Chỉ có gió mới biết câu trả lời

Lượt đọc: 68 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Tiết thứ sáu

❊ ❊ ❊

33

Một chiếc điện thoại reo lên. Tôi đang ngủ mê mệt, đầu óc choáng váng. Tôi nghe thấy tiếng chuông, nhưng cứ ngỡ mình chỉ đang nằm mơ. Tôi vừa mơ thấy rắn, rất nhiều rắn, những con rắn khổng lồ, tôi phải vật lộn với chúng để giành lấy sự sống. Đàn rắn định siết cổ tôi cho đến chết. Một chiếc điện thoại reo lên. Không, đây không phải là mơ. Tôi giật mình bật dậy, tỉnh hẳn, không biết mình đang ở đâu, ngày mấy, mấy giờ, tôi là ai. Thật sự không biết, tôi không thể thốt nên lời. Điện thoại vẫn reo vang "tinh tinh". Tôi không nhìn thấy chiếc điện thoại vì rèm cửa đã kéo kín, căn phòng tối om như mực. Tôi vẫn cảm thấy lũ rắn đang đè nặng lên cơ thể mình, tóc tai, mình mẩy và trán đều đẫm mồ hôi.

Tôi đang ở đâu? Cái điện thoại chết tiệt kia ở đâu? Tôi mò mẫm, làm đổ một cốc nước đặt trên bàn cạnh giường, một bàn tay quờ vào nước, nước chảy xuống sàn, nhỏ từng giọt "tách, tách, tách". Bàn tay chạm vào một vật cứng – là điện thoại. Tôi nhấc máy lên. Khi đưa ống nghe lại gần tai, tay tôi run rẩy.

"Alô?"

"Chào buổi sáng, ông Lucas." Giọng một cô gái vang lên, "Ông yêu cầu chúng tôi gọi ông dậy. Bây giờ là bảy giờ."

"Bảy giờ." Tôi lặp lại một cách vô hồn. Tôi muốn đặt ống nghe xuống nhưng không tìm thấy cái móc gác, đành dùng cả hai tay tìm công tắc đèn ngủ, nhấn xuống, ánh sáng khó chịu đột ngột chiếu sáng căn phòng đến chói mắt. Đây là gì... Tôi chợt bừng tỉnh. Đúng rồi, phòng khách sạn của tôi. Đúng, tôi đã yêu cầu gọi dậy lúc bảy giờ. Đúng, tôi đang ở khách sạn "InterContinental". Đúng, tôi đã rời bỏ vợ mình vì Angela. Tôi đã gọi cho cô ấy lúc bốn giờ sáng. Nghĩa là tôi mới ngủ được chưa đầy ba tiếng. Mắt tôi nóng ran. Tôi biết, nếu không dậy ngay, tôi sẽ lại ngủ thiếp đi mất. Tôi không thể ngủ tiếp được nữa. Tôi nhìn thấy nước trong cốc làm ướt sũng mặt bàn, tạo thành những vệt đen trên thảm. Tôi hít một hơi thật sâu rồi bật dậy khỏi giường – cử động quá nhanh khiến đầu tôi choáng váng, suýt ngã. Tôi bị đau đầu. Đó là do rượu whisky, rất nhiều rượu whisky tối qua. Tôi vẫn còn đang say khướt. Bước chân loạng choạng, tôi đi xuyên qua phòng ngủ về phía cửa sổ, kéo rèm ra. Ánh nắng gay gắt đổ ập xuống người tôi như một cơn đau nhói đột ngột. Tôi lấy hai tay ôm lấy trán. Đằng kia chính là sân bay.

Hôm nay là thứ Năm, ngày 18 tháng 5, tôi nghĩ. Cuộc đời cũ của tôi đã kết thúc. Một cuộc đời mới đã bắt đầu chăng? Đúng, tôi hy vọng là vậy. Một cuộc đời tràn ngập tình yêu. Nhưng giờ đây, làm sao tôi có thể chạm tới cuộc đời đó? Sáng nay tôi chưa nghĩ đến chuyện này, mãi sau mới nghĩ tới – trên con đường đến với Angela, những ngọn núi của rắc rối và khó khăn đang chắn lối. Sáng hôm nay, một phần vì rượu whisky, đầu óc tôi quay cuồng, đau như búa bổ, chỉ nghĩ rằng, tối qua mình đã làm một cuộc thanh toán. Trong cuộc thanh toán này ẩn chứa một sự khởi đầu. Tôi rất nghiêm túc, nghiêm túc và lo âu, giờ không được phép đi sai một bước. Tôi cũng cảm thấy bối rối, đột nhiên thấy cô đơn, vô cùng cô đơn. Tôi muốn gọi cho Angela, nhưng sợ đánh thức cô ấy. Tôi tắm nước nóng, rồi dí đầu dưới vòi nước lạnh, cạo râu, nhưng cơn đau đầu vẫn không dứt, đầu óc vẫn mơ hồ. Tôi gọi hai bình trà, một chai nước khoáng có ga Alka-Seltzer và một chai nước khoáng thường. Trà và Alka-Seltzer cuối cùng cũng có tác dụng. Tôi cảm thấy khá hơn một chút.

Bảy giờ bốn mươi lăm phút.

Hôm nay tôi có rất nhiều việc phải làm. Đầu tiên, tôi gọi cho Fontana, gọi vào số riêng của ông ấy. Tiến sĩ Paul Fontana là luật sư của tôi – đã hơn hai mươi năm rồi. Tôi kể hết mọi chuyện đã xảy ra, nói rằng tôi rất cần gặp ông ấy.

"Khi nào?" Fontana hỏi. Giọng ông ấy bình tĩnh và tử tế như giọng một bác sĩ. Tôi chưa bao giờ nghe ông ấy nói khác đi.

"Tôi không biết khi nào, Paul. Tôi phải đến công ty. Có khả năng Brandenburg sẽ cử tôi đi đâu đó. Nhưng buổi tối thì dù thế nào tôi cũng rảnh – muộn nhất là buổi tối. Nếu không được, tôi sẽ gọi lại cho ông."

"Được. Cậu đến văn phòng nhé. Tôi có vài vụ án cần xử lý. Chắc chắn sẽ ở đây trước nửa đêm. Nếu được thì sau sáu giờ hãy đến. Lúc đó mọi khách hàng đều đã về hết rồi."

"Cảm ơn ông, Paul."

"Không có chi. Tôi cảnh báo cậu, cậu sắp phải đối mặt với những ngày tháng khó khăn đấy."

"Tôi không quan tâm."

"Giờ cậu nói vậy thôi. Để xem sao đã."

"Vậy thì ông sẽ phải đợi đến khi tôi chết. Dù đối mặt với điều gì, tôi cũng không màng. Tôi phải rời bỏ Karin. Tôi yêu một người phụ nữ khác. Cô ấy cũng yêu tôi."

"Điều đó rất tốt. Nhưng nó không giúp ích gì cho chúng ta cả. Tôi sẽ tìm cách để mọi chuyện dễ dàng nhất có thể cho cậu. Nhưng đến lúc đó cậu phải thực sự nghe lời tôi, làm theo những gì tôi khuyên."

"Đó là lý do tôi muốn gặp ông sớm nhất có thể."

"Nhiều người muốn gặp tôi sớm, nhưng lại chẳng chịu làm theo những gì tôi nói. Tài khoản ngân hàng của cậu thế nào?"

"Dùng tên tôi. Tôi chỉ đồng ý cho Karin quyền ký tên."

"Vậy cậu đi ngân hàng ngay đi, hủy quyền của cô ta."

"Tôi đã nghĩ đến chuyện đó rồi. Tôi phải đi làm ngay."

