55
Miếng bít tết đã bị rán cháy.
Chúng tôi ngồi cạnh một chiếc bàn trong phòng khách, trên bàn đã được trải tạm một tấm khăn trải bàn, ăn salad, thịt nguội và bánh mì kiểu Pháp, loại bánh mì gậy vỏ cứng, rồi uống rượu vang hồng. Chúng tôi cũng đã bỏ lỡ bản tin tối đầu tiên phát trên tivi. Angela bật chiếc tivi lớn lên nhưng không để âm thanh. Sau bữa ăn, tôi giúp cô ấy dọn dẹp mọi thứ vào bếp. Angela cho rằng chúng tôi vẫn có thể uống thêm một chai sâm panh nữa. Chúng tôi uống rất chậm, tôi kể cho Angela nghe về công việc của mình. Cô ấy nói với tôi rằng, cái chết của Hermann và vụ sát hại Kilwood dù đã trở thành chủ đề bàn tán của cả thành phố, Cannes đang tập trung đầy rẫy luật sư, cảnh sát nước ngoài và các quan chức cấp cao không rõ từ bộ nào, nhưng bên ngoài vẫn cố gắng làm giảm nhẹ sự việc này. Cô ấy giới thiệu rằng những người tôi gặp tại nhà Trabor vẫn còn ở đây. Angela nói, cô nghe được rằng họ thường xuyên hẹn gặp Zeberg riêng lẻ hoặc cùng nhau. Angela đã nhận được những đơn đặt hàng mới. Chúng tôi đi vào phòng tranh của cô ấy, cô tự hào chỉ cho tôi thấy cô đã chăm chỉ như thế nào.
Sau khi trở lại phòng khách, cô nói: "Robert, em có một dự định. Hôm nay em vẫn muốn thực hiện nó. Bây giờ em thực sự muốn làm điều đó."
"Chuyện gì?"
"Em thuộc về anh. Anh thuộc về em. Anh có quyền biết em đang sống một cuộc đời như thế nào."
"Yên lặng nào."
"Không, em không muốn yên lặng. Trong cuộc đời em tất nhiên đã từng có những người đàn ông khác."
"Đương nhiên rồi. Xin đừng nói nữa, Angela!"
"Hãy để em nói! Không ai giống như anh, điều này không phải đến hôm nay em mới biết. Ngay từ khi anh lần đầu tiên bước vào đây, em đã biết rồi."
"Mặc bộ vest cắt may tồi tàn, kiệt sức, chán nản."
"Đúng vậy," Angela nói, "tất cả những điều đó, Robert, tất cả những điều đó. Em biết: Đây là người đàn ông mà em sẽ yêu, yêu hơn bất cứ ai trước đó. Vì vậy, em không muốn có bí mật nào giấu anh. Sau... sau buổi chiều này em không muốn có nữa. Không phải là có rất nhiều đàn ông, em vẫn khá ổn định, nhưng tất nhiên em cũng không phải là nữ tu. Em sẽ kể hết cho anh nghe."
"Không," tôi nói, "em đừng kể gì với anh cả. Quá khứ trong cuộc đời em, anh không hứng thú. Anh không muốn biết. Điều đó không có ý nghĩa gì. Khi đó chúng ta không quen biết nhau. Chúng ta không biết rằng một ngày nào đó sẽ gặp nhau. Mọi chuyện trước kia, tất cả đều không tính. Hãy quên nó đi."
Cô ấy im lặng hồi lâu, nhìn chằm chằm vào tôi, đôi môi cô run rẩy.
"Ôi, Robert," cô nói, "Robert... chưa bao giờ, chưa bao giờ, em chưa bao giờ nghĩ mình có thể yêu như thế này."
"Anh cũng chưa từng nghĩ tới."
"Anh đã dạy em cách yêu như thế này," Angela nói, "vì vậy em muốn cảm ơn anh." Cô ngồi lên đầu gối tôi, vuốt ve khuôn mặt tôi, mơn trớn mái tóc tôi.
"Anh cũng vậy." Tôi nói.
"Không gì có thể chia lìa chúng ta nữa."
"Đúng, Angela, không gì cả."
"Chỉ có... chỉ có việc đó thôi." Cô lắp bắp nói.
Đây lại là cái chết mà cả hai chúng tôi hôm nay đều đã nghĩ đến một lần, nó lại đến rồi.
"Yên lặng nào." Tôi cầu xin.
Nhưng cô ấy không chịu im lặng.
"Nếu... nếu chúng ta có một người phải đi, thì người kia sẽ sớm đi theo, đúng không? Bởi vì thiếu đi người kia, ai trong chúng ta cũng không thể sống tiếp được nữa. Có phải vậy không, Robert?"
"Đúng vậy, Angela, là như thế."
Cô đứng dậy, đi về phía một cuốn sách, nó đặt trên một chiếc bàn nhỏ. Tôi đã viết ở phần đầu báo cáo của mình, tôi quên mất tác giả cuốn sách này là ai. Một người Mỹ, điều này tôi biết, vì Angela đã kể cho tôi. Cô tiếp tục nói: "Đây là bản dịch tiếng Đức của những bài thơ đó. Em đã tìm thấy một bài, mấy ngày gần đây em đọc đi đọc lại nó." Cô ngồi xuống ghế sofa, đeo chiếc kính Stras của mình lên, không mảnh vải che thân, chỉ đeo kính và đôi bông tai kim cương, đọc bài thơ này: "Thoát khỏi ham muốn điên cuồng của cuộc sống, thoát khỏi nỗi sợ hãi và hy vọng, tạ ơn Chúa – bất kể Chúa của bạn là ai: Mỗi cuộc đời đều có một kết thúc. Không người chết nào có thể quay trở lại, dòng sông mệt mỏi nhất cuối cùng cũng có ngày tìm được con đường dẫn ra biển lớn."
