61
Chúng tôi ngồi trong hai chiếc xe hơi chạy dọc Cannes. Mọi người né tránh. Xe dừng lại bên đường. Chúng tôi vượt đèn đỏ. Tôi ngồi cạnh Roussel. Laclos ngồi bên cạnh tài xế. Chúng tôi ngồi trên chiếc xe đầu tiên. Chiếc xe thứ hai chở đầy cảnh sát hình sự. Chúng tôi lao nhanh qua những con phố tĩnh lặng của khu Valergues quý tộc. Đến nhà Hermann rồi, một bức tường cao, bên trên có đinh sắt và dây thép gai. Đó là cánh cổng dẫn vào lối vào công viên. Hai chiếc xe phanh gấp, lốp xe rít lên trên mặt đường. Người gác cổng mà tôi đã biết mặt bước ra từ căn chòi của ông ta. Ông ta vẫn mặc bộ đồng phục trắng có khuy kim loại và dải băng vàng. Tài xế của chúng tôi bấm còi.
Người gác cổng ra hiệu cho anh ta xuống xe.
"Ông ta không cho bất kỳ chiếc xe nào vào đâu," tôi nói.
"À, hay lắm," Laclos gằn giọng, "đợi đấy." Hắn nhảy ra khỏi xe, chạy về phía cổng, đưa thẻ công tác cho người gác cổng xem rồi quát tháo ông ta. Tôi không nghe rõ hắn hét gì, nhưng chắc chắn là rất đe dọa. Khi Laclos quay lại xe, ngồi vào chỗ của mình, người gác cổng sợ hãi mở cánh cổng lớn ra. "Đồ chó ngu!" hắn nói.
Tài xế lại cho xe chạy. Chiếc xe thứ hai theo sát phía sau. Chúng tôi đi qua công viên trồng đầy cọ, tùng, bách và ô liu. Chúng tôi băng qua đường hầm cây cối, đôi khi được tạo thành từ những cành cây cổ thụ. Lại là những chiếc ghế đá, tượng thiên thần và các pho tượng vỡ, lại là bể bơi không có nước. Tôi đã nhìn thấy vườn hoa rực rỡ ở lối vào, vòi phun nước vẫn xoay như trước, tạo thành những chiếc cầu vồng dưới nắng gắt.
Xe chúng tôi dừng lại trên sỏi, tiếng lạo xạo vang lên. Chúng tôi bước nhanh qua những cây cột, tiến về phía cửa chính. Cửa đóng. Trên cửa treo một vòng kim loại nặng nề. Laclos dùng nó đập cửa, đập không ngừng. Vài giây sau, một người hầu khác xuất hiện – cũng mặc đồ trắng.
"Cảnh sát!" Laclos hét lên.
"Người gác cổng đã gọi điện rồi," người kia lắp bắp, "Chuyện... chuyện này là sao? Các ông không được làm ầm ĩ ở đây, thưa các ông. Phu nhân đang không khỏe... rất không khỏe..."
"Bà ấy đâu?"
"Trên giường, trong phòng của bà ấy..."
"Ông dẫn chúng tôi đi!"
"Nhưng tôi không thể làm thế... tôi sẽ bị đuổi việc mất..."
"Không ai đuổi ông đâu. Nhanh, nhanh, nhanh lên!" Laclos quát vào mặt anh ta.
Sau đó chúng tôi vào đến sảnh. Tôi thấy các cảnh sát hình sự nhảy ra từ chiếc xe thứ hai, chạy quanh ngôi nhà. Chỉ có một người đi theo sau chúng tôi. Từ sau những cánh cửa trong đại sảnh, khuôn mặt tò mò của các nhân viên ló ra nhìn ngó.
"Lên lầu!" Laclos nói. Chúng tôi bước nhanh lên, đi ngang qua những bức chân dung của Rubens, Botticelli, El Greco, Vermeer van Delft và những tấm thảm treo tường dệt hoa khổng lồ. Tôi lại ngửi thấy mùi hương hoa nồng nặc trong nhà. Những bức tượng ngà voi được chiếu sáng trong hốc tường. Chúng tôi chạy dọc hành lang tầng hai, hai lần chạy lên chạy xuống ba bậc thang, đi qua rất nhiều phòng. Người hầu kia hoảng loạn, gõ cửa căn phòng khách mà tôi đã quen thuộc. Một cô hầu gái tôi chưa quen mở cửa.
"Những vị này..." người hầu định nói, nhưng Laclos đẩy anh ta sang một bên. "Phu nhân đâu? Ở trong phòng bà ấy à?" Hắn vội vã tiến về phía cửa phòng ngủ của bà ta. Khi cửa mở ra, hắn đã gần đến ngưỡng cửa. Diamond Hilde đứng trong khung cửa, giống như một bóng ma kinh dị trong giấc mộng ban ngày. Bà ta khoác một chiếc áo ngủ thêu hoa màu hồng phấn. Bộ tóc giả lại hơi lệch, khuôn mặt nhẵn nhụi trắng trẻo. Lần này Diamond Hilde đeo một chiếc vòng cổ kim cương cổ điển, trên tay đeo một chiếc nhẫn có viên kim cương lớn ở giữa, chiếc nhẫn kia có một viên ngọc trai lớn và hai viên kim cương khác. Vì bộ tóc giả lần này lệch về phía trước, tôi phát hiện ra vùng da nhăn nheo, vàng vọt bị sắc tố hóa sau tai Hilde. Chuyên gia thẩm mỹ đã căng da mặt, kéo phần da thừa ra sau tai và kết thành sẹo, chúng được hình thành như vậy đấy. Chiếc áo ngủ màu hồng phấn cùng đôi mắt màu hồng của Hilde, bà ta nhìn chúng tôi với vẻ giận dữ tột độ.
