28
Cứ tiếp tục uống. Bốn chiếc tivi đều đang bật, cả chiếc trong phòng vẽ cũng vậy. Trước khi tranh cãi xảy ra, trước khi Angela biết được sự thật về người đàn ông mà cô từng yêu, cô đã từng đi lại quanh căn nhà này. Giờ đây, trong cơn say khướt, cô đã quên mất những chiếc tivi còn lại. Cô ngồi xổm trên ghế sofa, trước mặt bày đầy chai rượu, đá lạnh và ly. Lúc này không có lấy một giọt nước mắt, vẫn chưa. Lúc này, trong đầu cô chỉ có những tiếng o o dữ dội, trời đất quay cuồng. Cô cứ nghĩ mãi: Vô ích. Bị lừa rồi, bị mắc lừa rồi. Tình yêu của mình xong đời rồi. Mình cô độc, vô cùng cô độc. Chẳng còn ai nữa, không, không còn ai cả.
Cô đột ngột co rúm người lại.
Có tiếng ai đó đang gào thét.
Một lúc sau, cô mới hiểu ra, tivi đang chiếu một bộ phim. Tất cả chuyện này xảy ra vào ngày 10 tháng 6, ngày 10 tháng 6 năm 1944, một toán lính Đức Quốc xã vì cuộc ám sát một vị tướng Đức của tổ chức kháng chiến Maquis mà tiến hành trả thù tàn bạo, biến một thị trấn nhỏ ở miền Nam nước Pháp là Oradour-sur-Glane thành đống tro tàn, hầu như toàn bộ cư dân đều bị tàn sát. Những người đàn ông bị bắn chết. Phụ nữ và trẻ em trước tiên bị lùa vào một nhà thờ. Một số người tưởng rằng sẽ được cứu, nhưng bọn Đức Quốc xã đã châm lửa đốt nhà thờ, phụ nữ và trẻ em cũng bị thiêu sống. Tàn tích của ngôi làng đó đến nay vẫn còn, người ta đã xây dựng lại thị trấn ấy ở một nơi khác. Giống như những nơi khác, Oradour đã trở thành một đài tưởng niệm vĩnh cửu của người Pháp.
Vào những ngày như hôm nay, tivi thường chiếu những bộ phim chống phát xít, chiếu các bộ phim tài liệu về tội ác của Đức Quốc xã. Hiện tại, ở đây đang chiếu một bộ phim như vậy, được cắt ghép từ lời kể của những nhân chứng, những bức ảnh chụp lén và những hình ảnh được thu thập bí mật — một cơn ác mộng, một sự khủng khiếp không gì sánh bằng. Những hàng người đàn ông bị bắn chết. Những người già, những nhân chứng ấy, khóc không thành tiếng khi kể lại cuộc thảm sát đẫm máu đó. Đó là nhà thờ. Lính Đức Quốc xã lùa phụ nữ và trẻ em vào trong. Cửa đóng lại. Trong nhà thờ truyền ra tiếng hát. Nó bốc cháy, ngọn lửa kinh hoàng. Những ngôi nhà nông thôn đổ nát của Oradour bị đánh bom. Những tên lính Đức Quốc xã đứng đó, chân dang rộng, mang đôi ủng da nặng nề, tay lăm lăm súng tiểu liên, lính Đức Quốc xã, lính Đức Quốc xã. Angela ngồi đó uống rượu, rượu whisky chảy ra từ khóe miệng mà cô cũng chẳng hay biết. Cô chằm chằm nhìn vào những hình ảnh trên màn hình, những hình ảnh kinh hoàng ấy. Mẹ mình, cha mình, chú Fred, chú Maurice, em họ Adèle, cậu Richard, mợ Henriette, mợ Maroni. Chết rồi, chết rồi. Họ đều chết cả rồi...
Angela nhất thời không thể chịu đựng nổi nữa. Cô nhanh chóng đứng dậy, loạng choạng bước ra ban công. Ở đó, hoa của cô, biết bao nhiêu loài hoa đang nở rộ. Đêm hôm đó trời đang mưa. Angela chỉ còn lại một ý nghĩ duy nhất, nó cứ dai dẳng không dứt, kiêu ngạo chực chờ trong lòng cô: Kết thúc. Xong rồi. Kết thúc đi, ngay bây giờ. Cuộc đời này, mày không thể chịu đựng thêm được nữa rồi.
"Cuộc đời này..." cô nghe thấy chính mình nói năng lảm nhảm, "Không... không... mình không muốn nữa..."