"Tất nhiên rồi. Từ giờ trở đi, vợ cậu sẽ dùng mọi thủ đoạn để làm hại cậu, khiến cậu chịu thiệt, cố vơ vét nhiều nhất có thể ngay từ đầu."

"Cô ấy hét vào lưng tôi, nói rằng sẽ khiến tôi trắng tay."

"Cậu thấy đấy," Fontana nói, "Cẩn thận nhé, Robert. Một người phụ nữ bị ruồng bỏ có thể làm mọi thứ. Hận thù là một cảm xúc mạnh mẽ hơn tình yêu rất nhiều. Karin có tài khoản riêng không?"

"Có. Ở một ngân hàng khác, nhiều năm rồi. Tôi không biết trong đó có bao nhiêu tiền."

"Cậu có quyền ký tên không?"

"Không."

"Tất nhiên là không rồi," Fontana nói, "Vậy thì tốt. Tối nay tôi đợi cậu. Trước lúc đó, ngoài việc giải quyết chuyện tài khoản, cậu đừng làm gì cả. Thư từ cứ chuyển đến khách sạn 'InterContinental'. Hứa với tôi đi."

"Tôi hứa. Gửi lời hỏi thăm của tôi tới Vera."

"Tôi sẽ chuyển lời." Vera là vợ ông ấy – đã mười bảy năm rồi. Họ có hai cô con gái, sống hạnh phúc, một cặp vợ chồng lý tưởng. Chuyện như vậy là có thật. Angela và tôi cũng sẽ là một cặp lý tưởng, tôi nghĩ. Tôi mặc quần áo vào, thuê một két sắt ở quầy lễ tân, gửi giấy tờ và một phong bì chứa 119.000 Franc vào đó, đó là số tiền còn lại của tôi. Sau đó tôi lên xe "Admiral", lái vào thành phố, đến ngân hàng của mình. Nhân viên ngân hàng mỉm cười chào tôi, tôi quen ông ấy từ năm 1949. Ông ấy tên là Classe, có một con mắt giả, người không biết sẽ không nhận ra. Ông ấy từng cho tôi xem. Thời gian trôi đi, tóc Classe đã bạc trắng, già đi nhiều. Tôi nói với ông ấy mong muốn của mình. Ông ấy rời đi, lấy hồ sơ của tôi ra, điền vào một biểu mẫu. Tôi ký vào biểu mẫu đó để hủy quyền ủy nhiệm của vợ mình. Chỉ cần ký vào tờ giấy này là vợ tôi không thể đụng vào tài khoản này nữa. Đơn giản vậy thôi, mất chưa đầy năm phút. Tôi đưa địa chỉ mới cho Classe, bảo ông ấy gửi sao kê ngân hàng đến đó, khách sạn "InterContinental" chẳng hạn. Ông ấy ghi lại, không hỏi một câu riêng tư nào. Ông ấy là người rất nhút nhát. Con mắt giả đó là do đạn của một tay súng bắn tỉa Liên Xô. Ông ấy luôn nói rằng đời mình có hai lần may mắn, may mắn hơn người khác gấp trăm lần; tay bắn tỉa đó lẽ ra đã có thể lấy mạng ông ấy, chỉ cách một ly. Đó là một lần may mắn. Lần may mắn khác là ông cưới được người phụ nữ mà ông gọi là "Ân Tâm". Ông và "Ân Tâm" đã kết hôn được hai mươi tám năm. Họ không có con, yêu thương nhau thắm thiết như thuở mới cưới. Những năm gần đây, Classe trở nên hơi nói nhiều. Sáng nay, đại sảnh giao dịch vẫn còn vắng tanh. Classe lấy ra một cuốn lịch, chỉ cho tôi xem trang đó, trang in tất cả các ngày và tháng trong năm. Một nửa số ngày đó gần như đã bị gạch bằng bút đỏ.

"Trông đẹp chứ?" Mặt Classe rạng rỡ. Tôi cảm thấy, không chỉ con mắt thật mà cả con mắt giả của ông ấy cũng đang vui mừng. "Tối nào tôi cũng gạch đi một ngày đã qua."

"Tại sao?"

"Ngày 20 tháng 12 tôi nghỉ hưu. Đến lúc đó "Ân Tâm" và tôi sẽ rời Düsseldorf, ăn mừng xong là đi ngay, tất cả đã sắp xếp xong xuôi. Chúng tôi sẽ rời khỏi nước Đức. Chúng tôi tiết kiệm tiền từ sau chiến tranh để mua một căn nhà trệt trên đảo Tenerife. Ở Bajamar. Ông biết đấy, ông Lucas, đó là ý tưởng tuyệt vời hiếm có. Hòn đảo có bãi biển cát đen rực lửa. Ở đó rẻ hơn nhiều. Chúng tôi sẽ dành những năm tháng cuối đời ở Bajamar. Đẹp chứ?"

"Quá đẹp." Tôi nói, "Tôi mừng cho ông, ông Classe. Mặc dù không còn được gặp ông ở đây nữa, tôi sẽ thấy tiếc."

"Tôi cũng sẽ buồn, ông Lucas. Nhưng có lẽ lần này ông cũng không ở lại đây nữa." Đây là lời an ủi duy nhất ông ấy có thể nói.

"Không, có lẽ không ở lại nữa." Tôi nói, thầm tính toán rằng mình sẽ đón Giáng sinh bên cạnh Angela, bất kể trước đó có chuyện gì xảy ra, chúng tôi có rơi vào khốn cùng thế nào, tôi có gặp phải điều gì đi chăng nữa. Đón Giáng sinh bên Angela. Và cả đêm giao thừa. Dù có chuyện gì xảy ra.

"Căn nhà nhỏ ở đó đã xây xong, đầy đủ nội thất. Chúng tôi cho thuê đến tháng Mười hai. Đồ đạc ở đây chúng tôi bán hết. Bán sạch mọi thứ ở đây. Chúng tôi sẽ sống những ngày tháng tươi đẹp ở Bajamar."

"Chúng ta sẽ còn gặp lại." Tôi nói, "Nhờ ông gửi lời hỏi thăm vợ ông giúp tôi."

"Cảm ơn ông, ông Lucas." Ông ấy nói. Chúng tôi bắt tay nhau, Classe đứng nghiêm. Ông ấy luôn làm vậy. Tôi bước ra khỏi ngân hàng, hơi choáng váng. Tôi tự hỏi liệu việc mình vừa làm có phải là một hành động rất đê tiện hay không. Tôi tự nhủ, đây là một việc đê tiện, nhưng vì lợi ích của Angela và của chính mình, tôi buộc phải làm vậy. Khi nhận ra mình chẳng mảy may quan tâm đến việc mình có làm một việc đê tiện hay không, tôi càng thấy chóng mặt hơn. Classe kiểm tra lại, tổng tài sản trong tài khoản của tôi là 192.500 Mark, trong đó 150.000 Mark là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Dù sao thì tôi cũng muốn có chút lãi. Đây là số tiền tôi chắt chiu suốt mười chín năm làm việc cho Công ty Bảo hiểm Hoàn Cầu. Tôi không phải triệu phú, nhưng cũng không phải kẻ ăn mày. Ngoài ra, tôi còn 119.000 Franc và tiền lương của mình. Số tiền này sẽ luôn được gửi vào tài khoản của tôi. Tôi suy nghĩ: Nếu chúng tôi ly hôn, tôi phải đưa cho Karin bao nhiêu? Nếu cô ấy không chịu ly hôn, tôi phải đưa cho cô ấy bao nhiêu? Tôi nghĩ, Fontana sẽ cho tôi biết tất cả. Tôi lái xe đến bưu điện gần đó, đi vào một văn phòng trên tầng hai, điền vào đơn xin chuyển tất cả thư từ của mình đến địa chỉ khách sạn "InterContinental". Chuyển ngay lập tức, cho đến khi có hủy bỏ hoặc thay đổi mới. Người nhận đơn nghiên cứu rất lâu, rồi nhìn chằm chằm vào tôi một lúc lâu.