"Thật là mặt dày vô liêm sỉ! Thanh tra Laclos, hôm nay ông sẽ bị sa thải, hãy tin là thế đi! Còn ông nữa, ông Lucas, tôi sẽ gọi điện cho Düsseldorf ngay lập tức!"
"Tôi tưởng bà muốn tôi tìm ra hung thủ sát hại anh trai bà chứ," tôi nói.
"À ha, câm miệng lại, đồ ngu ngốc!" bà ta quát, rồi quay sang Roussel cao lớn, "Còn ông nữa, thưa ông, tôi sẽ khiến ông..."
"Bà chẳng làm được gì đâu," Roussel nói, "Bà phải ngừng gào thét như thế đi. Chúng tôi không đến đây vô cớ. Phu nhân, bà không khỏe sao?"
"Ông có thể thấy đấy," Diamond Hilde lảo đảo. Tôi không thể đoán được đó là thật hay giả vờ. "Tôi khó chịu lắm."
"Vậy y tá của bà đâu?"
"Anna?"
"Đúng, Anna. Cô ấy đâu?"
"Tôi không hiểu."
"Ý câu đó là sao?"
"Sau bữa sáng tôi lại ngủ thiếp đi. Các người làm tôi thức giấc rồi. Sáng nay tôi đã thấy Anna. Cô ấy về phòng của mình rồi. Tôi thường thức dậy lúc bảy giờ. Giờ mới có ba giờ thôi."
Laclos hỏi cô hầu gái: "Phòng của y tá ở đâu?"
"Ở tầng ba, thưa ông..."
"Xin hãy dẫn chúng tôi lên đó."
"Các ông không được làm thế!" Diamond Hilde nói bằng giọng khàn đặc, "Các ông có lệnh khám xét không?"
"Không," Laclos bình thản nói, "Chúng tôi không quan tâm. Nhanh lên, làm theo lời thanh tra bảo đi, nếu không bà sẽ gặp rắc rối đấy." Hắn nói với cô hầu gái. Cô ta vẫn do dự, nhìn Diamond Hilde cầu cứu.
"Được rồi, cô đi trước đi," giọng nói đầy thù hận vang lên, "Nhưng tôi sẽ đi cùng."
"Tôi tưởng bà khó chịu lắm mà," tôi nói.
"Ông có biết không, ông Lucas?" giọng bà ta đột nhiên như mụ hàng cá, "Làm ơn đừng xen vào chuyện người khác! Đi thôi, đỡ tôi với!" Bà ta khoác tay tôi. Chúng tôi ra khỏi hành lang, đến một cầu thang bằng đá cẩm thạch dẫn lên tầng ba. Hành lang trên này thấp hơn, cửa phòng không cao bằng.
"Đây ạ," cô hầu gái nói.
Roussel gõ cửa.
"Cô Anna!"
Không có tiếng trả lời.
"Cô Anna, làm ơn mở cửa! Chúng tôi là cảnh sát!"
Vẫn lặng im.
"Liệu cô ta có trốn thoát rồi không?" tôi thì thầm với Laclos.
"Cả ngôi nhà đã bị bao vây. Nếu lúc chúng ta đến cô ta còn ở đây, thì bây giờ cô ta vẫn ở đây. Jules!"
Viên cảnh sát đi cùng chúng tôi bước lên, vặn nắm cửa.
"Khóa rồi," anh ta nói, cúi xuống nhìn qua lỗ khóa, "Nhưng bên trong không cắm chìa."
"Phá cửa!" Laclos nói.
"Thật kinh khủng!" Diamond Hilde kêu lên.
"Câm miệng lại!" Laclos nói. Người đàn ông nhỏ bé này, kẻ từng rất sợ những nhân vật quyền quý và giàu có, giờ đây dường như chẳng còn sợ gì nữa.
Viên cảnh sát kia cao lớn vạm vỡ, anh ta dùng thân mình húc vào cửa – một lần, hai lần. Lần thứ ba cánh cửa bật mở, viên cảnh sát không giữ được đà, lao vào trong phòng. Chúng tôi theo sát phía sau. Đó là một căn phòng rộng kiểu cổ, có cửa sổ sát đất hình bán nguyệt. Diamond Hilde mới chỉ bước một chân vào phòng đã thét lên một tiếng rồi ngã ngửa ra sau. Tôi lao tới, kịp đỡ lấy bà ta. Bà ta ngất xỉu, hoặc nếu không phải ngất, thì bà ta diễn quá hoàn hảo. Bà ta đổ ập vào tay tôi. Tôi đặt bà ta xuống sàn.