Trên sàn gạch ẩm ướt, cô đi đôi dép lê cao gót, loạng choạng bước về phía lan can ban công, nước mưa trút xuống. Cô gồng người lên, nhấc một chân lên. Cô lảo đảo dữ dội. Khi nhìn thấy bãi đỗ xe phía sau căn nhà ở sâu bên dưới, nơi ánh đèn soi rọi mặt đường bê tông, cô không hề cảm thấy sợ hãi. Ngay lập tức. Ngay lập tức. Mình sẽ xuống dưới ngay thôi. Mọi thứ sẽ kết thúc ngay thôi. Cô nhấc chân phải lên, rồi chân trái. Cô quỳ lên lan can. Cô đưa chân phải ra phía mép. Cô dùng hai tay chống đỡ cơ thể. Cô rướn người lên, từng centimet một, ngày càng cao. Chân kia cũng đồng thời vươn ra. Mưa làm ướt sũng tóc, mặt và quần áo của cô. Cô chẳng còn cảm thấy gì nữa. Đến đây, cái chết, đến đây, cái chết ngọt ngào. Lúc này, cô đang đứng ở độ cao tầng bốn so với mặt đất, dưới bầu trời tối đen, phía trên một thành phố đèn đuốc sáng trưng. Một cơn gió thổi qua người cô. Cô còn nghĩ: Mình muốn...
Sau đó, cô ngã xuống.
29
Cô ngã ngược lại vào nền sàn ban công, một cơn gió mạnh đã thổi cô ngã trở lại. Khi tỉnh dậy sau một cơn mất ý thức ngắn ngủi, cô mới nhận ra mình đang nằm trong một vũng nước. Trong miệng đang mở của cô có nửa ngụm nước. Cô buồn nôn, phun nước ra ngoài. Cô cảm thấy không còn chút sức lực nào, tứ chi không thể cử động. Cô đã ngã trên sàn ban công, chứ không phải ngã xuống dưới.
"Không... không... mình... mình không muốn... mình muốn chết... cái lan can này..." Cô bò dậy, ngã xuống, lại bò dậy, rồi lại ngã. Cô cố gắng dùng hết sức bình sinh để đứng dậy. Cô đã đứng được. Đầu gối cô run rẩy. Cô lảo đảo lao về phía lan can. Nhưng cô không thể leo lên được nữa. Cô nhìn xuống phía sâu bên dưới. Một chiếc xe hơi vừa mới chạy đi. Lúc này cô chẳng còn chút can đảm nào nữa. Nhưng cô phải kết thúc. Cô phải... cô phải!
Cô nức nở lảo đảo quay lại phòng ngủ, cầm chai rượu lên uống, đánh rơi cả dép, ngã khuỵu xuống một chiếc ghế bành cạnh bàn điện thoại.
Điện thoại!
Cô phải nói chuyện với ai đó. Với ai? Chẳng phải cô có rất nhiều bạn sao? Vô số bạn bè, phải không? Cô có không? Ai? Ai? Angela, mày có ai để lắng nghe xem mày muốn làm gì không? Ai?
Cô rùng mình nhận ra một sự thật: Chẳng có ai cả.
Ở đó có cuốn danh bạ điện thoại. Cô vô thức lật giở lung tung. Ba năm trước, cô còn không cần đeo kính mới đọc được. Đôi tay cô di chuyển, cuốn danh bạ rơi xuống đất, cô nhặt nó lên. Cô không biết mình đang tìm cái gì, một người... một người có thể trò chuyện cùng cô... nói chuyện... nói chuyện! Ở đây có... có... một dịch vụ an ủi tâm hồn qua điện thoại... có lẽ ở đó có ai đó... Cô không tìm thấy số này. Nhà thờ! Cô xem dưới mục nhà thờ. Cô chọn một số. Không ai bắt máy. Một số khác. Không có tín hiệu. Cô rên rỉ như một con thú hoang. Số điện thoại thứ ba. Tiếng tút dài vang lên. Một tiếng, hai tiếng, rồi đột nhiên truyền đến giọng một người đàn ông, bình tĩnh, trầm thấp, thân thiện. Angela không hiểu người đàn ông đó đang nói gì. Nghe thấy tiếng người, cô lập tức cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng, không thốt nên lời. Cô đổ gục về phía trước, phần thân trên dựa vào chiếc bàn nhỏ, ống nghe trượt xuống. Cô rên rỉ. Cô khóc. Lúc này cô lại có thể khóc được, nức nở thành tiếng.
Giọng người đàn ông bình tĩnh ấy nói: "Tôi đang nghe điện thoại đây. Tôi vẫn ở bên cạnh máy. Cô cứ từ từ thôi, tôi có thời gian mà. Tôi dành tất cả thời gian cho cô."