Cô tháo kính xuống, đặt sách xuống.
Tôi nói: "Tại sao em lại đọc thứ này, Angela? Tại sao?"
"Yên lặng," cô nói, "yên lặng đi, cưng à. Bởi vì bây giờ em muốn sống, rất muốn sống! Chỉ vì điều đó. Cho nên tất nhiên em cũng muốn... muốn việc đó... Em cảm thấy bài thơ này quá đẹp, đầy cảm hứng. Nếu có Chúa, em muốn yêu anh tốt hơn... sau chuyện đó."
Tôi nhìn đồng hồ đã là 0 giờ 30 phút sáng. Chúng tôi lại bỏ lỡ bản tin tối trên tivi. Dưới thân chúng tôi, trên mặt nước và đất liền phía dưới kia có vô số ánh đèn đang nhấp nháy, màu trắng và đủ màu sắc.
Rất nhiều ánh đèn.
56
0 giờ 30 phút - nhưng chúng tôi vẫn chưa ngủ. Chúng tôi tiếp tục bật đĩa nhạc, hút quá nhiều thuốc, uống quá nhiều rượu. Angela đặt một giá đèn ba ngọn nến lên bàn, tắt đèn điện. Thế là chúng tôi ngồi dưới ánh nến nghe nhạc. Chúng tôi cùng ngồi trên ghế sofa, dựa sát vào nhau, cánh tay chúng tôi ôm lấy vai đối phương. Ngọn nến chập chờn khẽ khàng, đổ xuống những cái bóng kỳ ảo.
Angela đột nhiên ngủ thiếp đi trong lòng tôi, tôi đã rất lâu không hề nhận ra. Cô ấy thở thật bình thản. Tôi để mặc cô ấy ngủ, lặng nghe tiếng thở của cô và nhạc của Rachmaninoff, khẽ cầu nguyện. Khoảng một giờ sau Angela tỉnh dậy.
"Anh không gọi em dậy!" Cô đầy trách móc hét lên.
"Không," tôi nói, "anh đang ngắm khuôn mặt em. Nó thật là diễm lệ. Lúc em ngủ còn đẹp hơn. Anh không muốn phạm thượng đâu, Angela, khuôn mặt em - nó đẹp như khuôn mặt của Đức Mẹ vậy. Một ngày nào đó anh sẽ chụp cho em một bức ảnh khi em đang ngủ, để em thấy, em trông đẹp đến nhường nào, vô cùng an nhiên."
Đây là sự thật: Tôi chưa từng thấy sự an nhiên nào nhiều như thế trên khuôn mặt thư giãn của Angela ở bất cứ nơi đâu.
"Nhưng anh không nên để em ngủ!" Cô hét lên, "Anh phải gọi em dậy! Anh đã hứa với em rồi!"
"Anh hứa. Nếu một ngày nào đó anh ngủ quên, thì em hãy gọi anh dậy."
"Được."
"Chúng ta không được ngủ quá nhiều." Tôi nói, "Khi chúng ta ngủ, chúng ta không nghe thấy nhau, không nhìn thấy nhau, cũng không cảm nhận được nhau."
"Chúng ta quả thực chỉ có thể ngủ ít thôi." Angela nói.
"Ngủ, điều này giống như chết vậy." Tôi nói. Chết - lại đến rồi! Rốt cuộc chuyện này là thế nào? "Người ta đối xử với thời gian của họ, cứ như thể nó là sự sống vĩnh hằng vậy." Bàn chân trái của tôi bắt đầu đau nhẹ.
"Nhưng không ai biết," tôi nói, "họ còn có thể có bao nhiêu thời gian - một năm, năm năm, hay một phút."
"Đúng, Robert, đúng... Robert?"
"Tâm can của anh?"
"Lên giường đi. Em khao khát lắm."
Thế là chúng tôi lên giường, lại làm tình một lần nữa. Sau đó, chúng tôi tiếp tục hút thuốc uống rượu. Đến cuối cùng Angela đã gần như không thể nói thành lời. Tôi đứng dậy, đẩy cửa kính sang bên cạnh một chút để đón không khí trong lành, rồi quay lại bên cạnh Angela.
"Ôm chặt em," cô nói, "chúng ta hãy ôm nhau ngủ, mãi mãi như thế này, được không?" Tôi gần như không hiểu được lời cô nói, lúc cô nói chuyện lưỡi đã rất nặng nề.
Tôi ôm lấy cô, cô cứ thế ngủ thiếp đi, trên khuôn mặt dịu dàng treo một nụ cười bí ẩn, cơ thể chúng tôi là một thể thống nhất. Tôi vẫn còn tỉnh, nhìn chằm chằm vào khuôn mặt Angela, tôi bị cảm động sâu sắc. Cuối cùng tôi rút cánh tay ra, chống lên một bên khuỷu tay, lại hút một điếu thuốc, vì tôi quá tỉnh táo, không ngủ được. Đường ray nằm giữa biển và thành phố, cả đêm tôi đều nghe tiếng bánh xe lăn đều đều. Bây giờ tôi cũng nghe thấy nó. Trời đã sáng từ lâu, tôi nhìn qua khe cửa sổ xuống thành phố đang thức giấc và biển khơi vô tận, quan sát những màu sắc thay đổi nhanh chóng. Sau đó tôi lại ngắm khuôn mặt Angela. Nó thực sự làm tôi nhớ đến khuôn mặt của một vị Đức Mẹ. Tôi không thể rời mắt khỏi nó.
