8
Mưa vẫn rơi không dứt. Tôi cùng Karin ngồi trong nhà hàng trên lầu ở sân bay Kloten. Chúng tôi uống trà, chờ đợi chuyến bay của mình được gọi tên. Nó không hề được gọi, mà cứ bị trì hoãn hết mười lăm phút này đến mười lăm phút khác. Bộ phận điều phối mặt đất lại một lần nữa giở trò "làm việc đúng quy trình". Họ yêu cầu tăng lương, và tất cả các chuyến bay đều bị chậm trễ vì cuộc đình công trá hình này. Nhà hàng, sảnh chờ và tất cả các khu vực đợi bay của sân bay đều chật kín những người đàn ông, phụ nữ mệt mỏi, cáu bẳn, kích động cùng lũ trẻ đang khóc lóc. Bên cạnh bàn chúng tôi còn có một cặp vợ chồng người Mỹ. Họ chẳng gọi món gì cả, chỉ say sưa ngắm nhìn xấp ảnh dày cộm mà người đàn ông lấy ra từ chiếc túi da. Vợ ông ta đeo một cặp kính dày cộp. Họ thì thầm trò chuyện. Karin và tôi ngồi bên cửa sổ, những hạt mưa đập vào mặt kính lớn. Tôi nhìn qua cửa kính ra phía bãi đỗ máy bay, những chiếc máy bay và xe tiếp nhiên liệu ở đó, một màn sương mù bao trùm lên tất cả. Hơi ẩm ngoài trời theo những bộ quần áo và giày dép ướt át tràn vào cả nhà hàng, rất nhiều người đang ho hoặc hắt hơi.
"Xin lưu ý," giọng một cô gái vang lên từ loa phát thanh, "theo thông tin từ hãng hàng không KLM, chuyến bay số hiệu 451 đi London sẽ bị hoãn khởi hành khoảng một tiếng đồng hồ." Thông báo này được phát lại bằng tiếng Anh.
"Nhìn này, đây là ở nhà máy bia cung đình," người đàn ông Mỹ nói, chỉ vào một tấm ảnh.
"Thật mê hoặc," vợ ông ta đáp.
Karin đi theo ra sân bay chỉ để lái xe quay trở lại thành phố. Lúc nãy tôi là người cầm lái chiếc xe "Admiral", còn cô ấy ngồi bên cạnh. Cô ấy giận dữ, không nói một lời nào. Khi tôi về đến nhà, vali và túi du lịch của tôi đã được thu dọn xong xuôi. Tôi phá vỡ lời hứa của mình một cách quá đỗi điển hình, nhưng lại chẳng xảy ra cuộc cãi vã nào. Chúng tôi không nói với nhau quá năm câu. Giờ đây, chúng tôi đã ngồi ở đây hơn một tiếng đồng hồ, chờ đợi và tiếp tục im lặng với nhau. Thỉnh thoảng lại có một chiếc máy bay hạ cánh hoặc cất cánh, những chiếc xe đưa đón hành khách ra máy bay hoặc đón họ từ đó về. Nhưng mọi thứ diễn ra vô cùng chậm chạp, tiếng loa lại vang lên giọng cô gái đó: "Xin lưu ý, theo thông tin từ hãng hàng không Lufthansa, chuyến bay số hiệu 567 của quý khách đi Nice, quá cảnh qua Paris, sẽ tiếp tục bị hoãn khởi hành thêm mười lăm phút."
Giọng nói đó lại thông báo tin này bằng tiếng Đức và tiếng Anh. Khi Karin bất ngờ lên tiếng, loa phát thanh đã tắt.
"Chúc anh thuận lợi ở Cannes," Karin nói.
"Cảm ơn."
Cả hai chúng tôi đều nhìn ra bãi đỗ máy bay và cơn mưa ngoài cửa sổ. Khi nói chuyện, chúng tôi không nhìn vào mặt nhau.
"Chỉ cần anh khỏe mạnh là được, đó mới là điều quan trọng nhất, phải không?"
Tôi không trả lời.
"Đây là Suhr và tôi ở Oberammergau."
"Nhìn tấm này đẹp thật đấy!"
"Anh và cái công ty bảo hiểm bẩn thỉu của anh," Karin lớn tiếng nói một cách chậm rãi, "tất cả các công ty bảo hiểm đều lừa đảo. Anh là kẻ đồng lõa. Chúc anh vui vẻ."
"Cảm ơn," tôi nói.
"Tôi không tin bác sĩ sẽ nói anh hoàn toàn bình thường."
"Vậy thì cô cứ hỏi ông ấy đi," tôi đáp.
"Anh biết thừa là ông ấy sẽ không nói cho tôi biết mà."
Tôi vẫn im lặng không nói gì.
"Đây là chúng tôi ở Prater. Nhìn vòng quay khổng lồ này xem."
"Chẳng phải rất đẹp sao?"
Giọng cô gái trong loa lại yêu cầu một ông Hopkins nhanh chóng đến quầy của hãng hàng không, ông ta đã đặt chuyến bay của hãng Global đi New York.
"Tôi chịu đủ rồi," vợ tôi nói, "tôi không đợi nữa. Việc này có ý nghĩa gì chứ? Dù sao thì anh cũng chẳng nói năng gì cả."
Tôi im lặng.
"Đưa giấy phép lái xe và chìa khóa cho tôi," cô ấy nói.
Tôi đưa chúng cho cô ấy.
"Đến nơi tôi sẽ gọi điện," tôi nói, cảm thấy mình thật ngu ngốc.
"Được," Karin đứng dậy. Tôi cũng đứng dậy, vòng qua bàn giúp cô ấy mặc áo mưa.
"Sống vui vẻ nhé," Karin nói.
"Cũng chúc cô sống vui vẻ," tôi nói. Trước khi bước ra khỏi nhà hàng, cô ấy thậm chí chẳng thèm nhìn tôi lấy một cái. Tôi dõi theo cô ấy cho đến khi cô ấy khuất bóng. Cô ấy không hề quay đầu lại. Tôi ngồi xuống, nhìn màn sương mù và cơn mưa ngoài cửa sổ.
