòn khiến họ kinh ngạc vài giờ trước. Hàng rào hiện ra trước mắt họ. Họ từ từ, rón rén bước tới, Mark tắt đèn pin trong tay.
Lúc này họ đã đến bụi rậm rậm rạp ngay sau nhà Clifford. Hai người quỳ xuống, nín thở. Qua bụi rậm và cỏ dại có thể thấy hình dáng bức tường sau của gara.
"Nếu chúng ta không thấy cái xác thì sao?" Reggie hỏi, "Lúc đó làm gì?"
"Đợi chuyện đó xảy ra rồi hãy lo."
Bây giờ không phải lúc tranh cãi thêm về quyết định này, Mark nằm rạp người xuống đất, từ từ bò về phía mép bụi rậm rậm rạp. Reggie bắt chước cậu cũng bò theo. Họ dừng lại cách cổng rào hai mươi feet, cỏ xung quanh cao và rậm, ướt sũng. Sân sau tối om và tĩnh lặng, không một tia sáng, không một tiếng động, cũng không có bất kỳ chuyển động nào. Cả con phố này đang chìm trong giấc ngủ.
"Reggie, chị cứ ở đây. Cúi đầu xuống. Em quay lại ngay."
"Không được!" Reggie thì thầm lớn tiếng, "Em không thể làm thế, Mark!"
Nhưng cậu đã bò đi mất. Đối với cậu, đây chỉ là một trò chơi. Lại là một trò chơi trong rừng rậm mà cậu và đám bạn thường chơi, họ đuổi theo cậu, dùng súng bắn mực màu bắn vào cậu, cậu trườn như một con thằn lằn trong đám cỏ, cậu đẩy cánh cổng ra một chút, vừa đủ để lách vào.
Reggie nằm trên mặt đất, bò trong đám cỏ, theo sau cậu, rồi dừng lại, vì Mark đã biến mất. Mark dừng lại sau cái cây lớn đầu tiên trên đường đi, lắng nghe động tĩnh xung quanh. Cậu lại bò đến cái cây tiếp theo, lần này cậu nghe thấy một chút âm thanh. "Keng! Keng!" Cậu nằm im bất động, âm thanh đó truyền ra từ gara. "Keng! Keng!" Âm thanh rất chậm rãi. Cậu nhìn quanh cái cây, rồi hướng mắt về phía cửa sau gara. "Keng! Keng!" Cậu liếc nhìn lại phía sau, muốn xem Reggie, nhưng rừng cây và bụi rậm tối om, hoàn toàn không thấy bóng dáng cô đâu. Cậu lại nhìn cánh cửa đó. Lần này cậu phát hiện có điều khác lạ. Cậu lại bò tới sau cái cây khác, chỗ này gần gara hơn mười feet. Âm thanh lúc này to hơn. Cửa gara hé mở, một tấm kính trên cửa đã mất.
Bên trong có người! "Keng! Keng!" Có người đang trốn bên trong, đèn cũng không dám bật, hắn đang đào bới! Mark hơi thở dồn dập. Cậu bò đến sau một đống sỏi, cách cửa sau gara chưa đầy 10 feet. Cậu biết đến giờ mình chưa gây ra tiếng động nào. Cỏ xung quanh đống sỏi sâu hơn chỗ khác, Mark bò chậm rãi trong cỏ như một con tắc kè hoa. "Keng! Keng!"
Cậu khom lưng, bắt đầu đi về phía cửa sau. Một món đồ nhỏ đã mục nát, cái đầu rách nát của nó vướng vào mắt cá chân Mark khiến cậu ngã nhào. Đống sỏi phát ra tiếng động, hóa ra là một thùng sơn rỗng rơi xuống đất.
Leo lập tức bật dậy, lao về phía cửa sau gara. Hắn rút từ thắt lưng ra một khẩu súng lục 0.38 ly có lắp ống giảm thanh, chạy trong bóng tối, đến góc tường này, ngồi xổm xuống, lắng nghe động tĩnh xung quanh. Trong gara, tiếng búa đục cũng dừng lại, Unuci nhìn ra ngoài qua cửa sau.