"Có chuyện gì vậy?" Tôi hỏi, "Tôi điền sai chỗ nào à?"

"Không," ông ta nói, "Đúng hết. Ông rời nhà, dọn vào khách sạn, đúng không ông Lucas? Rời bỏ vợ mình?"

"Chuyện đó có liên quan gì đến ông?" Tôi hỏi một cách thô lỗ.

"Không liên quan đến tôi," ông ta thì thầm, "Tôi không có ý xấu. Tôi mừng cho bất cứ ai thoát khỏi bất hạnh, bước ra khỏi cuộc hôn nhân của mình. Địa ngục của tôi đã kéo dài mười bốn năm rồi. Tôi bị loét dạ dày. Ngày nào cũng phải uống mười bốn viên thuốc. Mười bốn viên! Phải tránh mọi sự kích động, nếu không cơn đau sẽ xuất hiện thường xuyên hơn." Ông ta cười, "Tránh mọi sự kích động thật tốt, đúng không?"

"Tôi thực sự thấy buồn cho ông." Tôi nói, thầm nghĩ, ít nhất mình không phải uống mười bốn viên thuốc mỗi ngày, không bị loét dạ dày, mà chỉ bị chứng khập khiễng cách hồi. Có lẽ còn cả bệnh đau thắt ngực nữa. Khi quay lại lần nữa ở cửa, tôi thấy người đàn ông ngồi sau bàn làm việc lại cầm cuốn sách ông ta đang đọc lên. Ông ta có một công việc nhàn hạ, cơ quan của ông ta thật giàu lòng trắc ẩn. Tôi nhìn tựa cuốn sách trên bìa. Nó tên là "Tất cả những điều tốt đẹp trên Trái đất".

34

"Robert," Gustav Brandenburg nói, "Tôi phải ôm cậu một cái."

Người này thấp đậm, vóc người trung bình, cái đầu hói vuông vức. Khi tôi bước vào văn phòng, ông ta đứng dậy đón. Cô thư ký đã thông báo cho ông ta. Ông ta bước ra khỏi bàn làm việc, ôm chầm lấy tôi, đập vào lưng tôi, người nồng nặc mùi xì gà và mùi mồ hôi thấm qua áo sơ mi. Dạ dày tôi hơi thắt lại. Tôi muốn lùi lại. Nhưng ông ta ôm chặt lấy tôi, ngước nhìn tôi vì ông ta thấp hơn tôi rất nhiều. Khóe miệng ông ta dính vài mảnh bỏng ngô, đôi mắt lợn tinh ranh lộ vẻ phấn khích. Tôi kinh hãi nhận ra, chúng thậm chí còn đang ươn ướt. "Cậu thật tuyệt vời, Robert. Cậu đã hành động! Cuối cùng cậu không chỉ nói suông mà đã thực sự hành động. Cậu có biết điều này làm tôi vui thế nào không, Robert? Cậu chẳng khác nào con trai tôi vậy." Lại đập lưng, lại mùi xì gà và mồ hôi. Tôi không thể chịu đựng thêm được nữa, cố sức thoát ra.

Chúng tôi đi về phía chiếc bàn làm việc bừa bộn của ông ta, nơi bỏng ngô và tàn xì gà vương vãi trên đống giấy tờ. Tôi nhanh chóng ngồi xuống chiếc ghế sofa trước bàn. Ông ta ngập ngừng đứng trước mặt tôi. Tôi lo ông ta sẽ vuốt ve tôi hoặc ngồi lên tay vịn ghế, nên tôi bắt chéo chân, đặt hai cánh tay lên tay vịn. Ông ta nhìn tôi đầy cảm thương rồi quay lại ghế của mình, ngồi phịch xuống.

"Chết tiệt," ông ta nói, "Robert, đây thực sự là một ngày hạnh phúc đối với tôi. Tôi đã đợi nó mười năm rồi."

"Ông biết từ đâu?" Tôi hỏi.

Ông ta lấy ra một điếu xì gà Havana, cắn đầu, nhổ đi. Khi châm lửa và nhả khói, ông ta lầm bầm: "Karin gọi điện đến. Tám giờ sáng nay đã gọi. Kể hết rồi."

"Tất cả?"

"Tất cả, đúng. Với cái cách tinh tế của cô ta, cậu hiểu mà. Đúng là phu nhân, một người phụ nữ cao quý! Cậu có người khác ở Cannes, ruồng bỏ người vợ cao quý của mình. Loại đàn ông như thế Công ty Bảo hiểm Hoàn Cầu không thể thuê. Cô ta đòi tôi đuổi việc cậu. Cô ta mất trí rồi! Nếu chúng tôi đuổi việc cậu, làm sao cô ta có thể tiếp tục sống sung sướng như vậy? Tôi nói cho cậu biết, Karin này cái gì cũng dám làm, thậm chí tạt cả axit vào mặt người khác. Này, có lẽ tôi đã làm cô ta cụt hứng rồi."

"Ông đã làm cô ta cụt hứng sao?"

"Nghe này! Tôi bảo, dù thế nào tôi cũng không thể và sẽ không can thiệp vào cuộc sống riêng tư của cậu."

"Thế nào?"

"Cô ta nói, vậy thì cô ta sẽ tìm đến hội đồng quản trị, tìm đến cấp cao nhất."

"Hay lắm," tôi nói, "Hay lắm."

"Hay lắm cái con khỉ," Gustav nói, "Nếu cô ta thực sự làm vậy, những người ở trên sẽ gọi cho tôi. Tôi ủng hộ cậu, kiên quyết ủng hộ! Tôi không thể thiếu cậu. Công ty cũng sẽ không vì chuyện này mà đuổi một nhân tài như cậu."

"Sẽ không sao?"

"Tuyệt đối không!" Gustav nói, "Cứ để Karin tốn công vô ích đi. Cô ta không làm được đâu." Ông ta tò mò nhìn tôi, "Vậy ra, cậu đã tìm thấy tình yêu đích thực ở Cannes, đúng không?"

"Đúng."

"Tôi vui lắm. Tôi thực sự mừng cho cậu, Robert."

"Cảm ơn ông."

Ông ta nhấn nút kết nối với thư ký, giọng ồm ồm: "Làm ơn mang chai rượu vào đây!"

"Chai gì?" Tôi hỏi.

"Sâm panh. Chúng ta phải ăn mừng thôi, anh bạn! Tôi có thể nói cho cậu biết, cô vợ của cậu ấy, có lẽ tôi đã nói rõ cho cô ta hiểu là cấm cô ta mang chuyện riêng tư đến làm phiền tôi nữa. Tôi bảo cô ta, tôi là bạn của cậu, tôi không muốn nghe cô ta nói xấu cậu. Như vậy đúng không?" Tôi gật đầu. "Tôi không muốn kể cho cậu nghe cô ta đã nói những gì. Thật kinh tởm, anh bạn, kinh tởm." Tôi nghĩ, đến cả Gustav còn thấy kinh tởm thì chắc chắn là kinh tởm thật. "Nếu cô ta nổi giận thì còn tốt. Nhưng không, chỉ toàn là cáo buộc và tự thương hại. Cô ta đe dọa rằng sẽ làm tổn hại đến công việc của cậu. Thật đê tiện, đê tiện và lạnh lùng. Tất nhiên cô ta cũng không ngừng nói về người kia, người ở Cannes ấy. Cô ta không quen cô ấy, đúng không?"