"Tôi... tôi... mục sư... ông là mục sư sao?"
"Đúng vậy. Cô cứ khóc cho thỏa đi. Từ từ thôi. Tôi có thời gian..."
Angela nức nở, rên rỉ khóc.
"Tôi ở đây," giọng người đàn ông nói, "ở bên cạnh máy điện thoại..."
Cứ như vậy khoảng một phần tư tiếng đồng hồ. Sau đó Angela mới có sức lực, nói: "Tự sát... lúc nãy..."
Mục sư hiểu lầm: "Cô giết người rồi sao?"
"Không... tôi... tôi muốn tự mình... ông hiểu không? Tự mình... nhảy từ ban công xuống... nhưng tôi lại ngã ngược trở lại... mà bây giờ... mà bây giờ..."
Cô lại bật khóc.
"Tôi vẫn ở bên cạnh máy. Cô cứ từ từ. Cô cứ từ từ thôi..."
Giọng nói trẻ tuổi này nghe thật kiên cường mà cũng thật dịu dàng, Angela dần cảm thấy trong cơ thể có chút sức lực. Cô bắt đầu nói: "Tôi muốn tự tử... tôi không thể sống tiếp được nữa..."
"Tôi hiểu. Cô không thể chịu đựng thêm được nữa."
Giữa cuộc trò chuyện đôi khi xen lẫn vài phút im lặng hoặc tiếng khóc. Giọng vị mục sư luôn vang lên: "Tôi không gác máy đâu. Tôi vẫn ở bên cạnh máy."
"Bị bỏ rơi... người đàn ông mà tôi yêu... bị phản bội... bị lừa dối... bây giờ tôi chỉ còn một mình... cô độc... tôi không thể chịu nổi nữa! Tôi muốn tự sát!"
Giọng nói bình tĩnh ấy không hề phản đối, không hề bác bỏ, cũng không đưa ra bất kỳ phán xét giá trị nào. Ông nói ra những lời mà Angela còn có thể chấp nhận được: "Chắc hẳn cô đã trải qua rất nhiều đau khổ..."
"Phải..."
"Sau đó người đàn ông này xuất hiện... cô dâng hiến tất cả tình yêu cho anh ta... anh ta khiến cô thất vọng tột cùng... bây giờ xuất hiện một khoảng trống... một khoảng trống đáng sợ..."
"Phải... phải..." Angela hơi thẳng người lên một chút, vẫn thút thít. Cô có thể nói chuyện dễ dàng hơn: "Tôi chỉ có anh ấy... chỉ có anh ấy... tôi quen biết rất nhiều người, vô cùng nhiều... vì công việc mà tôi phải quen biết và gặp gỡ rất nhiều người... tôi phải tham dự mọi bữa tiệc, mọi buổi khiêu vũ... tôi phải làm thế, ông hiểu không?... Thế này thì gọi là cuộc sống gì chứ? Khiêu vũ! Tiệc tùng! Sự xa hoa này... và sự trống rỗng này... sự trống rỗng đi kèm theo đó... tôi đang sống cuộc đời gì thế này?" Cô hét lên, "Tôi không nói cho ông biết tôi là ai, sống ở đâu, nếu không ông sẽ báo cảnh sát mất!"
"Tôi thề, tôi tuyệt đối sẽ không làm thế... tôi hoàn toàn không muốn biết tên cô... thật đấy... cô đang rơi vào nghịch cảnh và sự cô độc lớn lao... tự sát, đó là biểu hiện bên ngoài nhất của sự cô độc... nhưng cô chưa đến mức cô độc đến nhường ấy đâu..."
"Tại sao lại không?"
"Bây giờ có tôi ở đây... tôi đang nói chuyện với cô... tôi rất hiểu cô, vô cùng hiểu... cô có thể tin tôi. Thật đấy, tôi hiểu cô."
"Thật sao?"
"Tất nhiên rồi... cô giao du rộng rãi... công việc bắt buộc cô phải như vậy... cô hoàn toàn không thể kể cho những người đó nghe về hình ảnh thật sự trong lòng mình... không thể kể một chút nào về nỗi u sầu, nỗi khổ tâm của cô... trước mặt những người này cô phải đóng một vai, đeo một chiếc mặt nạ, vui vẻ, luôn luôn vui vẻ... chính là như vậy, đúng không?"