"Xin lưu ý, theo thông tin từ hãng hàng không Pan Am, chuyến bay số hiệu 875 của quý khách đi Rome, quá cảnh qua Munich, sẽ bị hoãn khởi hành khoảng ba mươi phút," giọng cô gái trong loa nói. Cô ấy lại nhắc lại bằng tiếng Anh.
9
Tôi bốn mươi tám tuổi.
Hai năm nữa tôi sẽ năm mươi. Biết đâu hai năm nữa tôi đã chết. Có lẽ chết sớm hơn. Nhưng cũng có thể tôi sẽ sống rất lâu. Tôi có bệnh, điều này giờ tôi biết chắc chắn. Bệnh đến mức nào, tôi không rõ. Có lẽ rất nặng, có lẽ không đến nỗi nào. Chẳng quan trọng. Cả đời tôi đã làm việc quá nhiều. Tôi kiếm được đủ rồi. Tôi có một ngôi nhà đẹp, bày đầy những thứ xinh xắn. Tôi sống ở đó với một người phụ nữ mà tôi không yêu. Tôi từng yêu người phụ nữ này. Không, đó không phải tình yêu. Đó là dục vọng. Trong dục vọng của mình, tôi đã từng hạnh phúc. Hạnh phúc đó kéo dài chưa đầy ba năm. Ngoài ra, tôi chưa từng hạnh phúc trong cuộc đời này. Chẳng phải sao? Đúng, chính là vậy. Khi còn là đứa trẻ, tôi đã có một thời niên thiếu hạnh phúc, có nhiều bạn bè cùng chơi. Tôi có một chú chó nhỏ, ở bên nó tôi là người hạnh phúc nhất. Nó bị một chiếc xe tải cán trúng. Nó không chết, chỉ bị thương rất nặng, nhìn là biết chắc chắn nó sẽ chết. Nhiều đứa trẻ vây quanh tôi và chú chó của tôi trên đường. Im lặng như tờ. Tôi lấy một tảng đá granite từ công trường xây dựng, quỳ xuống bên cạnh chú chó, vuốt ve đầu nó lần cuối. Nó liếm tay tôi, rồi tôi nhấc tảng đá lên, dùng nó đập nát hộp sọ của chú chó. Tôi không muốn nó phải chịu đựng đau đớn nữa, nhưng những đứa trẻ khác đều hét lên, chúng xông vào đánh tôi rồi bỏ chạy. Khi về nhà, chúng kể lại sự việc, từ đó trở đi, không đứa trẻ nào còn chơi với tôi nữa. Cha tôi nhốt tôi vào phòng kín một tuần để trừng phạt. Họ không cho phép tôi chôn chú chó trong vườn, một chiếc xe của cơ quan nào đó đã chở xác nhỏ bé của nó đi. Tôi yêu chú chó của mình, vì vậy tôi đã giết nó. Đây cũng là điều mà sẽ chẳng bao giờ có ai thấu hiểu, tôi nghĩ. Sau đó, tôi đã cầu nguyện rất lâu cho chú chó, mong nó được hạnh phúc, bất kể nó đang ở đâu. Từ đó về sau, tôi không bao giờ cầu nguyện nữa. Ồ, không đúng, vẫn có cầu nguyện, những khi tôi phát bệnh. Nhưng đó không phải là lời cầu nguyện thực sự. Tôi không bao giờ nuôi chó nữa. Tôi cũng từng có bạn bè, trong chiến tranh, sau chiến tranh. Khi tôi kết hôn, họ đều dần dần xa lánh tôi. Họ không thích vợ tôi, và vợ tôi cũng không thích họ. Ban đầu, tôi luôn thỏa hiệp, làm theo ý vợ vì tôi khao khát thân xác cô ấy đến điên cuồng, muốn ngủ với cô ấy. Về sau, tôi không thỏa hiệp nữa, cứ khăng khăng làm theo ý mình. Nhưng bạn bè tôi đã biến mất từ lâu. Tôi làm nghề của mình, có thể nói là am hiểu rộng. Tôi chưa từng đến Cannes. Thật kỳ lạ. Rốt cuộc là tại sao? Tôi luôn đi đến nơi công ty phái đi, cố gắng làm tốt công việc của mình, dù thành công hay thất bại, và ngủ với nhiều người phụ nữ. Cũng không nhiều lắm. Khoảng bốn mươi người. Tối đa là bốn mươi. Trong đó có khoảng ba mươi cô gái điếm, khoảng mười người là phụ nữ đã có chồng. Những cô gái điếm luôn rất đáng yêu. Tôi chưa từng yêu bất kỳ ai trong số những người phụ nữ đó, và tôi không tin có ai trong số họ yêu tôi. Về điều này, tôi thậm chí dám chắc chắn. Vì vậy, tôi đã bốn mươi tám tuổi, thực sự vẫn không biết tình yêu là gì. Tôi khó có khả năng tìm hiểu thêm, hoàn toàn không thể. Tôi rất hài lòng với các cô gái của mình. Sau khi xong việc, bạn luôn có thể ở một mình ngay lập tức. Vì điều này, tôi thực sự muốn tiếp tục khỏe mạnh như vậy, khỏe mạnh để có thể làm việc: để có thể cô đơn, cách xa gia đình. Tôi và Karin không có con. Tạ ơn trời đất. Trong một cuộc hôn nhân như thế này, tôi lấy đứa trẻ để làm gì? Tôi đoán hầu hết các cuộc hôn nhân đều giống của tôi, chỉ là người ta không nói ra mà thôi. Chúng tôi cũng không bàn đến. Không, chắc chắn cũng có những cuộc hôn nhân hạnh phúc. Chắc chắn là có. Được một người khác yêu thương thực sự, chắc chắn rất tuyệt vời. Cảm giác đó như thế nào, tôi không biết. Nhưng tôi cũng chẳng muốn biết hay tìm hiểu, bởi vì bản thân tôi không thể yêu, điều này tôi đã kiểm chứng trong cuộc đời mình. Tôi rất muốn cứ giữ sức khỏe như thế này thêm mười lăm năm nữa, để tôi có thể nhìn ngắm thế giới, có thể làm việc. Ở một mình trong khách sạn, quán bar, sân bay, toa tàu nằm hay trên đường cao tốc. Sau đó, tôi chỉ cầu được chết nhanh chóng. Nếu có thể, nên chết một cách nhanh gọn và không đau đớn, hoặc chỉ trong tích tắc. Tốt nhất là một cơn phát bệnh nào đó khiến tôi ra đi. Sẽ không có ai khóc thương tôi, Karin cũng vậy. Tại sao cô ấy phải khóc chứ? Dù thế nào đi nữa, tôi không muốn bị bệnh đến mức trở thành gánh nặng cho người khác, nhất là không muốn trở thành gánh nặng của Karin. Bị bệnh và mặc cho Karin định đoạt, đây là ý nghĩ khủng khiếp nhất mà tôi có thể tưởng tượng ra. Cha mẹ tôi chết vì bệnh tim. Họ đều phải chịu đựng đau đớn trong thời gian dài, cả hai người. Điều này tôi tuyệt đối không muốn. Nếu như trên người tôi, những cơn đau và bệnh tật kéo dài cũng sẽ dai dẳng, tôi sẽ tìm cách kiếm thuốc độc. Đây là việc tôi phải làm ngay lập tức: kiếm cho mình một loại thuốc độc cực mạnh. Có lẽ ở Cannes sẽ làm được. Có tiền thì cái gì cũng có thể có được. Tôi muốn có nó, loại thuốc độc đó, để nếu cơn đau quá dữ dội, hoặc thứ cuối cùng còn mang lại cho tôi chút niềm vui là công việc cũng khiến tôi chán ghét, tôi có thể uống nó bất cứ lúc nào. Tôi phải có một loại thuốc độc hiệu quả, phải kiếm nhanh, bởi vì tôi không biết mình còn có thể sống cuộc sống hiện tại được bao lâu nữa.