Phía dưới, bên bờ biển, tôi nghe thấy tiếng bánh xe tàu hỏa lăn về phía trước.
57
Khi tôi đứng dậy đi vào phòng tắm, Angela đang ngủ rất say. Tôi mặc quần áo vào, viết trên một mảnh giấy: "Mười giờ anh sẽ quay lại. Anh yêu em - Robert." Tôi đặt mảnh giấy đó lên bàn cạnh giường, bên cạnh chiếc radio bán dẫn. Tôi đi ra phòng khách, gọi điện thoại, lại gọi một chiếc taxi, bảo nó đưa tôi đến khách sạn "Majestic". Người gác cổng đưa chìa khóa phòng cho tôi cười thân thiện, không hề tỏ ra vẻ trách móc vì tôi đã qua đêm bên ngoài. Không có thư từ gì của tôi cả.
Tôi lên lầu về phòng mình, tắm rửa cạo râu, rồi mặc lại đôi xăng đan trắng, quần trắng và áo sơ mi xanh - tất cả những thứ này đều là Angela mua giúp tôi, cứ như thể đã từ nhiều năm trước rồi vậy. Tôi gọi trà, ăn sáng, đợi đến chín giờ. Sau đó tôi rời khách sạn, đi bộ đến chi nhánh của Van Cleef & Arpels. Ông Kemal và một nhân viên đang đợi tôi. Tôi đã gọi điện trước cho Kemal, hỏi xem hôm nay Chủ nhật có thể phá lệ mở cửa hàng cho tôi không. Ông ấy đồng ý ngay tại chỗ. Bây giờ ông mở cửa kính ra, rất vui khi gặp tôi. Tôi mang theo số tiền franc của mình, nói với ông ấy rằng tôi muốn mua một chiếc nhẫn cưới.
"Một chiếc nhẫn cưới sao, ông Lucas?"
"Đúng vậy. Tại sao ông lại hỏi?"
"Chúng tôi cũng có nhẫn đính hôn. Ở Pháp, nếu đủ khả năng, người ta khi đính hôn sẽ tặng một chiếc nhẫn vàng gắn kim cương. Còn nhẫn cưới..."
"Không phải nhẫn đính hôn," tôi nói, "một chiếc nhẫn cưới."
"Tất nhiên rồi, thưa ông." Ông gật đầu, vẻ mặt đầy hân hoan, bảo người nhân viên mang một cái khay lót nhung xanh ra để lựa chọn.
"Nhẫn cần cỡ nào ạ?" Ông hỏi.
"Cỡ này." Tôi nói, lấy từ trong túi ra một chiếc nhẫn của Angela. Đây là thứ tôi lấy từ bàn cạnh giường ngủ của cô ấy. Kemal đo đạc, phát hiện ra có sẵn hàng với kích thước như vậy. Chiếc nhẫn tôi thích nhất, nó được nạm đầy đá quý trông như kiểu bánh mì gậy cắt lát chéo, trị giá hai vạn franc.
Kemal tự tay gói chiếc nhẫn lại, sau đó giúp tôi gọi một chiếc taxi. Tôi ngồi xe quay về "Khu căn hộ cao cấp Cleopatra". Tôi đã mang theo chìa khóa cửa, phòng trường hợp khi tôi quay lại Angela vẫn còn ngủ. Cô ấy đã dậy rồi, đang ngồi trên sân thượng, uống cà phê đen từ một chiếc cốc rất lớn.
"Robert!" Cô nhảy dựng lên, "Anh đi đâu vậy? Em sợ chết đi được!"
"Anh đã để lại cho em một mảnh giấy."
"Nhưng em vẫn sợ - sau khi tỉnh dậy, chỗ của anh trên giường trống không. Tờ giấy đó em không thấy ngay. Anh đi đâu vậy?"
"Nhắm mắt lại đi."
Cô ngoan ngoãn làm theo.
Tôi lấy chiếc nhẫn ra khỏi hộp.
"Đưa tay trái của em cho anh."
Cô làm theo lời. Tôi đeo chiếc nhẫn vào một ngón tay của cô.
"Em có thể nhìn không?"
"Có thể."
Cô mở mắt ra, nhìn chằm chằm vào chiếc nhẫn, những viên kim cương của nó lấp lánh rực rỡ sắc màu.
Cô thì thầm: "Robert..."
Tôi nói: "Thật là điên rồ, anh biết. Anh vẫn là người đàn ông đã có vợ, nhưng lại tặng em nhẫn cưới. Nhưng đây cũng không phải là điên rồ, bởi vì em là người phụ nữ anh muốn lấy, em là vợ của anh."
"Còn anh là chồng của em." Angela nói, "Em cảm ơn anh, Robert. Em cảm ơn anh rất nhiều. Chiếc nhẫn này... đây là sự đảm bảo cho tất cả, đúng không?"
"Là sự đảm bảo, đúng vậy." Tôi nói.