"Đúng," Angela kinh ngạc nói, "là thế đấy... tôi mãi mãi không thể... mãi mãi không thể... tôi mãi mãi không thể bộc lộ con người thật của mình... tất cả mọi người ở đây đều nghĩ tôi là người phụ nữ vui vẻ nhất, hạnh phúc nhất ở Cannes... tôi hoàn toàn không được phép than vãn hay phàn nàn... tôi cần công việc mà... những đơn hàng... ai sẽ quan tâm đến cuộc sống thật của tôi chứ?"
"Tôi," mục sư chậm rãi nói, "tôi quan tâm. Cô thấy đấy, cô không phải một mình..."
"Không, không cô độc..."
"Có rất nhiều người, họ cô độc, bị bỏ rơi, nhưng không nghiêm trọng bằng cô. Cứ phải đeo mặt nạ, cứ phải diễn kịch, thật đáng sợ. Bên cạnh người tình của cô, bên cạnh người đàn ông đó, cô không cần phải như vậy..."
"Không... lúc đó tôi có thể dốc bầu tâm sự... anh ấy... người đàn ông này biết tất cả về tôi. Nhưng bây giờ..."
"Bây giờ tôi biết tất cả..."
"Nhưng ông không biết tôi là ai!" Angela hét lên.
"Điều đó chẳng liên quan gì đến sự việc cả. Chúng ta đang trò chuyện với nhau. Đây mới là sự khởi đầu của cuộc trò chuyện giữa chúng ta. Chúng ta phải tiếp tục nó. Tại sao cô không đến tìm tôi? Tôi là mục sư tại nhà thờ nhỏ Chính thống giáo Nga nằm cạnh đại lộ Alexandre III. Tôi đợi cô, sáng mai... chúng ta lại tiếp tục trò chuyện về mọi thứ."
"Tôi là người theo đạo Tin Lành."
"Điều đó không quan trọng! Tôi đợi cô."
"Tôi sẽ không đến đâu... tôi quá xấu hổ, vô cùng xấu hổ..."
"Vậy thì có lẽ cô đến vào ngày kia, hoặc cô lại gọi điện cho tôi. Tôi ở đây. Những lúc này tôi luôn ở đây, cả buổi sáng nữa. Tôi ở đây đợi cô, xin cô đừng quên điều này. Xin cô hãy nghĩ xem, tôi hiểu cô. Tôi vô cùng hiểu cô..."
"Đây quả là... tôi không thể tin được..."
"Là như vậy đấy..."
"Tôi vẫn phải làm! Tôi muốn nhảy..."
"Điều này tôi rất hiểu. Nếu là tôi, có lẽ tôi cũng sẽ làm như vậy..."
"Nhưng đây chẳng phải là một tội lỗi sao... tự sát? Theo ông, dựa trên giáo luật của ông?"
"Tôi không muốn bàn với cô về tội lỗi... nó không tồn tại trong hoàn cảnh như cô... chúng ta hãy nói về cô, nói về người mà tôi rất hiểu. Từ từ thôi, tôi luôn có thời gian dành cho cô..."
Ông đã nói chuyện với Angela gần hai tiếng đồng hồ. Chương trình tivi đã kết thúc từ lâu. Màn hình tối đen, có những đốm vàng nhấp nháy. Đài truyền hình đã tan làm. Vị mục sư với giọng nói vô cùng tử tế và thân thiện ấy vẫn cứ nói mãi, giờ đây ông đã nắm rõ tình hình, Angela cũng đã có thể nói chuyện lưu loát. Cô không còn khóc nữa, đầu óc tỉnh táo, tác dụng của rượu whisky đã giảm bớt.
"Cô đến tìm tôi đi." Vị mục sư trẻ nói.
"Tôi không biết..."
"Không nhất thiết phải là ngày mai. Lúc nào cũng được. Xin cô hãy nghĩ xem, bây giờ có tôi ở đây rồi. Một người mà cô không quen biết. Cô không cần phải đeo mặt nạ trước mặt anh ta. Cô có thể nói hết những gì mình nghĩ với anh ta. Bất cứ lúc nào, bất cứ lúc nào cô cũng có thể đến tìm tôi. Tôi hiểu cô, hoàn toàn hiểu cô."
"Cảm ơn," Angela nói, đột nhiên mệt mỏi vô cùng, "cảm ơn..." Cô để ống nghe rơi xuống giá. Ngay lập tức cô chìm vào giấc ngủ, sâu và nặng nề đến mức cả đời chưa từng có. Cô vẫn mặc nguyên quần áo ngồi trong ghế bành, đèn vẫn bật, bốn chiếc tivi vẫn bật, hiển thị những màn hình trống không, nước mưa nhỏ giọt xuống sàn ban công.