"Chết tiệt!" Laclos nói.
Y tá Anna đến từ Milan, người phụ nữ cao lớn, khỏe mạnh nhưng cũng toát lên vẻ mẫu tính, đang nằm trên một chiếc giường lớn. Cô ấy mặc bộ đồng phục trắng, nhưng bộ đồ đó không còn trắng nữa, và Anna trông cũng không còn giống một người mẹ nữa. Đầu cô ấy nghiêng sang một bên, mắt nhìn trừng trừng lên trần nhà, miệng há hốc. Phần trên bộ đồng phục trắng đẫm máu. Một chuôi dao găm cắm dựng đứng từ ngực cô ấy, ngay cạnh trái tim.
62
Nửa tiếng sau, các chuyên gia của đội trọng án đã đến. Đi cùng họ là bác sĩ pháp y Vernon thấp bé và nhân viên thuế vụ Kessler. Kessler đã gọi điện cho khách sạn "Carlton", hỏi xem có tin nhắn nào cho ông ta không. Người ở tổng đài bảo ông ta nên đến đây. Kessler nhìn nữ y tá đã chết, rùng mình.
"Ai làm chuyện này?"
Laclos tóm tắt ngắn gọn những chuyện xảy ra sáng nay cho ông ta, rồi đáp: "Một kẻ nào đó muốn bịt miệng cô ta trước khi cô ta kịp mở lời, vì bây giờ gã người Algeria kia đã khai rồi."
"Nhưng làm sao hung thủ biết gã người Algeria đã khai?"
"Hắn có thể đoán được. Hắn có thể đã thấy cuộc truy quét đó. Chúng tôi còn phải thẩm vấn ở đó. Vì vậy hắn có đủ thời gian," tôi nói.
"Gã người Algeria đó," nhân viên thuế vụ trầm ngâm nói, "Sáng nay tôi đã ở sân tennis với Malcolm Towell, vắt kiệt hắn như vắt một quả cam, hỏi về việc kinh doanh của hắn với Kilwood, hỏi về việc kinh doanh của tất cả những người này – chúng tôi cũng đã nói đến gã người Algeria tên Boca mà Kilwood nhắc tới. Towell nói đó hoàn toàn là lời nói nhảm khi say, trên đời này chưa bao giờ có một gã người Algeria như vậy. Lạy Chúa, giờ thì hắn lại có thật. Kilwood, tên bợm rượu đó, hắn đã nói thật."
"Tất nhiên là thật," Laclos khó chịu nói, "Vì thế nên hắn mới bị sát hại. Bởi có kẻ sợ hắn sẽ tiết lộ thêm nhiều sự thật nữa. Chính vì lý do đó, cô y tá này mới bị sát hại."
Nhân viên đội trọng án đi lại, chụp ảnh thi thể, rắc bột than chì lên đồ đạc để tìm dấu vết. Họ xử lý xong thi thể, lúc này bác sĩ Vernon đang khám nghiệm.
"Tôi không muốn thúc ép bác sĩ," Laclos nói, "Nhưng ông có ước lượng được chuyện này xảy ra lúc nào không?"
"Tất nhiên là không rồi, cưng ạ," Vernon nói, cười khúc khích.
"Đại khái thôi?"
"Thi thể đã bắt đầu cứng lại. Bây giờ là mấy giờ? Mười sáu giờ ba mươi phút. Được rồi, vì ông hỏi, tôi sẽ nói bừa nhé: Người phụ nữ này không bị giết trước mười giờ, cũng không phải sau mười hai giờ."
"Ông thấy đấy, thời gian thừa thãi," Laclos nói với Kessler.
Tôi nói: "Nhưng cửa phòng cô ấy khóa. Chúng tôi không tìm thấy chìa khóa."
"Vậy là hung thủ đã lấy đi rồi. Hoặc là nữ hung thủ. Trong vụ án này, tôi dự đoán cái gì cũng có thể xảy ra," Roussel nói.
"Hay lắm. Hung thủ vào phòng bằng cách nào? Ngay trong một ngôi nhà thế này?" tôi hỏi.
"Tôi không biết," Roussel nói, "Có lẽ vốn dĩ hắn đã ở trong nhà này rồi."
"Một nhân viên?" Kessler hỏi.
"Ví dụ thế, hoặc là Diamond Hilde."
"Tại sao..." tôi vừa mở lời đã dừng lại.
"Đúng vậy," Laclos nói, gật đầu trầm tư, "Ông vừa hỏi: tại sao không thể là Diamond Hilde? Đúng không? Ông thấy đấy. Tại sao bà ta không thể là nữ hung thủ? Bà ta có thể chạy, chúng ta đã thấy rồi, bà ta không ốm nặng đến thế, con dao găm cũng là của trong nhà, điều này giờ chúng ta đã biết."
Các cảnh sát phát hiện ra, hung khí cắm trong một chiếc bao dao cổ điển tinh xảo trên tường cầu thang.
"Dấu vân tay thì sao?" Roussel hỏi một người bên bộ phận giám định.
Anh ta nhún vai.