"Xin lưu ý! Hãng hàng không Lufthansa thông báo về chuyến bay số hiệu 567 của quý khách đi Nice, quá cảnh qua Paris. Xin mời hành khách lên máy bay qua cửa số 14." Giọng cô gái vang lên trong loa. Bây giờ là 15 giờ 35 phút. Tôi gọi phục vụ tính tiền.
Sau đó tôi lên xe, nó đưa tôi đến chỗ máy bay của mình. Những hạt mưa tí tách gõ trên nóc xe. Chúng tôi cất cánh trong cơn mưa xối xả. Tôi ngồi cạnh cửa sổ, nhưng những sợi mưa quá dày đặc, khi phi công đột ngột kéo máy bay lên cao, tôi không thể nhìn thấy gì cả. Biển báo "Cấm hút thuốc" tắt ngóm. Tôi máy móc đưa tay vào túi áo định lấy bao thuốc lá, rồi lại rụt tay về. Không, không hút thuốc. Tôi muốn xem thử liệu mình có thực sự làm được những gì bác sĩ Betz yêu cầu hay không. Chân trái tôi bắt đầu đau âm ỉ. Tôi uống hai viên thuốc. Ngồi cạnh tôi là một người phụ nữ dắt theo một cậu bé, cậu bé quan sát tôi rất kỹ. Cuối cùng cậu bé kéo kéo ống tay áo tôi.
"Ừm," tôi nói, "có chuyện gì vậy?"
"Tại sao chú lại khóc?" cậu bé hỏi.
"Chú không khóc."
"Olaf!" người mẹ nói.
"Nhưng chú ấy thực sự đang khóc mà, mẹ!"
Tôi dùng tay lau mắt, nhận ra chúng đang ướt.
Tôi nghĩ, thật kỳ lạ. Cả đời này tôi chưa bao giờ khóc. Tôi nói với cậu bé: "Cháu biết không, đây là nước mưa đấy. Chú bị ướt lúc ở sân bay."
Cậu bé chỉ nhìn chằm chằm vào tôi.
"Sao? Cháu không tin chú à?"
"Không tin," cậu bé tên Olaf nói.
10
Tôi nhìn thấy đại dương dưới chân mình, nó xanh biếc như bầu trời.
Khi chúng tôi đến Nice, mặt trời dù đang ở vị trí rất thấp nhưng vẫn tỏa sáng. Máy bay lượn một vòng lớn ngoài biển rồi mới hạ cánh. Khi máy bay dừng hẳn và chúng tôi xuống máy bay, tôi có hai cảm giác cực kỳ mạnh mẽ. Tôi thấy quá nóng, cảm giác vô cùng dễ chịu. Tôi còn cảm thấy như mình đã hạ cánh xuống một thế giới khác. Dưới ánh mặt trời, đâu đâu cũng là hoa nở rộ. Ánh nắng này không giống, khác biệt hoàn toàn với tất cả những tia sáng tôi từng thấy trước đây. Một thứ ánh sáng dễ chịu, rất sáng sủa, khiến đôi mắt cảm thấy rất thoải mái, cũng giống như bầu không khí ở đây vậy. Nó ấm áp dịu dàng, như vừa được tắm một lần nước ấm. Người ở đây nhiệt tình, thân thiện, bình tĩnh tự tại, khác hẳn với những người tôi từng quen ở những nơi khác.
Tôi đứng trước băng chuyền hành lý, tuy cảm thấy rất nóng, nhưng tôi có thể hít thở sâu, mỗi lần hít thở đối với tôi đều là một sự ban ơn vô tận. Sau đó, khi tôi ngồi trong xe taxi, chạy trên con đường luôn bám sát bờ biển để đến Cannes, tôi nghĩ, ở đây chắc chắn có thể sống được. Sống ở đây mãi mãi. Cho đến khi chết.
Chúng tôi đi qua nhiều bãi tắm, tôi thấy trên bãi tắm có rất nhiều người. Tôi cảm thấy họ đẹp hơn người Đức, điều này tất nhiên là vô lý, vì trong đó chắc chắn có người Đức và những người không phải người Pháp. Nhưng ánh sáng và không khí cộng với bầu không khí hòa hợp sẽ khiến con người trở nên đẹp hơn. Chúng tôi đi ngang qua một trường đua ngựa, đi qua rất nhiều túp lều, hầu hết là bằng gỗ, bên trong mở nhà hàng.