30
Đèn hàng không của chiếc máy bay đang hạ cánh thẳng đứng xuống Nice nhấp nháy hai màu đỏ trắng. Sau khi Angela nói xong, một khoảng lặng dài bao trùm. Cuối cùng cô nói: "Khi tôi tỉnh dậy, đã là chín giờ sáng. Xương cốt toàn thân tôi đau nhức. Đầu tôi đau như muốn nứt ra."
"Vậy cô có đi tìm vị mục sư đó không?"
Cô nhìn tôi. Dưới ánh đèn phản chiếu từ phòng khách, đôi mắt cô sáng rực.
"Không."
"Tại sao không?"
"Tôi quá xấu hổ. Tôi... từ đó về sau tôi không bao giờ muốn tự sát nữa."
"Người đàn ông đó đã cứu mạng cô." Tôi nói.
"Đúng vậy." Angela nhấp một ngụm sâm panh, châm lại điếu thuốc. Tôi cũng vậy.
"Mặc dù vậy..."
"Mặc dù vậy, tôi sẽ không bao giờ tìm ông ấy, cũng sẽ không gọi điện cho ông ấy. Tôi sẽ đến nhà thờ đó một chuyến, nó không xa đây lắm." Angela nói, ánh mắt lướt qua người tôi, "Tôi chắc chắn, chỉ cần nghe giọng nói là tôi có thể nhận ra ngay vị mục sư trẻ tuổi đó. Giọng nói ấy thật tử tế. Đến lúc đó, khi tôi đến tìm ông ấy, tôi cũng sẽ để ông ấy nhận ra tôi. Tôi đã quyết định sẽ đi tìm ông ấy, nhưng phải đợi đến khi..." Cô ngập ngừng.
"Đợi đến khi nào?"
Cô nhìn tôi như thể vừa bừng tỉnh sau cơn mê.
"Cái gì?"
"Cô nói, cô muốn để vị mục sư này nhận ra cô, đợi đến khi... đợi đến khi nào, Angela?"
Cô ngắm nhìn tôi, như thể chưa từng gặp tôi bao giờ.
"Không," cô nói, "chúng ta đừng nói chuyện này nữa. Bản thân tôi cũng không hiểu. Không ai biết câu chuyện này cả. Tại sao tôi lại kể với anh, Robert? Tại sao chứ?"
Tôi đứng dậy, bước về phía lan can, nhìn xuống bãi đỗ xe. Nhìn từ đây xuống quả nhiên rất cao. Tôi đột nhiên cảm thấy Angela đang ở ngay bên cạnh mình.
"Nhảy từ đây xuống." Tôi nói.
"Đúng," cô nói, "nhảy từ đây xuống."
Tôi cố gắng vòng tay ôm lấy vai cô. Cô lùi lại phía sau.
"Không," cô nói, "xin đừng làm thế."
"Xin cô thứ lỗi."
"Bây giờ là mười một giờ kém mười, mười một giờ có tin tức, sau đó tôi sẽ gọi cho Pascale," Angela nói, "lúc đó chắc cô ấy đã..."
Điện thoại trong phòng khách reo vang. Angela chạy tới cầm máy. Tôi nhìn xuống độ sâu chết người kia, hình ảnh bãi đỗ xe, những cây cọ và mặt đường bê tông trong đêm sẽ in sâu vào ký ức tôi chừng nào tôi còn sống.
Angela bước lên sàn ban công.
"Của anh đấy," cô nói, "Laclos."
Giọng anh ta buồn bã hơn thường lệ. Khi tôi gọi điện, Angela bận rộn trong phòng khách.
"Chúng tôi tìm anh khắp khách sạn. Cuối cùng tôi nghĩ, có lẽ anh đang ở nhà bà Delphia."
"Có chuyện gì vậy?"
"Đúng."
"Chuyện gì?"
"Nói qua điện thoại không tiện. Anh có thể đến ngay không?"
"Tôi... được. Tất nhiên rồi. Đến văn phòng của anh à?"
"Đến văn phòng tôi."
"Tôi đến ngay." Tôi nói xong liền cúp máy.
"Chuyện gì vậy?" Angela bước tới hỏi tôi.
"Tôi cũng chưa rõ. Tôi phải đến bến tàu cũ. Phiền cô sắp xếp buổi khiêu vũ ở chỗ bạn cô giúp nhé? Sáng mai chúng ta liên lạc lại?"
"Được, Robert." Cô nói, mỉm cười vui vẻ.
"Bây giờ cô lại đeo mặt nạ rồi." Tôi nói.