"Tất nhiên là có rất nhiều dấu vân tay của người chết, và một đống dấu vân tay của người khác. Có thể là của cô hầu gái, người hầu hoặc bất kỳ ai khác trong nhà. Chúng tôi phải kiểm tra từng cái một."
"Chết tiệt," Laclos nói, "Tôi cảm thấy, đây lại là một vụ án kiểu Kilwood."
Người hầu đã dẫn chúng tôi vào nhà bước vào.
"Xin lỗi các ông, phu nhân cảm thấy rất khó chịu, bảo tôi hỏi xem bác sĩ cảnh sát có thể khám cho bà ấy không. Bác sĩ riêng của bà ấy nửa tiếng nữa mới đến."
"Tất nhiên rồi, nhóc con, tất nhiên," Vernon vui vẻ nói, "Bác sĩ tốt bụng đến đây. Tôi sẽ quay lại ngay, các ông." Ông ta đi về phía cửa.
"Xin mời ông Lucas cùng đến chỗ phu nhân," người hầu nói.
"Tôi?" tôi ngạc nhiên hỏi.
"Phu nhân đích thân yêu cầu ạ."
Chúng tôi xuống lầu tìm Diamond Hilde. Bà ta nằm trên chiếc giường kiểu Rococo, đầu lắc lư không ngừng. Những ngón tay bà ta không ngừng xoa xoa tấm chăn. Ở đây cũng bày rất nhiều hoa, mùi hương gây mê muội. Khi Vernon khám cho Diamond Hilde, tôi nhìn qua khe rèm đang hạ xuống xuống vườn hoa, nhớ lại tình cảnh lúc tôi rời khỏi ngôi nhà sau lần đầu tiên đến đây. Seeberg đã tiễn tôi đến tận chiếc xe Jeep kỳ lạ đó, tôi quay người lại, nhìn lên bức tường. Lúc đó tôi thấy một khung cửa sổ, chắc chắn là cửa sổ đó, trên tấm kính có dán hai khuôn mặt – mặt của Diamond Hilde và mặt của y tá Anna. Khi cảm thấy có người quan sát, họ lập tức thả tấm rèm đang vén lên xuống. Trước đó, tôi chưa bao giờ thấy sự sợ hãi trần trụi như vậy trên hai khuôn mặt. Diamond Hilde sợ cái gì? Tôi suy đoán. Y tá sợ cái gì? Liệu Diamond Hilde bây giờ cũng đang gặp nguy hiểm đến tính mạng? Nếu bà ta chia sẻ nỗi sợ này, thì bà ta đang gặp nguy hiểm, tôi nghĩ. Không, không đúng. Nỗi sợ này cũng có thể chỉ chí mạng với một trong hai người. Nhưng tôi có chắc chắn không?
Tôi nghe Vernon nói chuyện, nhìn về phía giường.
"...Mọi thứ đều ổn, chỉ là hoảng sợ thôi. Đồng nghiệp của tôi đã kê cho bà loại thuốc an thần rất tốt. Tôi yêu cầu bà uống hai viên trước khi anh ta đến..." Ông ta đỡ đầu Hilde, đưa cốc nước lên môi bà ta. Bà ta uống nước, khó khăn lắm mới nuốt được viên thuốc ông ta đưa. "Được rồi, bà sẽ thấy, vài phút nữa bà sẽ khá hơn thôi, phu nhân."
"Tại sao Anna lại bị sát hại?" Diamond Hilde hỏi nhỏ. Nằm trên giường, bà ta đã khoác thêm một chiếc áo khoác len mỏng bên ngoài chiếc váy ngủ dài. Còn cả trang sức nữa.
"Chúng tôi vẫn chưa biết. Bà có đối tượng nghi vấn nào không?" Vernon hỏi.
Bà ta lắc đầu.
"Tôi lại phải lên lầu đây."
"Để ông Lucas ở lại. Chỉ một lát thôi," bà ta cầu khẩn nhìn Vernon.
"Được rồi. Nhưng bà đừng nói quá nhiều," Vernon đi về phía cửa, đồng thời nói với tôi, "Năm phút thôi."
Khi chỉ còn lại hai người, Diamond Hilde vẫy tay gọi tôi lại gần. Bà ta thì thầm: "Hai triệu."
"Cái gì?"
"Mark. Hai triệu Mark." Bà ta nắm chặt lấy khuy áo sơ mi của tôi, "Nếu ông khiến lũ người đó phải chết, tôi sẽ trả."
Lại bắt đầu rồi.
"Vâng, phu nhân Hermann," tôi nói.
"Ông thấy đấy, tôi nói đúng mà! Lũ người đó không sợ hãi gì cả. Anh trai tôi. Kilwood. Anna. Ngày mai đến tôi... tôi sợ! Sợ lắm!" Bà ta kéo khuy áo tôi. Tôi cố sức thoát ra khỏi tay bà ta.
"Tôi sẽ cố hết sức. Cảnh sát cũng vậy."
"Cảnh sát! Họ chẳng làm được gì cả! Họ chẳng làm được gì hết! Ông, ông Lucas, ông là người duy nhất có thể làm được gì đó. Ông làm đi, trước khi quá muộn, tôi cầu xin ông. Ông muốn lấy tiền ngay bây giờ không? Ông muốn một tấm séc không?"