Reggie nghe thấy tiếng động phát ra từ phía sau gara, lập tức ép chặt bụng mình vào đám cỏ ướt sũng. Cô nhắm mắt, bắt đầu cầu nguyện. Rốt cuộc tại sao cô lại đến đây?
Leo rón rén đến chỗ đống sỏi, đi vòng quanh vài vòng thật nhanh; khẩu súng vẫn cầm trên tay, sẵn sàng khai hỏa. Hắn lại ngồi xổm xuống, kiên nhẫn quan sát mọi thứ trong bóng tối xung quanh, từ đây gần như không nhìn thấy hàng rào, bốn bề không có chút động tĩnh. Hắn lại lặng lẽ đi đến cái cây khác, cách tường sau gara mười lăm feet, đứng đợi ở đó. Unuci luôn chăm chú theo dõi mọi cử động của hắn. Vài giây trôi qua, không có động tĩnh gì. Leo đứng dậy, khom lưng chậm rãi đi về phía cổng rào. Một cành cây gãy đánh "rắc" dưới chân hắn, hắn đứng sững lại tại chỗ trong chốc lát, không dám nhúc nhích.
Hắn đi quanh sân sau một vòng; lúc này lá gan hắn to hơn một chút, nhưng súng vẫn cầm trong tay. Hắn dựa người vào một cái cây, đây là một cây sồi to lớn, những cành thấp của nó nằm rất gần ranh giới nhà Ballantine. Mark lúc này đang trốn trong hàng rào cây mọc lởm chởm cách hắn chưa đầy mười hai feet. Cậu nín thở, cơ thể ép chặt xuống đất, nãy giờ cậu vẫn luôn theo dõi cái bóng đen không ngừng di chuyển trong bóng tối giữa các gốc cây, cậu hiểu rằng chỉ cần mình không gây tiếng động thì sẽ không bị phát hiện. Lúc này cậu từ từ thở ra, mắt không chớp nhìn chằm chằm vào bóng đen của người đàn ông đang đứng cạnh cái cây.
"Chuyện gì vậy?" Một giọng nói trầm thấp phát ra từ gara. Leo nhét khẩu súng lục vào thắt lưng, quay lại. Unuci lúc này đã đứng ngoài cửa, "Chuyện gì vậy?" Hắn hỏi lại lần nữa.
"Không biết," Leo nói bằng giọng gần như thì thầm. "Có lẽ là con mèo hay gì đó, quay lại làm việc đi."
Cửa đóng lại nhẹ nhàng, Leo lặng lẽ đi đi lại lại sau gara trong năm phút. Chỉ năm phút thôi, nhưng đối với Mark thì như dài cả tiếng đồng hồ.
Sau đó, cái bóng đen rẽ qua góc tường rồi biến mất. Mark quan sát động tĩnh xung quanh; cậu chậm rãi đếm từ một đến một trăm, rồi bò dọc theo hàng rào cây, bò mãi đến tận cuối hàng rào. Cậu dừng lại ở cổng, đếm đến ba mươi. Ngoài tiếng đục đẽo rất trầm truyền đến từ xa, bốn bề im phăng phắc. Lúc này cậu đột nhiên bật dậy, lao tới mép bụi rậm; Reggie đang co ro ở đó, sợ hãi vô cùng. Khi cả hai cùng trốn vào hàng rào cây dày đặc hơn, Reggie nắm chặt lấy Mark.
"Họ ở trong đó!" Mark thở hổn hển nói.
"Ai?"
"Không biết. Họ đang đào xác ra ngoài!"
"Rốt cuộc xảy ra chuyện gì?"
Hơi thở của Mark rất gấp gáp. Cậu nóng lòng muốn nói nên hít thở từng ngụm lớn, đầu lắc lư theo cơ thể. "Em bị cái gì đó vướng vào, có một gã đi ra, em nghĩ hắn có súng, hắn suýt nữa phát hiện ra em. Trời ơi, lúc đó em sợ chết khiếp."
"Bây giờ em vẫn còn sợ. Chị cũng sợ chết khiếp đây! Chúng ta nhanh rời khỏi đây đi!"
"Reggie, chị nghe này. Đợi một chút. Nghe đi! Nghe thấy gì không?"
"Không! Nghe thấy gì chứ?"