"Đúng," cô nói, "mặt nạ. Gương mặt châu Á của tôi. Nếu có chuyện gì quan trọng, xin anh hãy gọi cho tôi ngay hôm nay. Tôi sẽ mang điện thoại lên giường ngủ."
"Nhưng tôi không thể nào... có thể sẽ mất vài tiếng đồng hồ."
"Không sao. Anh nhất định phải gọi cho tôi!"
"Nhưng tại sao?"
"Vì liên quan đến vụ án của anh. Liên quan đến những việc về anh. Tại sao anh lại đến đây. Tôi muốn nắm được tình hình. Mọi thứ liên quan đến anh."
"Angela..."
Nhưng cô đã quay lưng đi khỏi tôi, bấm một dãy số. "Tôi gọi taxi cho anh." Cô nói.
Khi cô đặt xe taxi xong, tôi cùng cô bước ra cửa. Bây giờ, cô lại lạnh lùng, khép kín và khó gần như lúc tôi mới quen cô. Tất nhiên cô không tiễn tôi xuống lầu. Cô chào tạm biệt ở cửa. Tôi muốn hôn lên bàn tay cô, nhưng cô nhanh chóng rụt lại. Lần này cô không đợi tôi bước vào thang máy, cửa phòng đã đóng sập ngay lập tức.
Khi tôi bước ra bãi đỗ xe, taxi vẫn chưa đến. Tôi đành phải đợi. Tôi lấy bao thuốc lá trong túi áo sơ mi ra. Lúc này tôi mới chú ý, trong đó còn kẹp một mảnh giấy. Tôi lấy nó ra, chính là mảnh giấy tôi viết "Cảm ơn vì tất cả". Khi tôi gọi điện, chắc hẳn Angela đã cầm mảnh giấy này trên tay, tôi nghĩ. Vì bây giờ có một từ đã bị gạch đi, nét chữ to và rộng của cô đã viết một từ khác lên đó. Tôi đứng dưới ánh đèn ở cổng chính, châm một điếu thuốc, nhả khói, nhìn chăm chú vào mảnh giấy hồi lâu.
Tôi đã viết là "Cảm ơn vì tất cả".
Bây giờ, trên đó viết là "Không cảm ơn gì cả".
31
Anh ta nằm trong một vũng máu lớn trên sàn phòng thí nghiệm, gần như nửa khuôn mặt đã bị mất sạch. Anh ta nằm nghiêng, phần khuôn mặt bị khuyết đi trở thành những mảnh xương vỡ, da, gân và máu, một lượng máu lớn bắn tung tóe khắp sàn. Anh ta nằm trong vũng máu, máu nhuộm đỏ bẩn cả áo sơ mi, quần, tóc, cánh tay và bàn tay anh ta.
Tôi đứng đó, nhìn chằm chằm vào thứ từng là một con người sống này. Laurent Laclos buồn bã đứng cạnh tôi, chính anh ta đã dẫn tôi vào căn phòng này, nơi bày đầy dụng cụ, bình ga, hóa chất, bàn đặt kính hiển vi và các kệ hàng. Những người đàn ông mặc áo sơ mi và quần tây đi lại, chụp ảnh tử thi, rắc bột than lên bàn, kệ và dụng cụ để tìm dấu vân tay. Tổng cộng có sáu người. Căn phòng này lắp lưới sắt, rất nóng. Tôi quả nhiên không nhận ra người chết, hỏi: "Đây là ai?"
Laclos trả lời: "Đây là Laurent Viala."
"Lạy Chúa tôi!" Tôi nói. Laurent Viala điển trai này, từng là người tình của Angela, sau đó là bạn của cô. Tâm trí tôi vẫn còn đặt ở chỗ Angela, tôi nghĩ trước tiên đến phản ứng của cô khi nghe tin này. Tôi nói: "Trưa nay tôi còn gặp Viala ở 'Felix' mà."
"Ba tiếng trước tôi còn ăn tối cùng anh ta." Laclos nói. Anh ta tái mét, thần kinh căng thẳng, khóe miệng luôn ngậm điếu thuốc nhưng lại quên mất không hút.
"Ai làm chuyện này, và làm thế nào?"
"Bằng một khẩu súng lục nòng lớn có gắn ống giảm thanh, ở cự ly gần nhất. Đúng là một phát bắn vào cổ."
"Vậy thì đó phải là người thuộc về căn nhà này hoặc là người quen của Viala — cửa sổ lắp lưới sắt, chúng ta đang ở tầng hai mà."