"Tôi sẽ quay lại sau," tôi nói, "Sẽ sớm quay lại thôi. Tôi phải nói chuyện với tổng đại diện toàn quyền của bà."
"Với Seeberg?"
"Đúng. Ông ta đâu?"
"Sáng nay ông ta bay đến Frankfurt rồi. Có việc gấp ở ngân hàng cần ông ta. Cảnh sát cho phép ông ta rời Cannes. Vài ngày nữa ông ta sẽ về. Ông tìm Seeberg làm gì?"
"Tôi sẽ nói với ông ta," tôi nói.
"Được. Được. Ông giúp tôi, phải không? Ông có thể khiến lũ khốn đó phải chết không? Ông tìm cách trừ khử chúng đi – tất cả, tất cả, tất cả?"
"Tất nhiên rồi, phu nhân Hermann," tôi nói. Hoa nhiều quá, mùi hương đó làm tôi buồn nôn kinh khủng. Làm sao người ta có thể ngủ trong một căn phòng như thế này cơ chứ?
63
Roussel và Laclos bắt đầu công việc điều tra thường lệ cho vụ án mạng mới này. Tôi hẹn với họ là cứ ba tiếng tôi sẽ liên lạc một lần. Thời gian còn lại có thể tìm thấy tôi ở nhà phu nhân Delphia. Tôi nói khẽ với Laclos, hắn chỉ gật đầu, vẻ mặt không chút thay đổi. Xe cảnh sát đưa tôi đến khách sạn "Majestic". Tôi gửi hai bức điện mật dài cho Gustav Brandenberger. Trong một bức, tôi báo cáo về cái chết của y tá Anna Gallina. Trong bức kia, tôi yêu cầu xác nhận ngay lập tức xem Seeberg có thực sự ở Frankfurt không, ông ta có đến ngân hàng không, hay vẫn ở đó, ông ta đi chuyến bay nào đến, sau đó tôi yêu cầu điều tra xem khi nào ông ta quay về. Gustav từng tự khoe rằng ông ta có thể mua chuộc rất nhiều người. Giờ là lúc để ông ta chứng minh. Tôi gửi bức điện dưới dạng khẩn cấp. Tôi về phòng thay quần áo, gọi điện cho Angela. Nhưng người nghe máy không phải cô ấy, mà là Alphonsine Petit, cô lao công thấp bé rất quý tôi.
"Phu nhân đợi điện thoại của ông rất lâu rồi, thưa ông. Bây giờ bà ấy đi rồi. Khoảng mười phút trước ạ."
"Đi đâu rồi?"
"Nếu ông gọi đến, bà ấy bảo tôi nói là đi nhà thờ ạ," Alphonsine trả lời.
"Cảm ơn," tôi nói. Khi cúp máy, lồng ngực trái của tôi đột nhiên nhói đau bất ngờ. Tôi co rúm người lại. Rồi mọi thứ lại qua đi.
64
Ngôi nhà thờ nhỏ của người Nga u tối và mát mẻ. Nhiều bức tượng thánh sáng lấp lánh. Khi mắt tôi đã quen với ánh sáng mờ ảo, tôi nhìn thấy Angela. Cô ấy ngồi trước bức tượng Đức Mẹ đen, trước mặt có nhiều chân nến. Rõ ràng cô ấy vừa cắm một cây nến mới lên chân nến, đã châm lửa, vì cô ấy nhìn chằm chằm vào ánh nến, hai tay chắp lại như một đứa trẻ.
Tôi bước tới bên cô ấy, ngồi xuống cạnh cô, hôn lên tóc cô. Cô ấy không hề nhúc nhích. Đôi môi cô cầu nguyện trong im lặng. Tôi không chắp tay, nhưng tôi nhìn vào cây nến, ánh sáng của nó và Đức Mẹ đen phía sau, tôi cũng cầu nguyện. Lần này thì được. Tôi cầu xin Chúa giúp chúng tôi, sắp xếp khéo léo để Karin đồng ý ly hôn, để tôi có thể cưới Angela.
Cầu nguyện xong, tôi lặng lẽ ngồi cạnh Angela. Bây giờ cô ấy đã nhắm mắt, hoàn toàn đắm chìm. Tôi nghe thấy tiếng bước chân sau lưng, nhưng tôi không quay lại. Tôi đợi, cho đến khi Angela mở mắt ra, nắm lấy tay tôi, đứng dậy. Ở cửa nhà thờ, một vị linh mục trẻ đang dùng đinh ghim thông báo lên một tấm bảng đen. Chúng tôi đi về phía anh ta. Anh ta mỉm cười gật đầu.
Angela dừng bước, nhìn chằm chằm vào anh ta hồi lâu.
"Tôi có thể giúp gì cho bà không?" vị linh mục trẻ hỏi một cách lịch sự. Anh ta mặc chiếc áo dòng dài, tóc xõa dài đến vai. Đôi mắt anh ta màu xám, đẹp đẽ, giọng nói bình thản, tràn đầy sức mạnh và lòng nhân từ vô tận.