"Tiếng keng keng đó. Em cũng không nghe thấy nữa, chúng ta cách quá xa."
"Chị nói chúng ta rời đi xa hơn nữa đi. Đi thôi."
"Đợi một lát nữa, Reggie. Chết tiệt!"
"Mark, bọn chúng là lũ sát thủ. Bọn chúng là người của Mafia đấy. Rời khỏi cái chỗ chết tiệt này nhanh đi."
Mark trừng mắt nhìn Reggie. Nghiến răng nói nhỏ: "Đừng căng thẳng, Reggie. Đừng căng thẳng, được không? Nhìn xem, không ai thấy chúng ta ở đây đâu. Phía gara còn không nhìn thấy cây cối ở đây. Em thử rồi, đúng mà. Thôi, yên tâm đi."
Reggie quỳ xuống, hai người cùng nhìn chằm chằm vào gara. Mark đưa một ngón tay lên môi, khẽ nói: "Chúng ta an toàn ở đây, đúng vậy. Nghe này."
Họ lắng nghe, nhưng không nghe thấy âm thanh đó nữa.
"Mark, những kẻ này là do phái Maldano cử đến. Bọn chúng biết em đã trốn thoát nên đang hoảng sợ. Bọn chúng có súng, còn có dao, ai mà biết còn có thứ gì khác nữa, chúng ta đi thôi, dù bọn chúng có đánh bại chúng ta, xong đời rồi, bọn chúng thắng rồi."
"Chúng ta không thể để bọn chúng mang xác đi, Reggie. Chị nghĩ mà xem. Nếu cái xác bị mang đi thì sẽ không bao giờ tìm thấy nữa."
"Thế thì tốt quá. Như vậy em không còn nguy hiểm nữa, Mafia cũng sẽ quên em đi. Bây giờ chúng ta đi thôi."
"Không được, Reggie. Chúng ta phải làm gì đó mới được."
"Cái gì! Em muốn đánh nhau với lũ côn đồ Mafia sao? Thôi đi, Mark. Làm thế là điên rồ đấy."
"Chỉ đợi một phút thôi."
"Được rồi, thế thì chị đợi đúng một phút, rồi chị đi."
Mark quay lại mỉm cười với cô, nói: "Chị sẽ không bỏ rơi em đâu, Reggie. Em biết chị sẽ không làm thế."
"Đừng ép chị, Mark. Lúc các em dùng vòi nước trêu chọc Clifford, Ricky cảm thấy thế nào, bây giờ chị đã hiểu rồi."
"Yên lặng chút, được không. Chị đang nghĩ chuyện đây."
"Đây chính là điều khiến chị sợ nhất."
Cô ngồi bệt xuống đất, hai chân bắt chéo trước mặt. Những chiếc lá và dây leo thỉnh thoảng quẹt vào mặt cô. Mark nằm trên đất không ngừng run rẩy, như một con sư tử chuẩn bị bắt con mồi. Cuối cùng cậu cũng mở lời: "Em nghĩ ra một ý."
"Tất nhiên là em nghĩ ra rồi."
"Ở đây đi."
Cô bất ngờ túm lấy gáy cậu, xoay mặt cậu về phía mình. "Nghe này, nhóc con, đây không phải trò chơi trong rừng rậm mà em từng chơi đâu, lúc đó các em bắn ra là mũi tên cao su, ném đi là cục đất. Còn những kẻ đó không phải là đám bạn chơi trốn tìm trong rừng với em, cũng không phải lính Mỹ, dù các em có đóng giả là gì đi nữa, thì bọn chúng cũng không phải. Đây là chuyện sống còn đấy, Mark. Em vừa mắc sai lầm một lần rồi, coi như em mạng lớn. Mắc sai lầm lần nữa là mất mạng đấy. Bây giờ rời khỏi cái chỗ quỷ quái này đi, đi ngay bây giờ."
Khi cô mắng, Mark nằm im bất động vài giây, rồi cậu hung hăng vùng ra. "Ở đây, đừng nhúc nhích," cậu bỏ lại một câu với khuôn mặt căng thẳng, rồi bò ra khỏi bụi rậm, băng qua bãi cỏ, bò về phía hàng rào.