"Không quen."

"Nhắc đến người kia cô ta mới hơi nổi giận. Chỉ gọi cô ấy là kỹ nữ, kỹ nữ ở Cannes."

Thư ký của Brandenburg, một tiểu thư lớn tuổi, bưng vào một khay gồm một chai sâm panh và hai chiếc ly.

297

"Cảm ơn." Gustav nói. Ông ta mở chai một cách vụng về, sâm panh bắn tung tóe lên tường. "Chết tiệt," Gustav nói, "Chưa đủ lạnh. Thôi kệ, ấm thì ấm vậy." Ông ta rót đầy ly, đưa cho tôi một ly, cụng ly với tôi.

"Vì hạnh phúc của cậu, Robert, con trai của tôi."

Chúng tôi uống. Sâm panh thực sự quá ấm. Chắc chắn cũng là loại rẻ tiền. Gustav lập tức rót đầy ly lần nữa.

"Giờ cậu định làm gì?"

"Tôi phải nói chuyện với luật sư của mình."

"Karin nói cậu đòi ly hôn."

"Đúng."

"Cưới người kia?"

"Có khả năng."

"Chắc chắn là vậy! Không phải có khả năng! Cậu có thể tin tôi, anh bạn! Cuối cùng cậu cũng tìm lại được tình yêu, tôi vui cùng cậu. Đã nhiều năm rồi, lần đầu tiên tôi thấy cậu như hoàn toàn biến thành một người khác. Cạn ly!"

"Cạn ly!" Tôi uống cạn ly sâm panh ấm nóng, dù cảm thấy nó không ngon chút nào. Tôi không muốn làm Gustav phật lòng. Lúc này tôi không muốn làm bất cứ ai giận dữ.

"Cô ấy tên gì?"

"Hiện tại tôi chưa muốn nói."

"Nghe này, với tôi cậu có thể nói tất cả. Nói đi!"

"Thật lòng đấy, Gustav, làm ơn đừng ép tôi."

"Thôi được, tôi hiểu. Tôi hiểu hết, không giận cậu đâu. Cạn ly vì cô kỹ nữ Cannes này nữa nhé!" Vừa rót đầy ly cho tôi, ông ta vừa cười ha hả.

"Không," tôi nói, "Cảm ơn, tôi đủ rồi."

"Cậu không muốn cụng ly vì tình yêu của mình với tôi sao? Vì hạnh phúc của hai người? Cậu không mê tín chút nào à, anh bạn?"

Câu nói này khiến tôi sợ đến mức lập tức bỏ tay khỏi ly, để ông ta rót đầy.

"Uống đi." Gustav nói. Chúng tôi uống tiếp. Tôi cảm thấy vị cay cay. Đây chắc chắn là loại sâm panh rẻ tiền nhất. Đúng là Gustav tiết kiệm của tôi. "Cậu nên biết, dù chuyện gì xảy ra, hai người đều có thể tin tưởng tôi. Vì cậu và cô ấy, tôi sẵn sàng lên núi đao xuống biển lửa. Tôi không quen cô ấy. Nhưng nếu cậu yêu cô ấy, thì tôi cũng sẽ làm mọi thứ vì cô ấy." Gustav Brandenburg nói. Đây là câu nói mà sau này tôi còn nhớ mãi.

35

Sáng hôm đó, ông ta mặc một chiếc áo sơ mi màu cam có sọc xanh dương, thắt cà vạt xanh lá. Phòng ông ta ấm sực, không khí loãng và hôi hám. Dưới nách chiếc áo sơ mi của Gustav lộ ra những mảng lớn sẫm màu. Tôi cố gắng không nhìn sang, nhưng vì vậy mà tôi lại càng nhìn nhiều hơn.

"Chuyện xảy ra ở Cannes, tôi biết hết." Gustav nói, "Gã Kessler đó hôm qua còn gọi điện cho cấp trên của hắn ở Bonn, gọi cho Frießer. Nghe nói nói chuyện cả tiếng đồng hồ. Trên điện thoại của hắn có thiết bị chống nghe lén, Kessler và hắn có thể thoải mái chuyện trò. Mười năm nay tôi luôn xin lắp một thiết bị như vậy cho máy của tôi." Ông ta tức tối nói, "Tôi có nhận được không? Tôi chỉ nhận được cứt thôi. Chúng tôi phải làm việc với mấy cái điện tín mật mã rách nát này. Hoặc tôi phải để người của mình bay đi bay lại. Thôi được, lần này họ đã tiêu diệt tên bợm rượu Kilwood đó rồi. Nghe nói cái dáng vẻ đó khá kinh tởm, đúng không?"

"Ồ, đúng vậy," tôi nói, "Khá kinh tởm."

Gustav Brandenburg nói người khác kinh tởm, thật là hiếm thấy.

"Ai làm?"

"Không rõ. Trong thời gian này họ không có tiến triển gì sao?"

"Không một manh mối. Luật sư, cảnh sát và không biết từ đâu ra đám phóng viên đổ xô về Cannes, nhưng cảnh sát thì chẳng biết cái quái gì. Các đại diện của Pháp và Mỹ được gọi đến đang cố gắng ém nhẹm vụ này."

"Vâng, tôi có nghe nói." Tôi nói.

"Từ ai – thôi thôi bỏ đi. Phải, chính là như vậy. Chuyện lớn mà. Một trong những người giàu nhất thế giới. Họ toàn tâm toàn ý, cố gắng che đậy. Tất nhiên họ cũng tiến hành điều tra – điều tra phụ thôi. Tôi không muốn làm gã Laclos hay Roussel đó. Con chó đáng thương. Nếu người ta cho phép họ điều tra, dù họ có tìm ra gì đi chăng nữa – thì cũng chỉ là đồ cho mèo ăn. Mấy tờ báo Pháp và Đức sáng nay đưa tin về một vụ án bí ẩn đối với một phú hào Mỹ, biến toàn bộ sự việc thành một vụ án hình sự bình thường. Về điểm này họ đã đạt được sự đồng thuận. Cậu nghĩ, ai đã hại chết Kilwood?"

"Kẻ nào đó sợ Kilwood nói quá nhiều về cái chết của Hermann. Kilwood biết rất nhiều."

"Hoàn toàn trùng khớp với quan điểm của tôi." Gustav nói. Ông ta vừa nói, bỏng ngô vừa bắn ra khỏi miệng. "Nhưng hung thủ làm sao tiếp cận được Kilwood? Kessler nói, ngôi nhà đó được canh gác."

"Họ cho rằng, có khả năng ai đó đã trốn trong nhà từ trước, lợi dụng lúc hỗn loạn sau khi vụ án được phát hiện để trốn thoát."

"Có thể. Cũng có thể không."

"Sao lại nói thế?"

"Chẳng phải có một đám cảnh sát canh gác ngôi nhà đó sao? Thỉnh thoảng có người vào xem xét. Có thể là bất cứ ai trong số họ."

"Điên rồ thật!"

"Chẳng điên chút nào."

"Không," tôi tỉnh táo nói, "Ông nói đúng. Chẳng điên chút nào, nếu số tiền đủ lớn. Họ có thừa tiền."

"Đúng vậy. Người này cũng đã hại chết Vera. Còn có mười hai người khác nữa, nếu như Hermann không phải tự sát."

"Nếu Hermann không phải tự sát, công ty bảo hiểm Universal sẽ phải bồi thường mười lăm triệu." Tôi nói, "Ông phái tôi đi, nhưng lại bắt tôi phải tìm mọi cách chứng minh đó là một vụ tự sát."