"Thưa cha," Angela nói nhỏ, "Là cha. Tôi lại nhận ra giọng của cha rồi. Đúng, chắc chắn là cha rồi."
"Tôi chắc chắn là ai cơ?" Bọn trẻ đang chơi đùa trong khu vườn hoang phía ngoài. Tiếng reo hò vui vẻ của chúng truyền thẳng vào ngôi nhà thờ tĩnh lặng.
"Cha sẽ không nhớ đâu," Angela nói, "Đã ba năm trôi qua rồi. Chính xác là vào đêm ngày 11 tháng 6 năm 1969. Khi đó có một người phụ nữ gọi điện, nói rằng cô ấy muốn tự sát. Không, chắc chắn cha không nhớ đâu."
Vị linh mục trẻ mỉm cười.
"Tôi nhớ rất rõ," anh ta nói, "Người phụ nữ đó rất tuyệt vọng, rất cô đơn. Cô ấy đã trải qua một chuyện kinh khủng với một người đàn ông. Cô ấy nói, vì công việc, cô ấy buộc phải tham gia rất nhiều hoạt động xã hội, dự tất cả các bữa tiệc. Cô ấy phải luôn vui vẻ, xinh đẹp, không bao giờ được để lộ nỗi buồn và sự khổ sở của mình. Tôi đã mong đợi chuyến thăm của bà từ rất lâu rồi, thưa bà."
"Cha thực sự nhớ sao?"
"Như mới ngày hôm qua. Sau bao nhiêu năm, tôi vẫn luôn nhớ đến bà. Tôi tin chắc một ngày nào đó bà sẽ đến. Và giờ thì bà đến rồi. Tôi cảm thấy, bây giờ bà rất hạnh phúc."
"Hạnh phúc không thể hạnh phúc hơn được nữa, thưa cha," Angela nói, "Điều này tôi phải cảm ơn cha. Tôi vẫn chưa đến, cảm thấy xấu hổ. Sau đó tôi tự nhủ, tôi phải đợi đến khi thực sự hạnh phúc mới đến, đợi đến khi tôi không còn cô đơn nữa."
"Bây giờ chính là lúc đó."
"Đúng," Angela nói, "Bây giờ tôi không còn cô đơn nữa. Bây giờ, tôi đã tìm thấy người đàn ông mà tôi thực sự yêu."
"Tôi thực sự yêu người phụ nữ này, thưa cha," tôi nói.
"Tôi tên là Ilya. Các bạn cứ gọi tôi là anh em Ilya nhé – tôi còn trẻ lắm."
Chúng tôi cũng giới thiệu tên mình, anh ta đưa tay bắt tay tôi.
"Tôi thực sự vui mừng vì bà đã tìm thấy hạnh phúc và bình yên, phu nhân Delphia," anh em Ilya nói. Anh ta nói tiếng Pháp trôi chảy với giọng Nga. "Ông thấy đấy, mọi đau khổ rồi sẽ qua đi. Chúa yêu nhân loại, cũng cần nhân loại. Không có họ thì Chúa làm gì chứ?"
"Chúng tôi đã tìm thấy hạnh phúc, anh em Ilya," Angela nói, "Nhưng vẫn chưa có sự bình yên. Ông Lucas đã kết hôn rồi."
"Ồ," vị mục sư nói.
"Tôi đã ly thân với vợ, nhưng về mặt pháp lý, tôi vẫn là người đàn ông có vợ," tôi nói.
"Tôi hiểu," anh em nhà Ilya nói. Anh nhìn vào đôi bàn tay mình, rồi ngước nhìn cả hai chúng tôi. "Xin hãy kể cho tôi nghe thêm một chút—ông muốn tôi đưa ra quan điểm của mình, đúng không?"
"Tất nhiên rồi," Angela nói.
"Vậy tôi cần phải nắm rõ tình hình hơn. Ông Lucas, có lẽ ông nói sẽ dễ dàng hơn..."
Tôi bắt đầu kể, Ilya lặng lẽ lắng nghe. Cuối cùng, anh nói: "Ông có cảm giác tội lỗi với vợ mình không?"
"Không," tôi đáp, "Không, anh em nhà Ilya. Tôi đã từng cảm thấy tội lỗi—trước khi tôi nói ra sự thật với vợ mình. Sau khi nói ra rồi thì không còn nữa."
"Còn bà thì sao, thưa bà?"
"Tôi cũng vậy..." Angela bắt đầu kể câu chuyện của mình. Cuối cùng, cô nói: "Ông thấy đấy, khi tôi biết được sự thật, chúng tôi đã chia tay. Tôi không bao giờ có thể cùng Robert lừa dối vợ anh ấy để làm nhân tình của anh ấy được. Nhưng giờ đây, anh ấy đã nói ra sự thật. Tôi tin chắc rằng cuộc hôn nhân của anh ấy đã chết từ nhiều năm trước, chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa pháp luật mà thôi. Giờ đây, tôi cũng không còn cảm thấy tội lỗi nữa. Như vậy có trơ trẽn quá không?" Anh em nhà Ilya mỉm cười nhẹ.