"Thưa ông, nếu ông muốn nếm thử món súp cá kiểu Provence ngon nhất vùng bờ biển này, ông nên đến đây," tài xế taxi nói. Anh ta chỉ vào một túp lều sơn trắng bên bờ biển. Tôi đọc được: Nhà hàng "Rx-phòng". "Súp cá kiểu Provence ở những nơi khác cũng có thể uống được, nhưng không đâu ngon bằng ở đây," tài xế taxi nói. Bầu trời xanh như biển, phía tây đỏ rực, khiến dãy núi dài xa xăm có những vách đá đỏ ửng như lửa cháy.
"Đây là núi gì vậy?" tôi hỏi.
"Núi Esterel," tài xế taxi nói, "nếu ông có thời gian, cũng nên đi xe đến đó một chuyến. Ông đến đây công tác à?"
"Đúng vậy."
"Nhưng ông vẫn nên dành thời gian đi xem đây đó. Toàn bộ vùng xung quanh Cannes. Vallauris, Biot, Antibes, Grasse, Vence, Juan-les-Pins, Saint-Tropez, những ngôi làng chài đó... Ở đây đẹp tuyệt vời, thưa ông. Tôi nói vậy không phải vì chủ nghĩa địa phương đâu. Bản thân tôi cũng là sau khi De Gaulle từ bỏ Algeria mới đến đây. Trước đó tôi sống ở dưới đó, sở hữu một khối tài sản lớn. Phải rời đi thôi. Ông biết người ta gọi chúng tôi là gì không?"
"Có," tôi nói, "Pied-Noir." Pied-Noir, người Pháp gọi những người đồng hương buộc phải rời khỏi Algeria như vậy. Anh ta tưởng Pháp có thể biến giấc mơ của anh ta thành hiện thực, tài xế taxi nói, nhưng chẳng có gì thành hiện thực cả. Để nuôi gia đình, anh ta phải lái taxi, trong khi anh ta từng là chủ một đồn điền lớn. Đi lên phía bắc lẽ ra anh ta có cơ hội lớn hơn, nhưng anh ta không thể cùng gia đình đi lên phía bắc. Họ cần khí hậu ở đây, sự ấm áp vĩnh cửu này, nếu không họ sẽ đổ bệnh.
Tôi nhìn thấy nhiều biệt thự màu trắng tuyệt đẹp trong những khu vườn đầy cọ, tuyết tùng, bạch đàn và thông năm lá Ý. Đầu tiên là biển, sau đó là con đường cao tốc chúng tôi đang chạy, tiếp đến là đường ray. Phía sau đường ray là sườn núi, những biệt thự trắng xinh xắn. Một số trong đó đã rất cũ. Hai đoàn tàu vụt qua chúng tôi. Lúc này giao thông rất đông đúc. Một tiếng sau chúng tôi mới đến Cannes. Tài xế nhanh chóng đi vào đại lộ Croisette. Con đường này rộng rãi, ở giữa ngăn cách bởi dải phân cách trồng hoa cỏ, trong dải phân cách mọc rất nhiều cây cọ. Một bên là những khách sạn cung điện và biệt thự trắng đang tỏa sáng rực rỡ, một bên là biển cả. Đủ màu sắc rực rỡ, xanh, đỏ, vàng, tím, cam. Tôi cảm thấy mình bắt đầu đổ mồ hôi. Ngay cả khi người bản địa có khả năng đã thích nghi với một loại nhiệt độ hoàn toàn khác, so với Düsseldorf, ở đây vẫn nóng vô cùng. Những người đàn ông tôi thấy phần lớn mặc quần dài, dép lê, bên trên khoác áo sơ mi. Phụ nữ mặc những bộ trang phục sặc sỡ hoặc quần áo nhẹ nhàng. Tôi thấy, giữa những biệt thự lớn trong vườn và các khách sạn khổng lồ là những tòa nhà thấp tầng màu trắng, bên trong mở cửa hàng và nhà hàng. Tài xế vừa đi vừa giải thích cho tôi. Trước khách sạn "Carlton", anh ta chỉ vào một bãi biển, nơi đó toàn là đàn ông nằm nghỉ.
"Đây là bãi biển đồng tính," anh ta nói, "ở đây rất công khai."
"Cannes nhiều người đồng tính lắm sao?"
"Tất nhiên rồi," anh ta nói, "nói đi cũng phải nói lại, cả nước Pháp không đâu có nhiều phụ nữ đẹp như ở đây. Thưa ông, ông sẽ thấy thôi."
Chúng tôi đến khách sạn "Majestic". Vị trí của nó hơi tách biệt khỏi đại lộ Croisette, một con đường trắng rộng rãi dẫn đến khách sạn, vòng qua một khu vườn hoa đang nở rộ. Vali của tôi được xách xuống, tôi trả tiền cho tài xế, nhìn quanh. Đứng ở cửa khách sạn, bên trái đại diện có một sân thượng lớn. Lúc này nơi đó đã gần như chật kín, mọi người đang uống rượu khai vị. Phía trước sân thượng có một bể bơi, bằng đá cẩm thạch trắng tinh. Còn có vài người đang bơi. Một nhánh đường dành riêng cho khách sạn dẫn xuống tầng hầm để xe. Tôi nhìn qua dòng xe cộ bất tận trên đại lộ Croisette hướng ra biển. Nơi xa có vài chiếc thuyền đậu, tôi thấy vô số thuyền buồm. Cánh buồm của chúng bị ánh hoàng hôn chiếu rọi đỏ như máu. Tôi cứ đứng đó rất lâu, thưởng thức biển cả, cây cọ, mọi người vui vẻ và bầu trời biến hóa khôn lường, cho đến khi một người ở quầy lễ tân đến gần tôi và bắt chuyện.
"Ông có phải là ông Lucas không?"
"Đúng," tôi tỉnh dậy từ một giấc mơ ban ngày dịu dàng, đáp lại.
"Chào mừng đến với Cannes," người đó mỉm cười nói, "tôi có thể đưa ông đến phòng của ông không?"