Điện thoại trong phòng khách vang lên.
58
Tòa tháp rất mảnh và cao, trông giống như một chiếc cần cẩu khổng lồ đặt thẳng đứng. Trên đỉnh tòa tháp, xung quanh lắp những chiếc đèn pha mạnh mẽ, chúng chiếu sáng khu vực xung quanh ga hàng hóa vào ban đêm. Tòa tháp nằm trơ trọi ở giữa một quảng trường bê tông. Một cảnh sát bên trong nhanh chóng thò nòng vũ khí của mình ra khỏi cửa sổ phía trên đó, một loạt đạn bắn ra từ một khẩu súng tiểu liên. Những viên đạn bắn vào cửa sổ đóng chặt ở tầng hai của một ngôi nhà, nó nằm trên một con phố hiu quạnh đối diện ga tàu. Bên ngoài cửa ga tàu chỉ có hai ngôi nhà và một cây cọ phủ đầy bụi. Một ngôi nhà sơn màu hồng, ngôi nhà kia màu xanh nhạt. Lớp sơn của cả hai ngôi nhà đều bong tróc, chúng đều là những tòa nhà nhỏ hai tầng, đổ nát tồi tàn. Không còn ngôi nhà nào khác có người ở nữa.
Phía sau những ô cửa sổ đóng kín có người đang di chuyển. Những viên đạn của cảnh sát nhanh chóng nhận lại sự phản kháng. Tôi thấy nòng của một khẩu súng tiểu liên khai hỏa từ góc của một ô cửa sổ, nó nằm cạnh ô cửa sổ đã bị bắn nát. Ô cửa sổ thứ hai mở ra. Không thể nhìn rõ xạ thủ. Hắn không chỉ bắn vào cảnh sát trong tòa tháp, mà còn quét xạ toàn bộ khu vực ga tàu, quét xạ vào các toa tàu và đường ray. Các cảnh sát nấp sau nhiều toa tàu, từng người một cầm súng tiểu liên. Tôi như một con thỏ nhảy từ toa hàng này sang toa hàng khác. Khi tôi đến nơi, đạn bay vút qua bên cạnh tôi. Người đàn ông ở tầng hai đó cứ như một kẻ cuồng sát vậy.
Toàn bộ khu vực này đã bị cảnh sát và xe tuần tra phong tỏa. Những người hiếu kỳ chen chúc phía sau dải phong tỏa - ngư dân, người già, trẻ em và những người phụ nữ bán lưới cá. Những con người khốn khổ ở khu ổ chuột. Mãi cho đến khi tôi báo tên mình với một sĩ quan cảnh sát cấp cao, nói rằng Louis Laclos đã gọi điện bảo tôi đến đây, tôi mới được đi qua hàng rào phong tỏa. Vị sĩ quan này biết tên tôi. Laclos đã kể với ông ta, ông ta chỉ tay vào một toa hàng trên đường ray, Laclos đang ngồi xổm sau toa đó, nhưng tôi không thể nhìn thấy ông ta. Khi tôi chạy, tôi sợ đến mức chết khiếp, nhưng tôi không dừng lại, người cảnh sát trong tòa tháp yểm trợ cho tôi. Anh ta bắn quét dữ dội vào ngôi nhà của người đàn ông tầng hai trên phố Pierre-Semard, bắn quét vào những ô cửa sổ phía trên đó. Đâu đâu cũng là cảnh sát. Nhà ga dài, buồn bã chật ních họ. Họ đứng sát vào những ngôi nhà, trong nhà chắc chắn đã có những cảnh sát khác rồi. Họ đều được vũ trang tận răng, đội mũ sắt. Phố Pierre-Semard xấu xí bắt đầu từ phía Bắc phố Francis-Tounaire, chạy gần như thẳng tắp về phía Nam đến đại lộ Midi, phía sau đó chính là biển. Như đã nói, phía Đông phố Pierre-Semard chỉ có vài ngôi nhà, bên trái là khu đất trống, bến cảng Macondis nằm ở đó, có rất nhiều đường ray và nhà kho. Ga hàng hóa này là ga tàu xấu xí, lạc hậu nhất mà tôi từng thấy. Đại lộ Midi nằm sát ngay phía sau nó, có lẽ chỉ cách biển khoảng một trăm mét. Nhưng ở đây mọi thứ đều bẩn thỉu, bao gồm cả những tàu lá cọ.
Tôi đến được toa tàu mà vị sĩ quan kia chỉ cho tôi, ở đó cũng nhìn thấy người đàn ông thấp bé Louis Laclos. Ông vẫn mặc thường phục như mọi khi, cũng cầm một khẩu súng tiểu liên.
"Chào buổi sáng." Ông nói, giọng điệu và cử chỉ làm tôi kinh ngạc. Đây không còn là vị quan chức sợ hãi, co rúm người lại như trước nữa. Đây là một người đàn ông giận dữ, kiên định. "Ông không có vũ khí sao?"
"Không."
"Những kẻ ngốc này! Tại sao họ không đưa cho ông một khẩu súng? Chúng ta không ở đây để đóng phim da đỏ đâu."
Khi chúng tôi nói chuyện, tiếng súng vang lên, hoặc đó là loạt bắn liên thanh. Kính cửa sổ vỡ vụn, phụ nữ hét lên, đàn ông gầm gừ, đan xen vào nhau.