"Đúng vậy," Laclos ủ rũ nói, "điều đó khiến mọi chuyện càng tồi tệ hơn. Chắc chắn là kẻ nào đó trước đó còn trò chuyện với Viala, dù sao cũng là người quen."
"Anh ta vào bằng cách nào — ý tôi là vào căn phòng này?"
"Căn phòng này mở cửa suốt đêm." Laclos nói. Khi anh ta nói, điếu thuốc ở khóe miệng lay động lên xuống.
"Còn lính canh thì sao?"
"Anh đang nghĩ gì thế? Tôi đã nói với anh rồi, nhân lực chúng ta quá ít. Người không làm nhiệm vụ đều nghỉ ngơi, ngủ cho ngon, hoặc làm việc trong văn phòng. Chỉ cần quen Viala thì ai cũng có thể vào dễ dàng. Ba phần tư tiếng trước tôi cũng vào đây, vì tôi muốn biết tiến độ kiểm tra của Viala ra sao. Là tôi phát hiện ra Viala. Tôi lập tức gọi cho cảnh sát tư pháp Nice, vì việc này đã vượt quá thẩm quyền của chúng ta, điều đó càng khiến sự việc nghiêm trọng hơn. Thanh tra Jacques Roussel đã đến rồi. Anh ta đang thẩm vấn ai đó, tìm kiếm nhân chứng. Tạ ơn trời, anh ta đã mang theo vài cảnh sát."
Một trong những người đó đang lật xác chết sang một bên để kiểm tra. Người đó tóc hoa râm, đeo kính.
"Bác sĩ Vernon, bác sĩ cảnh sát của Cannes chúng ta." Laclos giới thiệu với tôi. Vernon vui vẻ gật đầu với tôi, rồi dùng nhíp chọc ngoáy vào đống hỗn độn máu me từng là khuôn mặt của Laurent Viala. Chính là người này đã từng hôn môi Angela. Lúc này, một con ruồi lớn đậu vào đống máu me ấy. Bác sĩ Vernon thậm chí còn không đuổi chúng đi. Ông ta thò một tay vào cái cổ đẫm máu đó, xoay xoay phần đầu còn sót lại.
"Đằng này, bé ngoan," anh nói với Lacroix, "họng súng. Rất nhỏ. Đã xé nát khuôn mặt. Rõ ràng là một viên đạn dum-dum."
"Vialla chắc chắn là đang ngồi," Lacroix giải thích, "có lẽ ngồi cạnh một trong những thiết bị của hắn, kẻ thủ ác đứng phía sau. Vialla chết rất nhanh. Hắn chẳng cảm thấy gì cả - mọi chuyện đã kết thúc. Một ngày nào đó tôi cũng muốn chết như vậy."
"Tôi cứ tưởng đạn dum-dum chỉ dùng cho súng trường."
"Súng ngắn cũng dùng được, bé ngoan ạ." Bác sĩ Vernet chắc hẳn đã làm bác sĩ pháp y rất lâu rồi. Không gì có thể khiến ông ngạc nhiên, không gì có thể khiến ông thất vọng. Một con người không còn ảo tưởng, cũng chẳng còn chút cảm giác kinh hãi nào, bất kể ông nhìn thấy gì, bất kể ông phải kiểm tra cái gì. Một kẻ kỳ quặc. Hay cái từ "bé ngoan" vui vẻ kia chỉ là đang diễn kịch, để bảo vệ Vernet, không để bất cứ thứ gì chạm đến, ảnh hưởng đến ông và làm lay động trái tim ông?
"Mang sổ của cậu lại đây, bé ngoan!" Bác sĩ Vernet hét lên, nhanh nhẹn và hoạt bát đọc cho một trợ lý ghi chép. Người thanh niên kia đang tốc ký.
"Nhưng làm sao chuyện này có thể xảy ra được?" Tôi hỏi, "Có động cơ không?"
"Tất nhiên," Lacroix nói, "một động cơ rất tốt, đáng tiếc thay."
"Đó là gì?"
"Anh nhìn cái giá đằng kia xem."
Tôi nhìn về phía cái giá, nơi buổi sáng còn đặt tất cả các mảnh vỡ, đặc biệt là dây điện và vỏ rỗng của chiếc máy nổ hẹn giờ được tháo ra từ chiếc du thuyền. Bây giờ, cái giá trống trơn.
"Dù đó là ai, hắn cũng đã lấy đi tất cả," Lacroix nói, "không chỉ vật liệu, mà cả những bản vẽ của Vialla. Hắn có vài bản. Tôi đã thấy chúng hồi sáng. Bây giờ mất sạch rồi."
"Đống này lớn lắm," tôi nói, "và còn nặng nữa."