Tôi gật đầu. Anh ta dẫn đường. Tôi không ngừng ngoái đầu lại, thưởng thức cọ, hoa và biển cả, tôi thực sự đã thấy những người phụ nữ đẹp như hoa như ngọc, cũng có rất nhiều người đàn ông lịch lãm hào hoa.
11
"Ông Lucas, ông đến nhanh quá, thật là tốt quá," Louis Laclos nói. Vị "đại diện hành chính trưởng" của "Cục sự vụ hải quân Địa Trung Hải" này bắt tay tôi, gọi tên tôi nghe như "Lukas". Tôi gọi cho ông ta từ phòng của mình ở khách sạn "Majestic". Căn hộ này hướng ra đại lộ Croisette, hướng ra biển, trước khi gọi điện, tôi còn tắm rửa, rồi trần như nhộng ngồi bên mép giường, xem mặt trời lặn dần, những tảng đá ở núi Esterel ban đầu biến thành màu vàng, sau đó thành màu bạc, cuối cùng biến thành màu xanh lam ướt át, một loại màu xanh lam dần tối đi. Trời Cannes vẫn còn rất sáng.
"Cấp trên của ông, ông Brandenburg, thông báo rằng ông đã đến. Người của chúng tôi vẫn đang ở hiện trường vụ việc. Bao gồm cả chuyên gia chất nổ của chúng tôi, thiếu úy hải quân Vialard, ông sẽ sớm gặp anh ta thôi."
Laclos là một người đàn ông thấp, gầy, hành động nhanh nhẹn, khả năng hiểu biết tốt. Sau khi xác nhận tôi có thể theo kịp ông ta, ông ta nói chuyện cũng rất nhanh. Văn phòng làm việc của ông ta nằm sát bến cảng cũ, từ cửa sổ văn phòng, tôi có thể nhìn thấy vô số thuyền buồm bên ngoài, chúng đậu sát nhau trong bến cảng. Những tấm lưới cá trơ trọi hướng lên bầu trời. Không thấy du thuyền, nhưng có rất nhiều xuồng máy.
"Đây là những loại thuyền gì vậy?" tôi hỏi Laclos.
"Đây là những chiếc 'xuồng nhỏ', chúng đi từ bến cảng Maritime ra đảo. Đi đến những hòn đảo nhỏ đó."
Tôi nhìn thấy sau bến cảng Maritime có một bãi biển. Trên bãi cát trắng đậu những chiếc thuyền đánh cá, lưới lớn đang được phơi. Ở đó có nhiều người đàn ông đang chơi bóng.
Laclos để ý đến ánh mắt của tôi.
"Đây là một trò chơi vui vẻ," ông ta nói, "ngày trước, những người này có sân bóng dưới những cây ngô đồng ở đại lộ Tự do đằng kia. Nhưng sau đó nơi đó bị trải nhựa, cải tạo thành một bãi đỗ xe. Vì vậy, những người này giờ đây buộc phải chơi ở đây."
"Các ông điều tra đến mức độ nào rồi, thưa ông?" tôi hỏi, cởi áo khoác. Tôi đã chọn bộ vest nhẹ nhất trong khách sạn, nhưng nó vẫn quá dày. Tôi cảm thấy mình đổ mồ hôi rất nhiều.
"Vẫn chưa có nhiều tiến triển, thưa ông. Đó là một vụ nổ có sức công phá không thể tưởng tượng nổi." Laclos cho tôi xem một tập ảnh. Tôi thấy các bộ phận bị hư hỏng vương vãi trên một vùng nước lớn.
"Một quả bom nổ có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng thế này sao?"
"Không nghiêm trọng đến mức đó, không có," Laclos nói. Ông ta có một hàng ria mép nhỏ, khi nói chuyện thường hay giật nó, ngón tay bị nicotin nhuộm vàng. Ông ta không ngừng hút thuốc. Ông ta cũng mời tôi thuốc ngay lập tức, nhưng tôi từ chối. Tôi vẫn có thể chịu đựng được, tôi cảm thấy ngạc nhiên, hoàn toàn không cảm thấy muốn hút thuốc.
"Vậy ông cho rằng đó là một vụ phạm tội," tôi nói.
Ông ta gật đầu.
"Đúng vậy, ông Lucas. Công ty của ông e là phải trả tiền rồi."
"Các ông vẫn chưa có manh mối nào về việc ai có thể gây ra vụ phạm tội này sao?"
Ông ta giật giật hàng ria mép của mình.
"Vẫn chưa, thưa ông."
"Ông có tin là Hermann có kẻ thù không?"
"Ông nghĩ sao?" Laclos thấp bé hỏi.
"Tôi không biết. Hermann là một chủ ngân hàng, một người có quyền thế. Người có quyền thế luôn có kẻ thù."
"Bà Hermann cũng nói như vậy."
"Em gái ông ta?"
"Đúng. Chúng tôi tất nhiên đã nói chuyện với bà ấy. Không nhiều lắm, chỉ nói chuyện ngắn gọn thôi. Bà ấy đã hoàn toàn suy sụp. Người phụ nữ này bị bệnh lâu ngày. Bên cạnh bà ấy luôn có một y tá. Bà ấy nói với chúng tôi, thứ Tư tuần trước, tức là mười một ngày trước, anh trai bà ấy đã đến đây, tinh thần hoàn toàn suy sụp. Chắc chắn có điều gì đó đã làm ông ta chấn động sâu sắc."
"Là chuyện gì?"
"Bà Hermann nói, bà ấy không biết. Ông ta không nói chuyện này với bà ấy, bà ấy nói. Ông ta chỉ nói, ông ta phải đến Corsica. Có... ừm... chuyện này, trò chuyện với bà Hermann, có chút khó khăn. Nếu ông cần gặp bà ấy, ông sẽ được gặp thôi."
"Ông có nghĩ khả năng là Hermann tự kích nổ du thuyền để tự sát, vì ông ta đang ở trong một tình thế không có lối thoát không?"
Laclos khó hiểu sờ vào hàng ria mép của mình.
"Tình thế không có lối thoát là gì, thưa ông?"
"Một tình thế về kinh tế."