"Chuyện gì xảy ra ở đây vậy?" Tôi hỏi.
"Tôi đã nói với ông qua điện thoại rồi, chúng tôi vẫn chưa thể khẳng định, trong số những người Algeria mà người chỉ điểm của cảnh sát báo cho chúng tôi, ai là kẻ khả nghi nhất. Chúng tôi muốn thận trọng nhất có thể. Thận trọng, chết tiệt!" Ông nhổ một bãi nước bọt xuống lớp bụi bên đường ray. Bộ vest của ông cũng bẩn như quần của tôi vậy. Cả hai chúng tôi đều đang chảy mồ hôi. Mặt trời thiêu đốt không thương tiếc. "Tám giờ hôm nay, các thám tử của phân cục trung tâm bắt đầu khám xét những người Algeria trong ngôi nhà đó. Họ luôn đi theo cặp, đều có lệnh khám xét. Hai người đến đây đã bấm chuông cửa nhà tên Algeria khốn kiếp ở tầng hai. Tên Algeria đó - hắn tên là Argo - đang ở nhà. Hắn không chịu mở cửa. Người của chúng tôi nói là cảnh sát. Argo nghe xong liền mất kiểm soát. Hắn bắt đầu gào thét."
"Gào thét cái gì?"
"Hắn không tin một lời nào, nói họ tuyệt đối không phải cảnh sát, hắn không muốn bị người ta giết như vậy. Gào xong hắn liền cầm súng tiểu liên bắn qua cánh cửa đóng kín, bắn trúng bụng một người. Con chó chết tiệt này!" Laclos lại nhổ một bãi đờm. Chắc chắn ông ta đã nhìn thấy gì đó trong ô cửa sổ tầng hai, vì lúc này ông ta giương súng tiểu liên lên bắn quét. "Không có gì cả." Sau đó ông nói.
"Vị cảnh sát kia thế nào rồi?"
"Đưa đi bệnh viện. Phẫu thuật ngay lập tức."
"Anh ta sẽ sống chứ?"
"Hy vọng vậy. Họ vẫn đang phẫu thuật. Dù sao thì, cảnh sát đã huy động toàn lực vì việc này. Tất cả những gì chúng tôi có thể huy động đều đã được điều đến đây. Roussel cũng ở đây, sau toa xe lạnh, ông không nhìn thấy ông ấy đâu."
Tôi không thể nhìn thấy ông ấy, nhưng ngay sau đó từ một chiếc micro truyền ra giọng nói của ông: "Argo! Argo! Nghe đây! Chúng tôi đã không thể nhẫn nhịn được nữa rồi! Ngôi nhà này đã bị bao vây! Ngươi tuyệt đối không thể thoát khỏi đây còn sống đâu! Ngươi đầu hàng đi! Cảnh sát đang đứng ở cầu thang trước cửa nhà ngươi! Ngươi đã bắn chết một người rồi! Ngươi còn muốn tội chồng thêm tội sao? Hãy ném súng tiểu liên của ngươi ra khỏi cửa sổ, giơ hai tay lên đầu, bước ra khỏi nhà!"
Giọng nói đó vang vọng trên ga tàu bị mặt trời thiêu đốt. Trả lời lời kêu gọi của Roussel là một loạt đạn khác bắn ra từ ô cửa sổ thứ hai.
Tôi thấy, bên cạnh Laclos có mang theo một chiếc bộ đàm. Ăng-ten đã được kéo ra. Ông để micro của bộ đàm sát miệng nói: "Leito trong tòa tháp, ông có nghe tôi nói không?"
"Nghe rõ." Bộ đàm trả lời.
"Bây giờ dùng lựu đạn hơi cay, bắn vào trong cửa sổ."
"Rõ."
Tôi chống một tay lên thanh tà vẹt, lại nhanh chóng rụt về, vì tay tôi bị bỏng, thanh tà vẹt quá nóng. Mồ hôi lăn dài trên mặt Laclos và tôi. Áo sơ mi của tôi dính chặt vào người. Trên tòa tháp truyền ra một âm thanh nhỏ hơn tiếng súng rất nhiều, ba tiếng liên tiếp. Tôi thấy, trong ô cửa sổ bị bắn nát đột nhiên bốc lên làn khói trắng đậm đặc. Trong chớp mắt im lặng như ma quỷ. Một phút. Hai phút. Lúc này trong bộ đàm của Laclos truyền ra một giọng nói khác:
"Hắn đầu hàng rồi, thám tử."
Giọng của Roussel: "Cẩn thận. Đừng có bắn chết hắn. Tôi vẫn cần hắn. Nếu hắn nổ súng, các anh cũng nổ súng, nhưng đừng bắn chết hắn."
"Rõ, sếp." Mười lăm giây im lặng. "Hắn mở cửa rồi." Mười giây im lặng. "Hắn bước ra rồi, hai tay ôm đầu. Chúng tôi tóm được hắn rồi, sếp. Chúng tôi bắt được hắn rồi!"