Ngay lối vào cổng hàng rào có một bồn hoa bỏ hoang, xung quanh được bao bằng những tấm gỗ cắm xuống đất, trong bồn toàn cỏ dại. Mark bò đến bồn hoa đó, chọn lựa hồi lâu trên mặt đất, cuối cùng chọn ra ba hòn đá. Cậu chọn rất kỹ càng, giống như một đầu bếp chọn cà chua ở chợ vậy. Cậu quan sát hai góc gara một lát, rồi lặng lẽ rút lui vào bóng tối.
Reggie đợi tại chỗ, không nhúc nhích. Mark biết cô không tìm được đường về xe, cậu biết cô cần cậu. Họ lại cùng chen chúc trong bụi rậm.
"Mark, con của chị, làm thế này là điên rồ đấy," Reggie gần như đang cầu xin. "Làm ơn đừng làm nữa, những kẻ này không phải đang chơi trò chơi đâu."
"Bọn chúng bận quá, không quan tâm đến chúng ta được đâu, đúng mà. Chúng ta an toàn ở đây, Reggie. Này, ngay cả khi bọn chúng lao ra từ cánh cửa đó bây giờ, thì bọn chúng cũng không thể tìm thấy chúng ta. Reggie, chúng ta an toàn ở đây. Tin chị đi."
"Tin em! Đến chính em cũng sẽ bị giết đấy."
"Ở đây đi."
"Cái gì! Làm ơn đi, Mark! Đừng chơi trò chơi nữa!"
Mark không thèm để ý đến cô, chỉ chỉ về phía một nơi cách khoảng ba mươi feet gần ba cái cây, nói một câu "Em quay lại ngay," rồi biến mất.
Cậu bò trong bụi rậm này, bò mãi, bò đến tận sau nhà Ballantine. Từ đây, cậu gần như không nhìn thấy gara của Romy. Reggie cũng bị hàng rào cây tối om nuốt chửng.
Chỗ ăn ngoài trời của gia đình này khá nhỏ, còn thắp một chiếc đèn mờ. Ở đó có ba chiếc ghế mây trắng, và một cái vỉ nướng thịt bằng than. Một ô cửa sổ lắp kính dày nằm ngay phía trên chỗ ăn; chính ô cửa sổ này thu hút sự chú ý của Mark. Cậu đứng sau một cái cây, ước lượng khoảng cách giữa mình và ô cửa sổ đó; theo cậu ước tính khoảng cách này dài bằng hai căn nhà di động. Đá không được ném quá cao, kẻo trúng cành cây; nhưng không được ném quá thấp, như vậy mới tránh được hàng rào cây. Cậu hít một hơi thật sâu, dồn hết sức bình sinh ném hòn đá đi.
Nghe tiếng động, Leo bật dậy ngay lập tức phía nhà Clifford. Hắn bò đến trước gara, quan sát qua hàng rào cây. Chỗ ăn ngoài trời nhà đó tĩnh lặng, không một tiếng động. Tiếng vừa rồi nghe như có hòn đá rơi trên tấm gỗ, rồi lăn vài vòng bên tường gạch, phát ra mấy tiếng kêu. Có lẽ đó chỉ là tiếng động do con chó gây ra, họ an toàn, lại là một phen hú vía.
Ông Ballantine lật người, nhìn trần nhà. Ông mới ngoài sáu mươi một chút; từ khi sàn nhảy disco đó chuyển đi cách đây một năm rưỡi, ông rất khó ngủ vào ban đêm. Ông vừa chợp mắt thì bị đánh thức bởi một âm thanh. Đó có phải chỉ là một âm thanh không? Ngày nay, ở New Orleans không còn tìm thấy nơi nào an toàn nữa, vì vậy sáu tháng trước ông đã chi hai nghìn đô la lắp đặt hệ thống báo động an ninh tại nhà, tội phạm tràn lan. Họ vẫn luôn cân nhắc xem có cần thiết phải chuyển nhà hay không.