"Thưa ông, nếu tôi hiểu không nhầm, Hermann là chủ ngân hàng lớn nhất và có uy tín nhất tại quốc gia của ông!" Laclos vẫn đang hút thuốc, tàn thuốc sắp cháy chạm vào những ngón tay ông ta. Vì vậy, những ngón tay đó cũng vàng ố cả.
"Đúng vậy," tôi nói, "chính vì lẽ đó."
"Điều này tôi không thể tưởng tượng nổi," Laclos nói. "Không, hoàn toàn không thể. Tôi thấy ý nghĩ này căn bản là không thể nào."
"Ông thấy điều gì là có khả năng nhất?"
"Án mạng."
"Án mạng? Một kẻ thù nào đó của ông ta?"
"Không," Louis Laclos thấp bé nói, nhả khói, "một trong những người bạn của ông ta."
12
"Những người bạn của ông ta ư?"
"Vâng, thưa ông. Đây cũng là quan điểm của bà Hermann, người em gái đó. Bà ta rất kỳ quặc, không chịu thừa nhận, nhưng những lời bà ta nói khiến tôi phải suy ngẫm."
"Bà ta nói gì?"
"Theo quan điểm của bà ta, anh trai bà ta đã biết được một người mà ông ta tin tưởng, một người bạn, đã hèn hạ lừa dối ông ta, khiến ông ta mắc bẫy. Giữa họ có các giao dịch ngân hàng, vì thế Hermann mới kích động như vậy, và vì thế mới đột ngột đến đây. Bà Hermann cho rằng, chắc chắn phải là một người nào đó trong vòng tròn bạn bè của Hermann, vì để tự cứu mình mà không còn đường lui."
"Nhưng tại sao kẻ này không dùng cách khác để giết Hermann? Tại sao lại phải khiến mười một người vô tội cùng chết một lúc?"
"Bà Hermann cho rằng, chính là để loại trừ nghi ngờ về một vụ ám sát." Những ngón tay vàng ố của ông ta mân mê bộ ria mép.
Bên ngoài, ánh sáng thay đổi theo từng phút. Những bóng râm kéo đến, ánh sáng yếu dần, ngọn đèn đầu tiên đã bật sáng. bến tàu cũ đắm chìm trong sắc xanh, đỏ sẫm, xám, trắng, tím và xanh lục đậm.
"Ngoài thủy thủ đoàn ra, những người khác trên du thuyền là ai?" tôi hỏi.
"Hai cặp vợ chồng," Laclos nói, "vợ chồng Franz và Clara Binet, vợ chồng Paul và Babette Simon. Biệt thự của họ ở ngay đây. Binet là người Thụy Sĩ, cũng là chủ ngân hàng giống như Hermann. Simon có một nhà máy lớn ở Lyon."
"Một nhà máy gì?"
"Nhà máy cung cấp linh kiện thiết bị điện tử."
"Có gia đình không?"
"Tất nhiên là có. Nhưng họ không đến đây. Họ theo dõi cuộc điều tra của chúng tôi từ xa. Ý tôi là, không có người thân ruột thịt, không có con cái gì cả. Chẳng phải chúng tôi không thể vớt xác sao? Chỉ có những mảnh thi thể vụn vặt, đã bị hỏa táng rồi. Trước khi hỏa táng, Viện Pháp y Nice tất nhiên đã kiểm tra chi tiết những mảnh thi thể đó. Tất cả các mảnh thi thể chỉ đưa ra một manh mối."
"Manh mối nào?"
"Đó chắc chắn là do một loại thuốc nổ cực mạnh gây ra."
"Ý nghĩ khiến ông ấn tượng nhất chính là một trong những người bạn của ông ta đã phạm tội này, phải không?"
"Đúng vậy, thưa ông. Ông thấy đấy, bà Hermann nói với chúng tôi rằng, những người bạn này mỗi năm ít nhất đều ở đây vài tháng, tất cả họ đều có quan hệ làm ăn với anh trai bà ta. Bà ta đã nói ngay với chúng tôi như vậy, vì bà ta cho rằng chúng tôi sẽ xác định được việc này đầu tiên. Chúng tôi cũng đã xác minh rồi. Đây là một xã hội rất quốc tế. Những người giàu có đến tột cùng. Tất cả đều đến từ giới doanh nghiệp và tài chính. Chúng tôi đã đến thăm họ, khẩn khoản yêu cầu họ không rời khỏi khu vực Cannes. Họ đã đồng ý."
"Những người này tên là gì?" tôi hỏi, lấy cuốn sổ tay của mình ra.
"Tôi đã chuẩn bị sẵn một danh sách." Laclos thấp bé nói. Ông ta đẩy về phía tôi một tờ giấy.
Tôi đọc:
John Kilwood, người Mỹ, dầu mỏ.
Giacomo và Bianca Fabian, người Ý, công nghiệp nặng.
Malcolm Towell, người Anh, công nghiệp quân sự.
Claude và Pascale Trabaut, người Pháp, tập đoàn khách sạn.
Jose và Maria Sagantana, người Argentina, thịt đóng hộp.
Athanasio và Melina Tenedos, người Hy Lạp, chủ tàu.
"Không có người Đức nào," tôi ngạc nhiên nói.
"Không, không có người Đức nào, kỳ lạ phải không? Bởi vì Hermann dù sao cũng là người Đức."
"Đúng, chính xác là vậy," tôi nói.