"Đi, ông theo tôi." Laclos nói. Ông chạy trước tôi, băng qua đường ray, chạy về phía phố Pierre-Semard. Tôi vấp phải một thanh tà vẹt, ngã xuống, tay bị rách, máu chảy ròng ròng. Tôi nhảy dựng lên, tụt lại phía sau Laclos một đoạn dài rồi chạy theo. Chúng tôi khó khăn lắm mới chen qua được đám đông hiếu kỳ dày đặc. Chân tôi lần này không đau chút nào, điều này làm tôi cảm thấy như một phép màu. Cảnh sát phong tỏa để chúng tôi đi qua. Khi chúng tôi chạy đến trước cửa nhà, tôi thấy Roussel, ông ấy từ hướng khác đến. Ông gật đầu với tôi, ôm một khẩu súng tiểu liên. Ba cảnh sát bước ra từ cổng lớn, tay cầm vũ khí. Phía sau bước ra một người đàn ông, mặc quần dài, áo sơ mi trùm ra ngoài quần, hai tay bị trói ngược ra sau lưng. Hắn sắc mặt tiều tụy, da rất sạm, ria mép, tóc đen, cử chỉ vô cùng điên loạn. Hai cảnh sát không phải là dẫn hắn đi, mà là kéo lê hắn.
"Hãy để tôi sống! Hãy để tôi sống! Các người là lũ chó, đừng giết tôi!" Argo gào lên, loạng choạng như kẻ mù. Mắt hắn đỏ ngầu, nước mắt chảy ròng ròng. Hắn vừa gào vừa ho, sặc sụa không thở nổi. Hắn chắc chắn đã dính lựu đạn hơi cay. Những kẻ kéo lê hắn đẩy hắn vào một chiếc xe cảnh sát. Roussel sải bước chạy về phía họ, nhảy vào chiếc xe đó ngay sau Argo, còi xe hú vang. Tài xế liều lĩnh khởi động xe. Mọi người hoảng sợ, nhảy lùi lại, nhường đường.
"Đằng kia là xe của tôi." Laclos nói.
Tôi tiếp tục chạy theo sau ông ta, thở hổn hển, toàn thân đẫm mồ hôi. Hôm nay nóng kinh khủng.
59
Hai giờ sau.
Chúng tôi đang ở trong một phòng thẩm vấn tại phân cục trung tâm, Roussel, Laclos, hai cảnh sát, tôi và Argo. Argo ngồi trên một chiếc ghế ở giữa phòng. Tất cả những người còn lại chúng tôi đều đứng vây quanh hắn. Một bác sĩ tiêm cho người đàn ông Algeria này một mũi thuốc an thần, tiêm một chút thuốc cho mắt và cổ họng của hắn. Sau đó, họ để người này nằm trong một phòng giam một giờ, cho đến khi bác sĩ nói rằng Argo có thể bị thẩm vấn. Trong thời gian này tôi thử liên lạc với Kessler đang ở khách sạn "Carlton", nhưng ông ấy không có ở khách sạn, cũng không để lại tin nhắn xem có thể tìm ông ấy ở đâu. Tôi nhờ nhắn lại bảo ông ấy liên lạc với phân cục trung tâm.
Roussel, Laclos và hai vị cảnh sát cùng thẩm vấn. Những câu hỏi liên tiếp được đặt ra cho Argo, hắn không có thời gian để thở cho ra hơi. Hắn vẫn mặc chiếc quần dài và áo sơ mi đó, chân trần, cơ bắp trên mặt hắn co giật. Vừa rồi, hắn dùng thứ tiếng Pháp giọng nặng nề của mình kể lại một lần nữa những gì hắn đã nói hơn mười lần: "Tôi không tin những người đến tìm tôi hôm nay là cảnh sát, nên tôi đã nổ súng."
"Tại sao?"
"Bởi vì tôi không muốn bị bất cứ kẻ nào bắn chết."
"Bị ai?"
"Bị những kẻ đó!"
"‘Những kẻ đó’ là ai?"
Tôi nhận ra Argo đã run rẩy toàn thân. Cùng lúc đó, hắn cũng đang vã mồ hôi như tất cả chúng tôi. Một chiếc quạt điện lớn quay không ngừng nghỉ. Không khí trong phòng ngột ngạt, vẩn đục. Argo không trả lời. Trong đôi mắt sưng tấy của hắn lại trào ra những giọt nước mắt.
"Trả lời đi, đồ khốn!" Roussel gầm lên.
"Tôi... tôi không thể..." Argo thút thít. Trong thời gian này, tôi đã biết được tên hắn là Youssef. Youssef Argo, ba mươi lăm tuổi, thủ kho, chưa kết hôn.
"Ngươi không muốn nói!"
"Không phải, không phải, không phải! Tôi không thể nói!"
Cuộc đối thoại diễn ra nhanh như tiếng súng liên thanh trong nhà ga. Họ không cho Argo thời gian. Họ không biết đồng cảm. Hắn đã nổ súng khiến một chiến hữu của họ rơi vào tình trạng nguy kịch.
"Tại sao ngươi không thể nói?" Laclos quát.
"Sợ hãi... sợ hãi... Nếu tôi nói ra, họ sẽ giết tôi. Họ chắc chắn sẽ giết tôi... Kể từ sau vụ nổ du thuyền, rồi sau đó, nhất là sau khi người Mỹ kia bị sát hại, tôi không ngủ được, cũng chẳng ăn uống nổi, đúng là không phải cuộc sống của con người nữa. Họ nói với tôi, hắn đã nhắc đến một người Algeria ở Boca, mọi chuyện đều bắt đầu từ hắn."
"Ai nói cho ngươi biết?"
"Không nhớ rõ. Một người nào đó ở quán ăn nhanh."
"Nói dối!"
"Tôi không nói dối! Tôi thật sự không nhớ nổi..."