Ông Ballantine lại trở mình; ngay khi vừa nhắm mắt, một tiếng "đoàng" vang lên, cửa kính vỡ tan tành. Ông bật dậy lao ra cửa phòng, bật đèn ngủ rồi hét lớn: "Wanda, dậy đi! Dậy mau!" Wanda vội với lấy áo ngủ, còn ông Ballantine lôi từ trong tủ ra một khẩu súng săn. Cùng lúc đó, còi báo động bắt đầu hú lên chói tai. Hai người lao xuống đại sảnh, vừa chạy vừa hét lớn vào mặt nhau, tay chân luống cuống bật hết các công tắc đèn. Trong thư phòng, mảnh kính vỡ vương vãi khắp nơi. Ông Ballantine chĩa nòng súng về phía cửa sổ, như thể đang phòng bị cho một đợt tấn công khác. "Gọi cảnh sát mau!" Ông quát lên với Wanda, "Gọi 911!"
"Tôi biết số rồi!"
"Nhanh lên!" Ông Ballantine đi đôi dép lê, nhón chân đi vòng quanh những mảnh kính vỡ. Ông giương súng, khom người, trông như thể có kẻ trộm đang định đột nhập qua cửa sổ. Với tư thế chiến đấu đó, ông tiến vào bếp, gõ vài con số trên bảng điều khiển, tiếng còi báo động liền im bặt.
Leo quay lại vị trí gác gần bức tượng Nữ thần Chiến thắng. Vừa ngồi xuống, anh đã nghe tiếng kính vỡ xé toạc màn đêm tĩnh mịch. Trong lúc vội vàng đứng dậy, anh cắn phải lưỡi đến bật máu. Anh chẳng màng đến điều đó, lao thẳng về phía hàng rào cây. Một chiếc còi báo động hú lên rồi tắt ngấm. Một người đàn ông mặc áo ngủ đỏ dài đến đầu gối, tay cầm súng săn, chạy ra khu vực ăn uống ngoài trời.
Leo vội vã bò đến cửa sau của gara. Unuchi và Bull đang nằm rạp bên cạnh chiếc thuyền nhỏ, sợ đến mất vía. Leo giẫm phải một chiếc cào cỏ, cán cào đập trúng túi đựng đầy vỏ lon nhôm. Cả ba người sợ đến mức không dám thở mạnh. Chắc chắn nhà hàng xóm đã nghe thấy tiếng động này.
"Chuyện quái gì thế này?" Unuchi nghiến răng hỏi. Anh ta và Bull mồ hôi nhễ nhại, áo sơ mi dính chặt vào người.
"Tôi không biết." Leo đáp gắt gỏng. Anh vừa nhổ máu trong miệng ra, vừa nhích từng chút một về phía cửa sổ. Cửa sổ này nhìn thẳng ra hàng rào ngăn cách nhà Ballantine với bên này. "Tôi đoán có thứ gì đó chui qua cửa sổ. Tôi cũng chẳng rõ nữa, tên khốn điên rồ kia còn cầm cả súng săn kìa."
"Cầm cái gì cơ!" Unuchi suýt hét lên. Cậu ta và Bull từ từ ngẩng đầu, vươn về phía cửa sổ, sát cạnh đầu Leo. Gã điên cầm súng săn đang đi lại trong sân sau, vừa dậm chân vừa gào thét vào những cái cây.
Ông Ballantine vốn ghét New Orleans, ghét ma túy, ghét cả đám lưu manh chuyên đi trộm cắp; tóm lại, ông ghét mọi hoạt động phạm pháp và ghét phải sống trong sợ hãi. Sự việc vừa rồi càng làm tăng thêm lòng căm ghét đó, thế là ông giương súng bắn một phát vào bụi cây. Để đám cặn bã kia hiểu rằng ông không phải kẻ dễ đụng vào. Nếu đứa nào còn dám đến đây quậy phá, ông sẽ cho nó nằm trong quan tài mà rời đi. "Đoàng!", súng lại nổ.
Ông vừa bắn, vừa làm hỏng mấy cái cây. Cùng lúc đó, bà Ballantine mặc áo ngủ màu hồng đứng ngoài hành lang la hét ầm ĩ.
Ngay khi tiếng súng vang lên, ba cái đầu trong gara nhà hàng xóm cùng đập xuống đất. "Lão già khốn kiếp này điên rồi!" Leo hét lên. Một lát sau, cả ba người đồng loạt ngẩng đầu lên; đúng lúc đó, chiếc xe cảnh sát đầu tiên tiến vào đường lái xe nhà Ballantine, ánh đèn xanh đỏ chớp nháy làm lóa mắt người nhìn.