"Những người này," Laclos vừa chải bộ ria mép vừa nói, "không ngoại lệ, tất cả đều là tỷ phú. Họ thuộc nhóm những người giàu nhất thế giới, ông Lucas. Họ không thường xuyên ở đây, ngoại trừ bà Hermann. Vợ chồng Trabaut có một tòa lâu đài gần Paris. Những người khác có lâu đài, biệt thự, căn hộ và các trang trại lớn trên khắp thế giới. Họ chỉ đến đây làm khách. Đây là thế giới của người giàu, thưa ông. Nhưng không phải kiểu người như nhóm tụ tập ở đó. Những người này còn giàu hơn cả toàn nước Pháp, toàn châu Âu, giàu đến mức khó mà tưởng tượng nổi. Ông rất... rất khó để hình dung về bộ não và hành vi của những người này, thưa ông." Laclos cầm một cuốn sách đang mở lên, "Tôi đang đọc một cuốn sách mới về Hemingway. Trong đó có rất nhiều cuộc hội thoại của ông ấy. Tôi phát hiện ra một đoạn, cảm thấy nó đặc biệt thú vị đối với ông, đối với tôi, đối với tất cả chúng ta. Nhà văn F. Scott Fitzgerald đã nói chuyện với Hemingway về những "đại tỷ phú". Ông ấy nói..." Laclos ngậm điếu thuốc, đọc lớn, "...họ khác với anh và tôi. Họ sở hữu tài sản, tận hưởng từ sớm, điều này tất có hệ quả của nó. Khi chúng ta chịu khổ, họ được nuông chiều; khi chúng ta tin tưởng, họ mỉa mai. Nếu anh không sinh ra đã giàu có, thì rất khó để hiểu được điều này. Trong thâm tâm, họ cho rằng họ giỏi hơn chúng ta, rằng chúng ta phải tự tìm kiếm sự bù đắp và lối thoát trong cuộc sống. Ngay cả khi họ thâm nhập sâu vào thế giới của chúng ta, hay sa ngã sâu vào giữa chúng ta, họ vẫn luôn cho rằng họ giỏi hơn chúng ta. Họ không giống nhau."
Laclos ngẩng đầu lên. "Ông có muốn biết Hemingway đã đáp lại thế nào sau khi nghe không?"
"Thế nào?"
"Ông ấy chỉ nói: 'Phải, họ có nhiều tiền hơn.'"
Tôi cười.
"Trả lời rất hài hước, không tệ," Laclos thấp bé nói một cách tinh quái, "nhưng cũng chỉ là hài hước mà thôi. Fitzgerald nói đúng, người giàu không giống chúng ta. Cho đến tận bây giờ tôi mới buộc phải nhận thức chính xác về điều đó. Lạy Chúa, vì cấp trên không có ở đây nên mới xảy ra những chuyện này. Tôi chẳng qua chỉ là đại diện cho ông ấy thôi. Mà giờ đây mọi thứ đều đổ lên vai tôi."
"Ông yêu cầu Paris cử quan chức cấp cao đến đi."
"Tôi đã yêu cầu rồi. Ai biết khi nào họ mới đến? Ai biết là ai sẽ đến?" ông ta gần như khẩn cầu, "Ông đồng ý với quan điểm của tôi chứ? Làm loại án này phải đặc biệt đặc biệt cẩn thận mới được, đúng không?"
"Chắc chắn rồi, ông Laclos," tôi nói.
"Hãy cứ nhìn vào Tây Đức và Mỹ đi. Ở Mỹ, một nhóm nhỏ người chia chác tài sản của nhân dân. Họ kiểm soát kinh tế, thao túng chính trị. Ông có biết rằng chưa đầy hai phẩy năm phần trăm dân số lại kiểm soát hai phần ba nền kinh tế không? Ở quốc gia của ông, thưa ông, bảy mươi phần trăm tổng sản phẩm quốc nội nằm trong tay một phẩy bảy mươi lăm phần trăm dân số. Sự tập trung sản xuất kinh tế khiến những 'đại tỷ phú' này càng giàu thêm, sự phát triển của lạm phát chỉ ảnh hưởng đến tầng lớp làm công ăn lương, ở đâu cũng vậy, giá trị vốn sản xuất của các tỷ phú vẫn tăng!"
Tôi nhớ đến bà lão ở hiệu thuốc tại Düsseldorf, người từng hỏi tôi tại sao mọi thứ lại ngày càng đắt đỏ.
"Khi ông Hermann đến, bà Hermann và vợ chồng Trabaut đã ở đây từ lâu. Tất cả những người khác lần lượt kéo đến, đến trước hoặc sau ông ta một hai ngày," Laclos nói.
"Là Hermann gọi họ đến? Hay họ gọi ông ta đến?"
"Tôi không rõ," Louis Laclos, vị đại diện này nói, "chúng tôi nghe chính thức là họ hẹn nhau đến để chúc mừng sinh nhật lần thứ sáu mươi lăm của ông Hermann. Nhưng liệu điều đó có thật không..." ông ta thở dài nặng nề, "những người này quyền thế đến vậy. Họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn."
"Ông, một cảnh sát, mà lại nói thế sao?"
Ông ta chỉ gật đầu.
"Đúng, tôi, một cảnh sát, nói thế đấy." Ông ta nhìn sang bên cạnh, nheo mắt lại, như thể khói chui vào mắt, "Họ quyền thế đến vậy, họ..." ông ta ngập ngừng.
"Có thể hủy hoại bất cứ ai và vị trí của người đó - ông muốn nói thế, đúng không?"
"Ông biết đấy, thưa ông," đại diện của "cấp trên hành chính" nói, "vợ tôi và tôi, chúng tôi đã thắt lưng buộc bụng trong thời gian dài. Chúng tôi vừa mới mua một ngôi nhà nhỏ. Tất nhiên là chưa trả hết tiền, nợ nần chồng chất. Nhưng ngôi nhà này nằm giữa những lùm cây xanh, không còn là loại nhà ở nóng bức trong thành phố nữa. Tôi có hai đứa con, ông Lucas. Con trai đang học trung học, nó muốn trở thành nhà vật lý. Con gái tôi mới năm tuổi. Chúng tôi là một gia đình hạnh phúc. Đối với những người mà tôi phải đối phó hiện nay, tôi chỉ là một đống rác. Họ nói chuyện với tôi, quả là một phép màu." Lại một điếu thuốc nữa...
"Họ buộc phải nói chuyện với ông! Ông đại diện cho luật pháp."
"À há, luật pháp," Laclos nói, "loại nào? Của tôi hay của họ?"
"Chỉ có một luật pháp thôi. Luật pháp của công lý."