Gustav nhai điếu xì gà Havana, nhìn tôi đầy mong đợi.

"Đã xảy ra chuyện gì? Chẳng phải vì chuyện này mà ông phái tôi đi sao?" Tôi hỏi. "Tất nhiên là vậy," Brandenburg nói, "Nhưng tôi luôn có thể suy nghĩ kỹ lưỡng chứ? Trong cái chuyện thối nát này, điều gì cũng có thể xảy ra. Bao gồm cả việc không chỉ có một hung thủ mà là nhiều hung thủ, nhưng cũng có khả năng Hermann vẫn là tự sát."

"Vậy là ông vẫn tin?"

"Tôi muốn tin. Tôi buộc phải tin nó. Tôi có thể tin nó." Gustav nói, "Vì thế, tôi đã gọi cậu quay về. Chúng ta vẫn còn may mắn nếu chứng minh được đó là tự sát. Cậu phải bắt chuyến bay tiếp theo tới Frankfurt."

"Ở đó đã xảy ra chuyện gì?"

"Trước khi Frise gọi điện cho tôi kể về mọi chuyện ở Kilwood, tôi đã nhận được một cuộc gọi khác. Là từ một người ở Frankfurt, nhất quyết đòi nói chuyện với tôi - hắn nói là tìm cấp trên của cậu. Sau đó hắn bảo với tôi, hắn có chuyện bắt buộc phải nói cho cậu biết. Trực tiếp. Khẩn cấp. Tại Frankfurt. Hắn không thể rời đi. Và phải trước sáu giờ tối."

"Tại sao?"

"Vì sau thời điểm đó hắn sẽ không còn thời gian nữa. Sau đó hắn phải bắt đầu công việc. Gã đó tên là Molitor. Fred Molitor."

"Tôi không quen. Tại sao hắn cứ nhất định phải nói chuyện với tôi?"

"Vì hắn biết cậu. Chính xác mà nói, là biết tên của cậu. Hiểu rõ mọi tình huống của cậu." Gustav nói, "Hắn chỉ nói chuyện với cậu, không nói với bất kỳ ai khác. Cũng không nói với cảnh sát. Tuyệt đối không nói với cảnh sát. Tất nhiên là đòi tiền. Cứ đưa cho hắn đi. Cậu mang theo nhiều một chút. Xem thử những gì hắn nói đáng giá bao nhiêu."

"Đợi đã," tôi nói, "Tôi hoàn toàn rối trí. Người này..."

"Molitor. Fred Molitor. Trên mảnh giấy này có ghi tên, địa chỉ và số điện thoại. Đường Alexander. Ở phía Tây, gần phố Roche."

"Người tên Molitor này làm sao biết được tôi?"

"Thông qua Seberg." Gustav nói.

"Chuyện này càng khó tin hơn."

"Rất đơn giản. Molitor nói với tôi qua điện thoại rằng, sau khi tin tức về vụ tai nạn ở Cannes được đăng tải, hắn đã gọi cho Seberg ở Cannes, hỏi ông ta nên làm thế nào."

"Làm thế nào về chuyện gì?"

"Làm thế nào với những thứ hắn có thể bán đứng, cụ thể thì tôi cũng không rõ. Seberg biết, ông ta đã nói trong điện thoại. Seberg bảo hắn hãy kể cho cậu nghe, cậu là người phù hợp nhất vì cậu chịu trách nhiệm vụ án này."

"Nhưng ông đã hứa hẹn gì với chuyện này? Tất cả nghe thật khó tin! Quá khó tin!"

"Không có gì là quá khó tin cả," Brandenburg nói, "Nếu liên quan đến một khoản tiền lớn. Khi đó, những điều khó tin nhất thường lại chính là câu trả lời cho mọi vấn đề."

"Ông nghĩ, Molitor hiện giờ sẽ cung cấp cho chúng ta câu trả lời cho mọi vấn đề sao?"

"Có lẽ không phải là mọi vấn đề." Brandenburg nói.

"Vậy là câu trả lời cho điều gì?"

"Chứng minh rằng Hermann từng là một con lợn rất lớn, và hắn ta đã tự sát vì rơi vào đường cùng." Gustav Brandenburg nói.

36

"Alo?"

"Angela, là Robert đây."

"Chuyện này thật không thể tin nổi! Đây không phải là sự thật!"

"Cái gì?"

"Em đã ngồi trước điện thoại cả tiếng đồng hồ, nhìn chằm chằm vào nó, muốn cầu xin nó. Em cứ lặp đi lặp lại, hãy để Robert gọi điện đi, hãy để anh ấy gọi, ngay bây giờ, làm ơn, làm ơn, em muốn nghe giọng anh ấy. Em buộc phải nghe giọng anh ấy. Em không thể đợi đến tối. Em phải biết đã xảy ra chuyện gì. Chuyện gì đã xảy ra vậy, Robert?"

Tôi gọi từ một buồng điện thoại trong bưu điện sân bay Düsseldorf. Tôi nói với Angela rằng tôi phải bay tới Frankfurt, tối sẽ gặp luật sư của mình.

"Sau đó anh gọi điện cho em ngay nhé, được không?"

"Tất nhiên rồi."

"Khi nào anh mới quay về bên em?"

"Chuyện này anh vẫn chưa biết."

"Ôi, Chúa ơi."

"Có lẽ tối nay anh sẽ biết."

"Nếu không biết thì sao? Nếu kéo dài thời gian thì sao?"

"Vậy anh đành phải ở lại. Đây là công việc của anh, Angela."

"Em hiểu. Em hiểu mà, Robert. Chỉ là, anh nhìn xem..." Đường dây xuất hiện tiếng rè rè, ngày càng lớn.

"Em nói gì? Em nói gì? Anh không nghe rõ!" Tôi hét lên.

"Đợi đã, đợi nó kết thúc, cái tiếng ồn này."

Một giọng nói từ loa truyền vào buồng điện thoại của tôi.

"Xin lưu ý: Hãng hàng không Lufthansa thông báo chuyến bay 645 tới Frankfurt. Mời hành khách di chuyển qua cửa số 14 để lên xe. Xin lưu ý! Hãng hàng không Lufthansa thông báo..."

Tiếng rè rè biến mất.

"Bây giờ anh lại nghe rõ rồi."

"Robert, anh đã làm được." Giọng Angela nghe có vẻ rời rạc, thì thầm, "Anh đã làm được. Em... em cũng yêu anh. Chúa ơi, em nghĩ, em không thể sống thiếu anh được nữa. Không, em biết! Em biết! Anh ở xa quá."

"Chúng ta có nhau."

"Đúng, Robert, đúng vậy."

"Anh cũng không thể..." Tiếng rè rè lại vang lên. Tôi chờ đợi. Tiếng loa lại lặp lại thông báo gọi hành khách hãng Lufthansa tới Frankfurt. Một lát sau tiếng ồn lại biến mất, nhưng khoảnh khắc này khiến tôi cảm thấy như đã trôi qua rất lâu. "Anh cũng không thể sống thiếu em."

"Đêm qua em không ngủ được một phút nào. Những gì chúng ta làm thật điên rồ."

"Sự điên rồ ngọt ngào."

"Sự điên rồ độc ác, Robert. Em không tin chúng ta có thể bình an vô sự. Những gì chúng ta làm là bị cấm đoán."

"Ai cấm?"

"Chúng ta đang làm tổn thương người khác, vì thế nó bị cấm. Chúa cấm điều đó. Và..."

"Anh không quan tâm, dù Chúa có..."

"Anh để em nói hết! Những lời em muốn nói thực sự rất đáng sợ."

"Em muốn nói gì?"