"Tôi buộc phải từ bỏ việc đưa ra bất kỳ phán xét đạo đức thông thường nào đối với hành động của hai người. Hai người cũng không thể yêu cầu tôi làm điều đó. Tôi chỉ có thể trả lời với tư cách là một người tồn tại vì hạnh phúc của nhân loại."
"Vậy câu trả lời là gì?"
Anh em nhà Ilya nói: "Bà đã tìm thấy một nội dung sống mới, thưa bà. Bà có tình yêu, bà hạnh phúc. Cuộc sống của bà lại có ý nghĩa và vẻ đẹp..."
"Đúng vậy," Angela nói.
"Còn ông, ông Lucas, ông đã sống trong một mối quan hệ hôn nhân đã chết suốt nhiều năm qua. Chắc chắn ông đã không hạnh phúc. Nhưng bây giờ ông không còn bất hạnh nữa. Hai người không có con cái. Nếu bây giờ ông rời bỏ bà ấy, chắc chắn ông vẫn sẽ chăm sóc bà ấy, không để bà ấy rơi vào cảnh khốn cùng."
"Chắc chắn là vậy," tôi nói.
Chúng tôi nắm tay nhau đứng trước vị mục sư, như hai đứa trẻ.
"Vậy nếu xét dưới góc độ thần học—tôi còn quá trẻ và tự do, tôi có thể nói như vậy, có lẽ một vị mục sư khác sẽ nói với ông những điều hoàn toàn khác—thì dưới góc độ thần học, việc nguyền rủa, cấm đoán mối quan hệ đưa hai người trở lại với cuộc sống này, gọi đó là tội lỗi, đó thuần túy là siêu hình, là sai lầm. Không," anh em nhà Ilya trầm ngâm nói, "Tôi không thể làm thế. Tôi đã nói rồi, với tư cách là một người có cảm xúc, chứ không phải dựa theo giáo điều của giáo hội—tôi không thấy có tội lỗi gì cả. Hai người từng là ba con người bất hạnh. Bây giờ đã có hai người hạnh phúc. Ông, thưa ông, nếu tôi nhìn không lầm, ông sẽ không bao giờ có được một mối quan hệ hôn nhân hòa thuận để làm vợ mình hạnh phúc nữa."
"Ông nhìn đúng đấy."
"Vậy thì ông chỉ đang kết thúc một tình trạng không thể chịu đựng nổi—một tình trạng mà đối với vợ ông chắc chắn cũng không thể chịu đựng nổi. Chấp nhận rủi ro bị chỉ trích gay gắt nhất, tôi mừng cho cả hai người. Hai người đã trao gửi trái tim cho nhau, hoàn toàn tin tưởng vào tình cảm của mình. Tôi ủng hộ hai người, tôi nói điều này vì tôi tin rằng, làm một Kitô hữu trước hết phải có tính nhân bản—tất nhiên là theo nghĩa chân thực của từ này. Chúng ta không bao giờ được phép quên rằng, giáo điều của giáo hội—không chỉ tôn giáo của chúng ta, mà còn bao gồm nhiều tôn giáo khác—chỉ áp dụng được vào một cuộc sống hạnh phúc mà Chúa ưa thích khi con người chú ý đến nhân loại nói chung. Nhưng phán quyết về tội hay không tội của cá nhân nằm trong tay Chúa, không cần phải để nhân loại biết đến. Việc dựa vào giáo phái này hay giáo phái kia để định đoạt giáo điều một cách cuối cùng, đó thuần túy là sự báng bổ thần linh." Anh nhìn chằm chằm vào Angela, "Tôi đã nói rồi, tôi còn rất trẻ. Có lẽ những gì tôi nói với bà là sai, nhưng tôi phải nói ra suy nghĩ, cảm nhận và những gì tôi cho là đúng. Tòa án sẽ phán quyết ra sao, vợ ông sẽ phản ứng thế nào, thưa ông, tất cả những điều đó tôi đều không biết. Tương lai, nó nằm trong bóng tối. Nhưng, thưa bà, tôi sử dụng quyền tự do của một mục sư để nói với hai người rằng, tôi mừng cho hai người. Hai người cùng nhau bắt đầu một cuộc sống tươi mới, đầy sức sống và tươi đẹp. Giáo hội, Kitô giáo nên đứng về phía nhân loại, chứ không phải đứng về phía luật pháp. Chúa Jesus Christ cũng đã nói như vậy, chỉ là dùng từ ngữ khác mà thôi." Anh mỉm cười, lịch thiệp nhưng cũng có chút ngại ngùng. Một khoảng lặng kéo dài. Sau đó, Angela khẽ nói: "Cảm ơn ông, anh em nhà Ilya, cảm ơn ông."
"Tôi cũng vậy," tôi nói. Tôi đưa tay vào túi xách của mình để tìm kiếm. Anh nhận ra và lập tức nói: "Không, không, xin đừng. Bây giờ đừng làm vậy."
"Nhưng ông đang cần tiền mà."