"Ngươi chắc chắn biết!"
"Nhiều ngày nay tôi luôn sống trong nỗi sợ hãi cái chết... Tôi biết họ sẽ đến để thanh trừng tôi... Họ nhất định phải thanh trừng tôi... Họ buộc phải làm vậy, lũ súc vật đó... Vì thế tôi mới suy sụp tinh thần..."
"Tại sao họ buộc phải làm vậy?" Laclos hỏi. Hắn túm lấy cằm Argo, nhìn chằm chằm vào mặt hắn. "Tại sao, Youssef? Tại sao họ phải thanh trừng ngươi? Đồ khốn, trả lời đi..."
"Vì họ sợ tôi nói lung tung. Tôi sẽ không nói lung tung, chắc chắn là không. Nhưng bây giờ..."
"Bây giờ ngươi phải nói, dù đây là việc cuối cùng ngươi làm." Roussel nói, "Dù sao thì ngươi cũng tiêu đời rồi. Nếu người bị ngươi bắn vào bụng chết đi, ngươi chỉ còn nước cầu nguyện, mà cầu nguyện cũng chẳng cứu được ngươi đâu. Đến lúc đó thì ngươi xui xẻo rồi!"
"Nhưng tôi không hề muốn... Tôi hoàn toàn không biết... Hắn không thể chết!" Youssef Argo tuyệt vọng hét lên, "Tôi không muốn như vậy!"
"Không muốn! Nhưng ngươi đã làm rồi."
"Nếu tôi không nói gì cả, người bị bắn vào bụng kia sẽ khiến tôi phải chịu sự trừng phạt nặng nề nhất." Argo nói, giọng đột nhiên trở nên nhỏ nhẹ và bình tĩnh, "Nếu tôi nói ra điều gì, họ sẽ thanh trừng tôi."
"Chỉ cần ngươi ở trong tù, không ai có thể thanh trừng ngươi được." Roussel nói.
"Có, họ sẽ làm được! Họ có thể giết ngươi ở bất cứ đâu. Họ có người ở khắp mọi nơi. Họ có thể làm mọi thứ. Không có gì là họ không làm được."
"Nếu ngươi khai ra những gì ngươi biết, ngươi sẽ được canh giữ ngày đêm trong xà lim. Chúng tôi sẽ cử người giám sát ngươi mọi lúc. Tôi cam đoan với ngươi điều đó. Nếu ngươi tiếp tục ngậm miệng, không khai ra ngay lập tức, chúng tôi sẽ tống ngươi vào tù và mặc kệ ngươi, khi đó có lẽ chuyện gì đó sẽ thực sự xảy ra đấy. Dù sao thì ở đó cũng có đủ loại phạm nhân. Có thể ai đó có một cây rìu, hoặc hai kẻ dùng một sợi dây thừng, lúc ngươi đang ngủ hoặc đi vệ sinh..."
"Xin ông đừng nói nữa!" Người Algeria kêu lên, "Xin ông đừng nói nữa! Đừng..."
"Thế mới nghe được chứ," Roussel nói, vì hắn cao lớn nên luôn phải cúi người xuống thật sâu trước Argo. "Ngươi mà không nói, chúng tôi sẽ tống ngươi vào đó, rồi ngươi sẽ phải đi chầu trời thôi. Ngươi hiểu chưa?"
Người Algeria gật đầu.
"Thế nào?"
"Tôi nói." Youssef Argo đáp.
Trong phòng thẩm vấn, cuộn băng trên máy ghi âm đặt trên bàn làm việc vẫn đang quay. Argo không ngừng ho sặc sụa, nói: "Có người tìm đến tôi... Trước đây tôi chưa từng gặp... Người đó biết tôi làm việc ở nhà ga, làm thủ kho. Trong một nhà kho tình cờ có cất giữ thuốc nổ, là loại dùng để nổ tung dãy núi Esterel. Một đống thuốc nổ lớn — hắn muốn tôi giúp lấy số thuốc nổ đó. Tôi còn được nhận tiền, rất nhiều tiền."
"Vì vậy ngươi đã lấy thuốc nổ?" Roussel hỏi.
"Nhiều tiền như vậy. Tôi nghèo. Tôi muốn kết thúc cái công việc quỷ quái ở nhà ga này, cuối cùng cũng được làm việc khác. Nhiều tiền như vậy mà."
"Bao nhiêu?"
"Mười vạn Franc. Franc mới. Hứa sẽ trả ngay khi tôi lấy được thuốc nổ, thế nên tôi đã đánh cắp nó. Rất khó khăn vì tất cả các thùng đều được niêm phong và đăng ký. Tôi còn rủ một đồng bọn cùng làm. Nhưng hắn không có ở đây, hắn đi từ lâu rồi. Tôi không biết hắn trốn ở đâu. Sau khi lấy được thùng hàng, tôi đưa cho hắn hai vạn."
"Được. Vậy là ngươi đã đánh cắp một thùng."
"Cùng với một đồng bọn."
"Đã giao ra rồi."
"Đúng."
"Khi nào?"
"Ngày mùng 5 tháng 5. Đó là thứ Sáu, ngày hôm đó tôi nhận lương tuần nên tôi nhớ."
"Lần đầu tiên người đó tìm ngươi là khi nào?"
"Hai ngày trước, ngày mùng 3 tháng 5. Tôi ở trong xà lim thì chắc chắn sẽ được bảo vệ chứ?"