"Em cũng không quan tâm! Hoàn toàn không quan tâm! Anh có biết không, em yêu anh nhiều đến nhường nào, dù chúng ta làm sai? Dù có tất cả chuyện này? Em yêu anh nhiều đến thế, nhưng vẫn chưa thực sự hiểu rõ về anh?"

"Anh..."

"Anh gặp luật sư xong thì gọi điện cho em, được không? Em sẽ đợi. Cho dù là năm giờ sáng, anh gọi nhé, được không?"

"Được." Tôi nói.

Tiếng rè rè lại vang lên. Tôi không còn hiểu Angela nói gì nữa. Giọng trong loa lần thứ ba gọi hành khách tới Frankfurt. Tiếng rè rè không dứt. Vô nghĩa. Tôi đặt ống nghe về chỗ cũ, đi tới quầy bưu điện trả tiền. Sau đó tôi vội vã - đúng vậy, tôi vội vã, tôi chạy như điên, tôi lại có thể chạy được rồi - chạy tới một cửa hàng hoa. Ở đó tôi đưa địa chỉ chi tiết của Angela cho một cô nhân viên trẻ.

"Mua hai trăm Mark hoa 'Sonya'." Tôi nói, "Làm ơn gọi điện tới Cannes. Thông báo cho cửa hàng hoa 'Hoa Nguyệt' ở quảng trường Gambetta, cô có thể tìm thấy trong sổ dịch vụ điện hoa toàn châu Âu của mình."

"Tất nhiên rồi, thưa ông. Có cần viết gì không ạ?"

Hai trăm Mark...

Có nên không?

"Tất nhiên là cần viết gì đó. Tôi sẽ viết." Tôi viết xong, trả tiền. Hai trăm Mark Đức, cộng thêm phí điện thoại và phí dịch vụ điện hoa toàn châu Âu.

Sau đó, tôi đeo túi du lịch băng qua hành lang dài vô tận của sân bay. Chân tôi bắt đầu đau nhức. Tôi tiếp tục chạy. Một tiếp viên hàng không đang đợi tôi ở cửa lên máy bay số 14.

"Đi Frankfurt phải không?"

"Đúng."

"Xe chạy rồi. Chiếc Volkswagen kia sẽ đưa ông tới máy bay."

"Cảm ơn." Một chiếc Volkswagen màu xanh vàng của hãng Lufthansa đỗ bên ngoài, động cơ đang nổ. Người lái xe gần như không đợi tôi ngồi xuống bên cạnh đã khởi động. Cửa xe đóng sầm lại.

"Người quan trọng lúc nào cũng chậm chạp." Người lái xe cáu kỉnh nói. Anh ta còn rất trẻ, mặt lạnh tanh, đầy mụn trứng cá. Tôi nghĩ, anh ta cáu kỉnh như vậy chắc chắn là vì mụn. Chân tôi đau dữ dội. Tim tôi đập loạn nhịp đến mức tôi cảm thấy nó như nhảy lên tận cổ họng.

Angela yêu tôi. Cô ấy yêu tôi. Tôi là người hạnh phúc nhất thế giới. Tôi nuốt hai viên thuốc, trong lòng thầm nghĩ. Khi tôi hẹn gặp Fred Molitor tại Frankfurt, Angela đã nhận được hoa hồng rồi.

Chiếc Volkswagen chạy một vòng lớn tiến lại gần chiếc máy bay của Lufthansa, một cô tiếp viên hàng không mất kiên nhẫn đang đứng trên thang máy bay. Tôi nhảy xuống, khập khiễng bước lên thang.

Dòng chữ tôi viết trên mảnh giấy gửi cho Angela và sẽ được gửi cùng với hoa "Sonya" là:

Anh yêu em bằng cả trái tim mình - Robert.

"Xin lỗi," tôi nói với cô tiếp viên hàng không xinh đẹp nhưng đang bực bội, "Tôi thực sự rất xin lỗi, mong cô tha lỗi cho."

Cô tiếp viên không thèm để ý đến tôi. Cô ấy đẩy tôi vào máy bay, đóng cửa, chốt lại. Tôi ngồi xuống một chỗ cạnh cửa sổ. Chân tôi vẫn đang đau.

37

Gustav nói là ở gần phố Roche. Tôi bắt một chiếc taxi rời khỏi sân bay, đi qua đường cao tốc và đường nhanh, lướt qua những tòa nhà cao tầng hiện đại mới mọc lên và các dải cây xanh. Sau đó, cảnh sắc đột ngột thay đổi. Chúng tôi lạc vào mê cung của những con hẻm nhỏ. Nhà cửa hai bên xiêu vẹo, tàn tạ. Tôi như thể đột nhiên rơi vào một thời đại khác, quay trở về quá khứ xa xôi nhất.

Fred Molitor sống trong một căn nhà tồi tàn như thế trên đường Alexander.

Lên đến tầng hai, một người phụ nữ cao lớn, béo mập mở cửa. Bà ta chắc phải có đến sáu cái cằm, tỏa ra mùi dưa cải muối chua y hệt như cả căn nhà.

"Tôi là bà Molitor." Bà ta nói với giọng trầm khiến tôi kinh ngạc, "Xin lỗi, tôi vẫn đang đeo tạp dề, đang rửa bát. Ông biết đấy, chúng tôi luôn ăn rất muộn. Fred phải ngủ rất lâu. Ông vào phòng khách đi. Fred sẽ ra ngay, anh ấy đang chợp mắt một chút, nhưng anh ấy đã dặn, nếu ông đến thì bảo tôi đánh thức anh ấy."

Vậy là tôi vào phòng khách ngồi, một căn phòng nhỏ treo tấm thảm dệt, đồ đạc lung lay, bàn tròn phủ khăn trải bàn dệt hoa, những bức ảnh lồng khung phía trên tivi, trong hốc tường bày đầy những con búp bê mặc trang phục, toàn là loại có thể mua ở sân bay hoặc cửa hàng lưu niệm - một phụ nữ Tây Ban Nha, một người Bavaria, một phụ nữ Hà Lan - còn bọc trong giấy bóng kính. Tôi ngồi xuống một chiếc ghế sofa lò xo kêu cọt kẹt. Bên cửa sổ treo một chiếc lồng chim, nuôi một đôi chim nhỏ. Ánh mặt trời hắt vào phòng khiến tôi chói mắt. Tôi bước đi, sàn nhà kêu răng rắc. Tấm thảm dệt đã xù lông. Tường chắc hẳn là bị ẩm, tôi nghĩ. Ở đây cũng có mùi dưa cải muối chua.

Cửa mở, một người đàn ông khoảng năm mươi lăm tuổi bước vào, gầy trơ xương, mặt không chút huyết sắc, giống như tất cả những công nhân làm ca đêm, má hóp lại, quầng mắt thâm đen. Fred Molitor - một người như vậy sao lại có cái tên này? Anh ta đi dép lê và mặc áo ngủ. Đôi mắt mệt mỏi đỏ ngầu. Bàn tay anh ta đưa ra nhão nhoét. Sàn nhà cũng bị anh ta giẫm cho kêu răng rắc. Khi một chiếc xe chạy qua ngoài cửa sổ, mọi thứ trong phòng đều rung lên bần bật.

"Uống chút rượu không?" Molitor hỏi, trái ngược với vợ mình, giọng anh ta rất cao, "Uống chút rượu mùi không, ông Lucas?"

"Không, cảm ơn."

"Uống đi, nếu không ông sẽ làm tôi buồn đấy." Anh ta lấy từ trong tủ dưới tivi ra một chai rượu và hai chiếc ly. Anh ta rót đầy, cụng ly với tôi. Rượu mùi ngọt đến phát ngấy. Tôi thấy hơi khó chịu. Molitor liếm môi. "Có ngon không? Tôi thích nhất thứ này."