"Chúng tôi rất cần tiền, nhưng xin ông đừng đưa gì cho chúng tôi lúc này, thưa ông. Đừng làm vậy sau cuộc trò chuyện này. Ông nhìn cái hòm bên cạnh cửa nhà thờ kìa. Ông có thể bỏ tiền vào đó, lúc nào cũng được. Chỉ là không phải bây giờ. Ông sẽ hiểu điều này."
"Tất nhiên," tôi hổ thẹn nói, "Xin ông hãy tha lỗi cho tôi."
"Chào mừng ông quay lại," anh em nhà Ilya nói, "Nếu ông buồn phiền, nếu ông có nỗi lo âu, luôn chào mừng ông đến bất cứ lúc nào. Tôi ở đây."
Chúng tôi chào từ biệt. Chúng tôi nắm tay nhau đi về phía xe của Angela. Chiếc xe đỗ dưới gốc cây cổ thụ, lại phủ đầy hoa rơi. Chúng tôi lên xe, chiếc xe lướt về phía cổng. Anh em nhà Ilya đứng trong cửa nhà thờ. Chúng tôi vẫy tay với anh. Anh vẫy tay đáp lại chúng tôi. Angela bắt đầu lái xe.
"Em hạnh phúc quá, Robert," Angela nói.
"Anh cũng vậy."
"Anh ấy hiểu chúng ta. Em đã biết từ lâu rằng anh ấy hiểu chúng ta. Anh ấy nói, nếu chúng ta có nỗi buồn hay phiền muộn, chúng ta có thể quay lại. Anh đã từng nghĩ còn có những người như vậy không?"
"Chưa từng."
"Bây giờ anh phải làm việc à?"
"Tạm thời không. Chỉ cần gọi điện thoại thôi."
"Có chuyện gì vậy?"
"Chúng ta hãy đến góc 'của chúng ta' ở khách sạn 'Trang Nghiêm' nhé. Chúng ta uống chút gì đó. Anh sẽ kể hết cho em nghe," tôi nói.
Chúng tôi lại lái xe lên con đường Thập Tự, Angela ngồi sau tay lái, tôi ngồi bên cạnh cô, hòa vào dòng chảy của những chiếc xe khác. Như thường lệ, khi màn đêm buông xuống, không khí trở nên mát mẻ dễ chịu. Zelger, người bạn của Angela và cũng là nhân viên trông xe tại khách sạn "Trang Nghiêm", nhận chiếc Mercedes và lái nó vào gara ngầm. Góc "của chúng ta" trên sân thượng vẫn còn trống. Chúng tôi ngồi xuống, người phục vụ "của chúng ta" đến, tôi gọi một chai champagne. Sau đó tôi đi vào đại sảnh. Hồi âm của Gustav vẫn chưa tới. Tôi gọi điện cho phân cục trung tâm, tìm gặp Roussel. Vẫn đang điều tra, ông ấy nói, cho đến nay vẫn chưa có cơ sở nào để nghi ngờ một cá nhân cụ thể. Yêu cầu tôi ba tiếng sau hãy gọi lại. Theo ông ấy, trước sáng mai chắc sẽ không có phát hiện quan trọng nào mới. Tôi quay lại sân thượng, lúc này sân thượng đã chật kín người, tất cả đều đang uống đồ uống khai vị của họ. Tôi ngồi cạnh Angela, chúng tôi uống champagne. Tôi ăn vài quả ô liu và hạnh nhân muối, vừa kể cho Angela nghe về cuộc vây bắt lớn của Boka và vụ sát hại y tá Anna Galina.
"Chuyện này ngày càng nghiêm trọng rồi," cô nói.
"Đúng vậy," tôi nói, "Anh cảm thấy đây còn lâu mới là kết thúc."
Cô đặt bàn tay phải của mình lên bàn, đè lên tay trái của tôi. Tôi rùng mình một cái. Chuyện này từ đâu ra, tôi nghĩ, không thể nào, không thể nào.
"Robert!" tôi nghe thấy Angela nói, "Robert, anh làm sao vậy?"
Tôi không thốt nên lời.
Cô nhìn theo hướng tôi đang nhìn, phát ra một tiếng kêu.
"Không! Không, không thể nào! Robert, chuyện này không thể nào!"
Một cảm giác ngọt ngào vô tận khiến tôi choáng váng.
"Có thể chứ. Cả hai chúng ta đều nhìn thấy. Anh đã nói với em, sẽ có một ngày như thế này. Bây giờ chính là lúc đó."
"Ồ, Robert, Robert!" Angela nói. Giọng cô nhỏ dần thành tiếng thì thầm. Cô áp cánh tay mình vào cánh tay tôi. Chúng tôi ngồi bất động bên bàn của mình, nhìn vào mu bàn tay phải của cô, nó đang đặt trên tay tôi. Như tôi biết, trên mu bàn tay phải rám nắng vì ánh mặt trời của cô, từ thời thơ ấu Angela đã có một vết bớt nhạt màu. Nó khác với những vùng da khác, không bao giờ rám nắng. Bây giờ, cả hai chúng tôi đều nhìn chằm chằm vào mu bàn tay này. Nó mịn màng, khắp nơi đều đã rám nắng vì mặt trời. Vết bớt sáng màu đó đã hoàn toàn biến mất—