"Ông nói nghe hay thật đấy, ông Lucas. Nếu thực sự là vậy thì tốt biết mấy. Những người này đã quen với việc cùng tổng thống, hoàng đế, vua chúa và những người tương tự sắp xếp cuộc sống theo ý muốn của họ. Xin ông đừng hiểu lầm, ông Lucas, tôi không ghen tị với sự giàu có của họ. Nhưng tôi biết, nếu tôi không cẩn trọng, xúc phạm họ quá mức, thì tôi sẽ nhận được cuộc điện thoại từ Paris. Không có gì nghiêm trọng cả, không hề. Tôi chỉ bị cách chức, một người khác sẽ đến tiếp quản cuộc điều tra. Một người rất ôn hòa. Làm cảnh sát ở Cannes thường rất khó khăn. Những người quyền lực nhất thế giới đều đến đây. Quan chức và cảnh sát của chúng tôi quá ít. Cảnh sát ở các vị trí trọng yếu được yêu cầu nghỉ hưu ở tuổi năm mươi lăm, đây là sự thật chứ không phải ngoại lệ! Họ không thể làm tiếp được nữa, ông Lucas ạ. Tôi năm mươi sáu tuổi. Tôi vẫn có thể. Nhưng tôi..."
"Nhưng ông lo lắng rằng một hai năm nữa ông sẽ không thể làm được nữa." tôi nói nhỏ.
Ông ta mân mê gốc ria mép của mình, nhìn ra những con tàu ngoài cửa sổ.
Tôi đã làm một việc kỳ lạ. Tôi nói với người đàn ông mà tôi vừa mới quen này: "Tôi cũng có nỗi lo đó, thưa ông."
Ông ta lặng lẽ nhìn tôi, cả hai chúng tôi im lặng một hồi lâu. Cuối cùng ông ta nói: "Dù sao đi nữa, tôi cũng đã cầu cứu Cục Cảnh sát Tư pháp Nice, yêu cầu Paris cử cảnh sát kinh tế đến điều tra những người này. Một mình tôi quyền lực quá nhỏ bé. Ông cũng vậy, thưa ông, bao gồm cả công ty bảo hiểm của ông, mặc dù nó rất lớn. Chúng ta đang đối đầu với các tỷ phú. Với khối tài sản thống trị thế giới này, gần như là toàn bộ tài sản. Đây không phải là vụ án mạng thông thường, chắc chắn không phải."
"Nếu ông thông báo cho Paris, thì những nhân vật lớn, bộ trưởng và chính trị gia đó cũng sẽ để mắt đến ông đấy." Tôi nói với tư cách là một mồi nhử. Ông ta quả nhiên trả lời: "Hy vọng là vậy, thưa ông, hy vọng là vậy."
Ông ta trông có vẻ nhỏ bé và yếu ớt hơn, đôi mắt nhìn vào đôi bàn tay. Tiếng cười của một cô gái lọt vào từ bên ngoài, rồi lại im bặt. Văn phòng ấm áp của Louis Laclos chìm trong tĩnh lặng. Khi tôi nhả khói mới nhận ra, mình đã châm một điếu thuốc.
13
"Người duy nhất trong vụ án này không phải là tỷ phú là Angela Delphia," Laclos vuốt ve bộ ria mép của mình nói.
"Người phụ nữ cũng ngồi trên tàu nhưng may mắn thoát nạn đó sao?"
"Đúng."
"Tại sao cô ta lại ở lại Corsica?" tôi hỏi.
"Cô ta bị đau bụng trên tàu, sau đó, khi quay về cô ta quá khó chịu, lại quá yếu, không thể đi cùng những người khác. Hiện tại một con tàu của chúng tôi đã đón cô ta từ Corsica về lại Cannes."
"Angela Delphia," tôi nói, "người phụ nữ này là ai? Trên thế giới này có thứ gì thuộc về cô ta không?"
"Ôi chao, chẳng có gì thuộc về cô ta cả, ông Lucas ạ," Laclos nói, "ý tôi là, tất nhiên cô ta giàu có, nhưng cô ta trở nên giàu có nhờ vào công việc chăm chỉ. Tất cả những gì cô ta có đều là do cô ta tự tay kiếm được. Cô ta là một người nổi tiếng ở Cannes này."
"Tại sao?"
"Cô ta là một nữ họa sĩ nổi tiếng, là một họa sĩ có danh tiếng quốc tế. Tôi thấy lạ là ông chưa bao giờ nghe đến cái tên này."
"Không, chưa bao giờ nghe."
"Kỳ lạ thật. Cô ta vẽ chân dung những nhân vật hàng đầu của thành phố này, vẽ hầu hết những người nổi tiếng đến với chúng tôi. Vẽ một bức chân dung là có lý do để thu rất nhiều tiền. Ông biết đấy, cô ta vẽ cho ai, đó là một vinh dự."
"Đã kết hôn chưa?"
"Chưa. Ba mươi bốn tuổi. Không vướng bận, hoàn toàn tự do. Một người phụ nữ thông minh. Sáng nay tôi đã nói chuyện với cô ta rất lâu. Cô ta quen biết những người mới giàu, những người giàu cũ, những quý ông giả tạo, những kẻ chán chường và những người rảnh rỗi sinh nông nổi... Có lẽ ông nên sớm nói chuyện với cô ta. Cô ta có nhiều sự tỉnh táo của con người. Cô ta cũng nói tiếng Đức."
"Cô ta ở đâu?" tôi hỏi.
Ông ta đưa cho tôi địa chỉ và số điện thoại, tôi ghi lại chúng, miệng ngậm điếu thuốc. Sau đó tôi nói với ông ta rằng sáng mai tôi sẽ gọi cho ông ấy, nếu họ có tin tức gì mới, ông ấy có thể gọi cho tôi bất cứ lúc nào. Ông ta gật đầu, đưa cho tôi bàn tay với những ngón tay bị nicotine nhuộm vàng. Khi tôi xoay người ở cửa, ông ta đã ngồi lại bên bàn làm việc, đầu chống trên đôi tay, trông như một ông già. Chắc chắn ông ta lại đang nghĩ đến vợ, hai đứa con và ngôi nhà chưa trả hết tiền, nghĩ đến những người vô cùng giàu có và quyền thế kia cùng lệnh nghỉ hưu. Tôi cũng đột nhiên nhớ ra việc này. Có lẽ vài ngày nữa, khi kết quả kiểm tra sức khỏe của bác sĩ Betts có đầy đủ, tôi sẽ bị triệu hồi. Đây cũng là một ý nghĩ tuyệt vời -