"Ông Molitor, Seberg bảo ông hãy kể cho tôi nghe những gì ông biết."

"Đúng, phải rồi. Về ông Hermann, cầu Chúa cho ông ấy được an nghỉ." Đôi mắt mệt mỏi trở nên linh hoạt, nhìn tôi đầy khó chịu, "Ông Hermann đáng thương - lúc đó ông ấy còn đưa tiền cho tôi để tôi không nói chuyện này với bất kỳ ai."

"Nhưng sau đó ông vẫn nói - với ông Seberg."

"Đó là chuyện khác. Ông Seberg là người của ngân hàng. Đây là nghĩa vụ của tôi."

"Nói chuyện với tôi thì không phải là nghĩa vụ của ông sao?"

"Tôi nghĩ là không. Tôi cũng chẳng nói gì với cảnh sát cả. Hoàn toàn là vì ông Seberg nói, tôi nên kể cho ông nghe. Tôi căn bản không biết làm vậy có đúng không."

"Nếu ông Seberg ủy thác cho ông làm vậy thì sao?"

"Ông biết đấy, ở công ty bảo vệ tôi chỉ kiếm được đồng lương đủ sống. Ông nhìn chỗ tôi ở xem. Vợ tôi bị bệnh thận. Còn bản thân tôi - tôi còn làm việc được bao lâu nữa? Tôi là người nghèo, ông Lucas."

Tổng thủ quỹ của công ty bảo hiểm Universal đưa tiền cho tôi theo chỉ thị của Brandenburg. Tôi đặt hai tờ một nghìn Mark lên chiếc khăn trải bàn ren.

"Ông Hermann đã cho tôi năm nghìn." Anh ta bất mãn nói bằng giọng giống như thái giám.

"Tôi cho ông hai nghìn. Nếu ông không nói với tôi, tôi sẽ báo cảnh sát rằng ông che giấu tình hình."

"Đây là tống tiền."

"Đúng." Tôi nói.

"Ba nghìn! Ông Lucas. Người nghèo cũng phải sống chứ."

"Hai nghìn, chỉ thế thôi." Tôi nói.

Một chiếc xe tải chạy qua con phố hẹp lát đá cuội bên dưới chúng tôi. Cả căn nhà lại rung lên.

"Tôi cứ tưởng ông sẽ nhân đạo hơn chứ, ông Lucas."

"Này, tôi không phải loại người đó. Đã xảy ra chuyện gì? Làm ơn nói nhanh lên!"

"Làm việc phải công bằng." Áo ngủ của Molitor đầy vết thức ăn, tay áo sờn cũ. Dép lê của anh ta rách rưới, kiểu dáng lỗi thời. "Tôi phải ăn! Tôi buộc phải gọi điện cho ông Seberg ở Cannes, ông ta không rời khỏi đó được. Tôi đã kể hết mọi chuyện cho ông ta qua điện thoại rồi. Chuyện này tốn bao nhiêu tiền đấy!"

Tôi lại đặt một tờ năm trăm Mark lên bàn.

Anh ta giả vờ khách sáo.

"Tôi biết ngay ông là người tốt bụng mà. Uống thêm ly rượu mùi nữa nhé? Tất nhiên rồi, tất nhiên rồi, thế nào cũng phải uống một ly!" Anh ta lại cầm chai rượu lên. Tôi không uống nữa, anh ta tham lam uống cạn ly rượu mùi của mình. "À, thật dễ chịu. Sau khi ăn dưa cải muối, tôi cứ bị trào ngược dạ dày. Được rồi, ông xem này, tôi được phân về ngân hàng Hermann, đã chín năm rồi. Cùng với ba đồng nghiệp nữa. Nhiệm vụ của chúng tôi từ sáu giờ tối đến bảy giờ sáng. Cuối tuần và ngày lễ có một nhóm khác thay ca. Chúng tôi có đồng hồ chấm công riêng. Mỗi người một tầng, chúng tôi thực tế là đi lại không ngừng trong ngân hàng. Súng lục, hơi cay, tất nhiên đều được trang bị những thứ đó. Ông có biết ngân hàng Hermann trên phố Zell không?"

"Có."

"Hùng vĩ nhỉ? Người thì luôn mệt mỏi. Sáng sớm tôi lúc nào cũng kiệt sức. Quay về cái căn nhà tồi tàn này lại không thể ngủ ngon. Lúc nào cũng có xe tải. Hai năm nay chúng đã chuyển hướng mọi thứ ở đây. Tôi sắp sụp đổ rồi. Bác sĩ của tôi nói..."

"Ông Molitor!"

"Được rồi. Ông nghe này: Đó là ngày hai mươi lăm tháng Tư, vào lúc nửa đêm. Thực tế đã là ngày hai mươi sáu tháng Tư rồi, vì ông Hermann đến khoảng mười hai giờ ba mươi phút mới tới. Đó là một ngày thứ Tư."

"Còn gì nữa?"

"Được rồi, khoảng mười hai giờ ba mươi phút sáng thứ Tư, chuông cửa bên hông đột nhiên reo lên. Đêm đó tôi trực ở tầng trệt, trong đại sảnh kinh doanh. Thế là tôi đi tới, nhìn qua mắt mèo trên cửa thép, thấy ông Hermann đứng bên ngoài, mặc lễ phục, áo khoác, đội mũ và quàng khăn lụa trắng. Ông ấy rất kích động, hai tay vung vẩy, đòi tôi cho vào. Nếu không có ai trong chúng tôi mở cửa, thì ngay cả ông Hermann cũng không thể vào ngân hàng vào ban đêm. Tất nhiên là tôi đã mở. Ba ổ khóa đặc biệt. Ông quen thuộc với ngân hàng mà. Ông ấy bước vào, kích động đến mức không nói nên lời, chỉ nói là ông ấy còn phải làm việc."

"Vào lúc mười hai giờ ba mươi phút sáng?"

"Đúng. Tôi cũng nghĩ như vậy."

"Ông ấy có thường làm vậy không?"

"Làm gì?"

"Chạy đến vào nửa đêm."

"Tôi ở đó lâu như vậy, ông ấy chỉ có lần này thôi. Tôi nói với ông, người này như sắp bị đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tôi biết là bệnh gì được. Ông ấy thực sự run rẩy, toàn thân run rẩy."

"Ông ấy có say rượu không?"

"Hoàn toàn tỉnh táo! Chỉ là cực kỳ kích động. Chỉ toàn thì thầm. Đồng nghiệp của tôi đâu? Ở trong nhà, tôi nói. Ông ấy nhét năm nghìn Mark vào tay tôi - tôi đang nói là năm nghìn đấy, ông Lucas."

"Nghe rõ rồi."

"Được, vậy không nói nữa. Năm nghìn, ông ấy nói, đây là để tôi không nói cho bất cứ ai biết ông ấy đến làm việc, còn bảo tôi đổi ca với đồng nghiệp ở tầng ba. Tuyệt đối không được để hai người kia nhìn thấy ông ấy. Bảo tôi vĩnh viễn không được nhắc đến chuyện này. Người này có chút không bình thường, ông Lucas. Tôi hiểu ông ấy mà. Một người trầm ổn, đáng kính như vậy. Mà đêm hôm đó... thực sự có thể tin là ông ấy đã mất trí rồi."

"Kể tiếp đi."