"Chắc chắn, nếu ngươi tiếp tục nói. Nếu không thì không."
"Tôi đang nói... tôi đang nói đây..."
"Ngươi nghĩ người đó dùng số thuốc nổ đó để làm gì?"
"Tôi không biết."
"Youssef, đừng đối xử với chúng tôi như vậy, được không?" Laclos nói. Laclos, gã thấp bé đến khó tin này, giọng điệu nghe đầy vẻ áp bức. "Du thuyền của Hermann đã nổ tung. Chính ngươi nói đó, bằng một vụ nổ thuốc nổ. Đó là thuốc nổ của ngươi!"
"Không... không..."
"Đừng nói ‘không’ nữa! Ngươi biết đó là thuốc nổ của ngươi! Được lắp vào một thiết bị nổ hẹn giờ! Đó cũng là do ngươi cung cấp sao?"
"Không!"
"Chỉ cung cấp một phần thôi?"
"Không! Không!"
"Lắp ráp thiết bị nổ hẹn giờ nhỏ xinh kia — là ngươi làm à?"
"Không! Tôi thề, tôi chỉ lấy thuốc nổ thôi!"
"Ngươi còn thề thốt!"
"Đây là sự thật! Ở trong tình cảnh này, giờ tôi còn giấu giếm toàn bộ sự thật để làm gì chứ?"
"Vì ngươi là một tên lưu manh, kẻ xấu xa, tên trộm và tội phạm, giờ đang vãi cả ra quần rồi."
"Đúng. Chính vì giờ tôi đang sợ đến vãi cả ra quần, nên tôi mới khai hết. Tôi khai ra hết với ông, thưa ngài cảnh sát!"
"Được rồi, ngươi chỉ cung cấp thuốc nổ."
"Chỉ thuốc nổ thôi, tôi thề..."
"Câm miệng. Đã nhận được thù lao rồi."
"Đúng, tôi đã nhận."
"Vậy là có kẻ khác đã lắp ráp thiết bị hẹn giờ đó."
"Chắc chắn là vậy."
"Được rồi, giờ hãy nói cho chúng tôi biết, kẻ mua thuốc nổ của ngươi tên là gì."
"Tôi không biết."
"Đương nhiên là không biết rồi."
"Thật sự không biết mà! Ông nghĩ đi đâu vậy? Người đó làm sao lại nói cho tôi biết tên chứ?"
Điện thoại đổ chuông.
Laclos nhấc máy nghe. Hắn chỉ nói ngắn gọn vài câu rồi cúp máy. Trông hắn có vẻ nhẹ nhõm.
"Từ bệnh viện gọi đến," hắn nói, "Phẫu thuật xong rồi. Nếu không có biến chứng gì xảy ra bây giờ, thì người đó đã sống sót rồi."
Argo quỳ xuống.
"Con cảm ơn Người, Thượng đế, con cảm ơn Người!" Hắn hét lên.
"Câm miệng!" Laclos túm lấy Argo kéo đứng dậy. Hắn ngồi phịch xuống ghế. "Đừng diễn kịch nữa. Vận may của ngươi lớn hơn trí khôn đấy, đồ bẩn thỉu!"
"Hắn còn sống... hắn còn sống." Argo lẩm bẩm, "Tôi không phải sát nhân, tôi không giết hắn..."
"Dừng lại, ngươi nghe thấy không? Đợi đã! Chúng ta vẫn chưa nói xong. Nếu ngươi không biết người đó tên gì, vậy thì, người đó trông như thế nào?"
Argo run rẩy nói: "Đó hoàn toàn không phải là đàn ông."
"Cái gì?" Roussel gần như thì thầm.
"Đó hoàn toàn không phải là đàn ông, là một người đàn bà."
"Một người đàn bà?"
"Đúng! Đúng! Một người đàn bà!"
"Đương nhiên ngươi cũng không biết mụ ta tên gì."
"Đương nhiên là không biết."
"Vậy thì ngươi hãy nói về ngoại hình của mụ ta. Nói mau! Nói cho ta biết mụ ta trông như thế nào!"
"Rất khó." Argo nói, "Khi chúng tôi gặp nhau luôn là vào ban đêm. Mụ ta không phải người bản địa, điều này là chắc chắn."
"Không phải người bản địa? Sao ngươi biết?"
"Tiếng Pháp của mụ. Mụ có giọng địa phương rất nặng. Lúc đó tôi đã nghĩ, mụ ta hoàn toàn không phải là phụ nữ Pháp."
"Vậy mụ ta đến từ đâu?"
"Đến từ Italy. Tôi có bạn ở đó, họ nói chuyện như vậy. Có lẽ là Milan hoặc Genoa. Còn... còn nữa... ngoại hình của mụ... mụ rất cao lớn và tráng kiện, tráng kiện hơn tôi nhiều... Tôi nói thật, lời thề thiêng liêng! Mụ mạnh mẽ như một người đàn ông — và..."
"Và cái gì?" Roussel hỏi nhỏ.
"Lúc đó... thật kỳ lạ... khi tôi nói chuyện với mụ, tôi cứ không kìm được mà nhớ đến mẹ mình..."
"Tại sao lại nhớ đến mẹ ngươi?"
"Vì... người đàn bà này giống như một người mẹ, tất cả những người mẹ. Mụ có một thứ gì đó thuộc về tình mẫu tử, ông hiểu không?"