Unuchi lao ra cửa đầu tiên, theo sau là Bull, rồi đến Leo. Dù chạy rất gấp nhưng họ vẫn cẩn thận không để cặp đôi ngốc nghếch bên cạnh chú ý. Họ cúi thấp người, lao nhanh về phía trước. Lúc thì đâm vào gốc cây này, lúc lại va vào gốc cây kia, chỉ mong chạy thoát vào rừng trước khi có thêm đạn bay tới, nhưng cuộc rút lui của họ vẫn khá trật tự.
Mark và Reggie nép sát vào nhau, trốn sâu trong bụi rậm. "Anh điên rồi!" Reggie không ngừng cằn nhằn. Cô nói không phải không có cơ sở, vì cô thực sự tin rằng đầu óc của thân chủ mình đã bị loạn thần. Tuy nhiên, cô vẫn ôm chặt lấy anh, hai người ép sát vào nhau. Ba bóng đen đang chạy trốn hớt hải, nhưng họ không nhìn thấy, phải đến khi chúng băng qua hàng rào, hai người mới phát hiện ra.
"Chúng ở đằng kia." Mark chỉ tay vào những bóng đen, nói khẽ. Chưa đầy nửa phút trước, anh vừa dặn Reggie phải để mắt tới cánh cổng đó.
"Có ba người." Anh thì thầm. Ba kẻ đó nhảy qua hàng rào cách chỗ ẩn nấp của họ chưa đầy hai mươi feet, rồi biến mất vào trong rừng.
Hai người ôm nhau chặt hơn. "Anh điên thật rồi." Reggie nói lại lần nữa.
"Có lẽ vậy, nhưng nó rất hiệu quả."
Loạt súng vừa rồi suýt khiến Reggie bỏ chạy khỏi bụi rậm. Từ khi đến đây, cô vẫn luôn run rẩy. Khi Mark quay lại và bảo rằng trong gara có người, cô sợ đến mức không chịu nổi. Khi Mark ném đá qua cửa sổ vào nhà, cô suýt chút nữa đã hét lên. Còn khẩu súng săn kia cuối cùng đã khiến cô không thể chịu đựng thêm được nữa. Tim cô đập liên hồi, đôi bàn tay không ngừng run rẩy.
Kỳ lạ thay, lúc này cô lại hiểu rằng không thể chạy được nữa. Ba tên trộm mộ kia đang chạy giữa họ và chiếc xe hơi, hai người không còn đường lui.
Tiếng súng vừa rồi đã đánh thức hàng xóm. Sân sau của các nhà đều bật đèn pha, những người đàn ông và phụ nữ mặc áo ngủ đều bước ra sân, nhìn về phía nhà Ballantine. Mọi người lớn tiếng hỏi chuyện gì đang xảy ra, âm thanh vang vọng qua từng hàng rào. Lũ chó cũng bắt đầu sủa vang. Mark và Reggie vội vàng rút sâu vào trong bụi rậm.
Ông Ballantine cùng một viên cảnh sát đi dọc theo hàng rào phía sau nhà, có lẽ họ muốn tìm thêm vài viên đá gây họa, nhưng điều đó hoàn toàn vô vọng. Reggie và Mark nghe thấy tiếng họ nói chuyện, nhưng không hiểu họ đang nói gì. Chỉ nghe thấy ông Ballantine cứ gào thét không ngừng.
Cảnh sát trấn an ông Ballantine, sau đó họ dùng băng dính trong suốt giúp ông dán lại cửa sổ. Những ánh đèn đỏ và xanh trên xe cảnh sát đã tắt; hai mươi phút sau, cảnh sát rời đi hết.
Reggie và Mark vẫn đợi ở đó; cả hai người run rẩy, tay nắm chặt lấy nhau. Côn trùng bò lổm ngổm trên tay họ. Muỗi hoành hành dữ dội, những chiếc áo phông đen họ mặc dính đầy cỏ vụn và gai nhọn. Đèn nhà Ballantine cuối cùng cũng tắt, sau đó họ lại đợi thêm một lúc lâu nữa—