"Được rồi, ông ấy thu mình vào một lối đi cạnh cửa hông. Tôi lên tầng ba tìm đồng nghiệp của mình - là Ernst Trost - nói với anh ta, bảo anh ta đổi ca với tôi. Trong sảnh kinh doanh chẳng phải chỗ nào cũng có ghế dài sao? Tôi bảo Ernst, tôi mệt quá, tôi sẽ ngủ thiếp đi trên ghế dài. Ở tầng không được, ở đó phải đứng. Ernst nói, anh ta thế nào cũng được, thế là anh ta đi xuống. Hermann lên lầu, cầu thang nhỏ ở cửa hông. Chẳng ai chú ý đến gì cả. Thế là ông ấy đã lên đến tầng ba, văn phòng của ông ấy ở đó. Tôi cũng lên theo, đi lại. Tôi nên nói với ông thế nào nhỉ? Ông Hermann căn bản không vào văn phòng của ông ấy! Ông ấy lập tức vào văn phòng của tổng đại diện toàn quyền Seberg. Nó nằm ở bộ phận ngoại hối. Một ngân hàng như vậy là một công ty khổng lồ. Căn bản không có bộ phận nào có liên hệ với bộ phận khác. Được rồi, tôi nghĩ, tôi vô cùng kinh ngạc khi một lần nữa đi vòng qua, tôi thấy văn phòng của ông Seberg có ánh đèn - trong khi văn phòng của ông Hermann lại tối om. Cửa văn phòng ông Seberg không đóng, hé mở một khe. Tôi không phải tò mò, thực sự không phải. Nhưng điều này khiến tôi cảm thấy vô cùng bí ẩn. Thế là tôi nhón chân đi tới, nhìn vào văn phòng ông Seberg. Tôi đã thấy gì? Ông Hermann đang ngồi cạnh bàn làm việc của ông Seberg. Ông Hermann có một chiếc chìa khóa, có thể mở tất cả các ổ khóa. Bàn làm việc của ông Seberg đang mở, ông Hermann lấy tài liệu, hồ sơ và những thứ khác, một đống lớn, đang lật giở."

Lại một chiếc xe tải chạy qua. Lại là cả căn nhà đang run rẩy.

"Ông không muốn uống nữa à?" Molitor nói, lại rót đầy ly nhỏ của mình. Anh ta uống, ho, lau miệng. "Khi tôi đi ngang qua lần nữa, ông Hermann đã mở tủ hồ sơ của ông Seberg, lục lọi trong các cặp tài liệu và sổ sách. Lần sau nữa, ngay cả két sắt trong văn phòng cũng mở. Ông Hermann tất nhiên biết mã số đó. Ông ấy đứng đó, trên trán đổ những giọt mồ hôi to tướng..."

"Được rồi, được rồi."

"Nếu không phải như vậy, tôi chết ngay lập tức! Mồ hôi trên trán to như vậy tôi chưa từng thấy bao giờ, ông Lucas! Người này mặt cắt không còn giọt máu, tôi thề với ông đấy. Ông ấy đọc những tài liệu lấy ra từ két sắt. Mỗi lần tôi đi một vòng quay lại nhìn thấy ông ấy, ông ấy trông càng già hơn, sợ hãi hơn, tuyệt vọng hơn. Tôi nghĩ, chắc chắn đã xảy ra chuyện gì tồi tệ rồi, nhưng có thể xảy ra chuyện gì được chứ? Ở ngân hàng Hermann? Ở ngân hàng Hermann không thể xảy ra chuyện gì tồi tệ được. Tôi thực sự lo lắng, ông tin lời tôi không?"

"Tin. Lúc này ông Seberg đang ở đâu?"

"Đang ở Argentina tham dự một hội nghị. Không, ông đợi đã, ở... ở... quỷ thật, tôi nhất thời không nhớ ra."

"Santiago của Chile?"

"Đúng! Hội nghị đó vốn còn dài hơn, tôi tin là..."

"Đến ngày mười chín tháng Năm."

"Đúng, không sai. Nhưng sau khi du thuyền của ông Hermann gặp nạn, ông Seberg lập tức bay từ Chile tới Cannes, tới nhà em gái ông Hermann. Là cô ấy bảo người gọi điện cho ông ta. Cô ấy hoàn toàn sụp đổ. Phải có người tiếp tục quản lý ngân hàng chứ, phải không?"

"Ai quản lý?"

"Ông Seberg. Khác với bình thường. Cảnh sát không cho ông ta rời khỏi Cannes mà. Ông ta xử lý mọi việc qua điện thoại và fax. Ở đây tạm thời do ông Grosse lãnh đạo. Ông ta là đại diện thứ nhất. Không có quyền lực như ông Seberg. Vì thế, tôi gọi điện cho ông Seberg ở Cannes mà không nói chuyện với ông Grosse."

"Mọi chuyện diễn biến thế nào?"

"Đúng như tôi đã nói với ngài, suốt cả đêm. Cho đến tận năm giờ rưỡi sáng. Lúc đó, khi tôi đi ngang qua, ông Herman đột nhiên đứng trong lối đi — tôi nói thật với ngài, cứ như một bóng ma vậy! Ông ấy bảo tôi để ông ấy ra ngoài. Không được để bất kỳ ai trong chúng ta nhìn thấy ông ấy. Tôi đã làm theo. Sau đó, tôi lên lầu đến văn phòng của ông Seeberg. Mọi thứ ở đó đã được dọn dẹp ngăn nắp. Tài liệu đều nằm đúng vị trí cũ. Chỉ có chiếc gạt tàn là đầy ắp tàn thuốc. Ông Herman làm việc mà cứ hút thuốc liên tục, đó là kiểu công việc gì chứ! Tôi còn thấy cả những vỏ bao diêm rỗng, ba chiếc, loại dẹt. Lấy từ khách sạn Frankfurt Hof."

"Sao anh biết được điều đó?"

"Chẳng phải trên vỏ bao có viết đó sao? Đúng thế mà." Anh ta trầm ngâm, "Đó là toàn bộ quá trình, ông Lucas. Ngoài ra tôi không biết gì nữa. Tôi chỉ nghe nói, sau ngày hôm đó, ông Herman hoàn toàn suy sụp và tuyệt vọng. Thứ Tư tuần sau, ông ấy bay đến Cannes."

"Anh nghe chuyện đó từ ai?"

"Từ các đồng nghiệp. Chuyện kiểu này lan truyền nhanh lắm. Nghe đồn ông Herman cư xử như một kẻ điên. Cứ như mất hồn mất vía. Hủy hoại hoàn toàn."

"Từ đó anh rút ra kết luận gì?"

"Tại sao lại là tôi?"

"Anh chắc chắn phải có suy nghĩ về tất cả chuyện này chứ."

"Tất nhiên là tôi có. Tôi nghĩ, ngân hàng của ông Herman, công việc kinh doanh của ông ấy, chắc chắn đã xảy ra vấn đề gì đó. Tôi chẳng hiểu gì về mấy thứ này cả. Một vấn đề vô cùng quan trọng nào đó. Ông Seeberg cũng nghĩ như vậy. Thế nên, ông ấy nói, bảo tôi hãy nói chuyện với ngài. Nếu có thể thì đừng nói với cảnh sát. Bằng không báo giới sẽ biết mất. Khi đó ngân hàng sẽ gặp rắc rối to."

"Ông Seeberg không thể hình dung ra điều gì đã khiến ông Herman sợ hãi đến mức đó sao?"

"Ông ấy hoàn toàn không hiểu." Molitor nấc một tiếng, "Xin ngài thứ lỗi. Vẫn là món dưa cải đó, tôi không ăn được. Nó là thuốc độc đối với tôi, hoàn toàn là thuốc độc, vậy mà lại là món tôi thích ăn nhất. Thế nên, Clara của tôi thỉnh thoảng vẫn làm một lần. Ăn xong là tôi lại phải chịu khổ..."

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 6 năm 2026