"Kẻ thủ ác hẳn đã vận chuyển đi trong hai hoặc ba lần. Có lẽ là đóng vào thùng. Có thể là một người, cũng có thể có đồng bọn."
"Thật mạo hiểm."
"Tất nhiên là mạo hiểm. Những kẻ chúng ta đang đối phó ở đây là những kẻ không biết sợ hãi," Lacroix nói, "Anh hãy nhớ lại những lời tôi đã nói khi chúng ta mới gặp nhau."
Một người đàn ông cao lớn vạm vỡ bước vào. Ông ta cao quá mức, hơi khom người. Ông mặc bộ vest nhiệt đới, thắt cà vạt. Ông có đôi lông mày rậm đen rối bời, mái tóc trắng gợn sóng, đôi mắt đen láy trên khuôn mặt đầy tinh thần.
"Đây là thanh tra Jacques Roussel thuộc sở cảnh sát tư pháp Nice..." Lacroix giới thiệu với chúng tôi.
Roussel hoàn toàn trái ngược với Lacroix - tràn đầy năng lượng, kiên trì, giận dữ và dũng cảm.
"Mẹ kiếp, thật tức chết đi được, phải không?"
"Phải," tôi nói.
"Dù là ai, tôi nhất định phải bắt được hắn," Roussel nói, "Đồ chó đẻ, mẹ kiếp. Tôi không quan tâm liệu những kẻ giàu có có nhúng tay vào việc này hay không, dù cả thế giới này thuộc về chúng! Chúng không có quyền tự cho mình là những kẻ lang thang nghèo khổ nhất trên bến cảng."
"Nhưng chúng lại nghĩ như vậy," Lacroix nói, "Chúng có quyền, quyền lực rất lớn."
"Quyền lực, chó má gì chứ!" Roussel nói, "Tôi đã gọi điện cho Paris. Cho sở cảnh sát chính trị. Cho sở cảnh sát kinh tế. Tôi đã bắt họ phải hành động nghiêm túc. Phái người xuống đây."
"Vậy thì chúng ta sẽ có một vụ bê bối," Lacroix nói.
"Thì sao nào? Ở đây đã xảy ra một vụ mưu sát. Nếu mọi thứ không phải là giả, thì cách đây không lâu đã xảy ra một vụ mưu sát mười hai người chết. Nếu tôi không phải là một thằng ngốc, thì giữa những vụ mưu sát này, giữa tất cả bọn chúng, đều có liên hệ. Những thủy thủ tội nghiệp trên chiếc du thuyền 'Nguyệt Hoa', họ chỉ có thể lái thuyền, họ không phải là tỷ phú, Louis à, họ nghèo, đều có gia đình, giống như anh và tôi vậy. Giờ đây cả gia đình mất đi người trụ cột. Nếu lúc này tôi còn sợ làm phiền người khác, im lặng không nói gì, thì thà tôi bị nguyền rủa còn hơn... Anh nói sao, thưa ông?"
"Nếu tôi sợ những kẻ ở đây, tôi cũng thà bị nguyền rủa," tôi nói.
"Các anh! Các anh không sống ở Cannes," Lacroix nói bằng giọng rất nhỏ. Roussel đặt một bàn tay lên vai ông.
"Vialla để lại một người mẹ," ông nói, "Bà ấy hiện có thể nhận một khoản lương hưu. Anh biết khoản lương hưu này cao bao nhiêu mà. Hãy nghĩ đến mẹ của Vialla đi, Louis. Anh hãy nghĩ xem, nếu đó là mẹ của anh."
Một sự thay đổi kỳ lạ xảy ra trên người đàn ông nhỏ bé, đáng thương này. Cơ thể ông thẳng lên, đôi mắt mệt mỏi mở to. Khi ông nói, lời nói lộ ra sự nhục nhã bị đè nén và mối hận thù suốt hàng chục năm. Ông nói: "Anh nói đúng, Jacques. Tôi là một con lợn nhát gan, bao lâu nay, luôn nhát gan như vậy. Nhưng bây giờ tôi không còn như thế nữa. Kẻ nào làm việc này, hắn phải trả giá." Lacroix ngước nhìn Roussel, "Cảm ơn anh đã nói với tôi như vậy."
"Được rồi, ông bạn già của tôi," Roussel nói.
Một cảnh sát bước vào, hỏi: "Ở đây có ông Lucas nào không?"
"Có," tôi nói, "có chuyện gì?"
"Khách sạn 'Trang Nghiêm' gọi điện đến. Ở đó có hai bức điện tín khẩn của ông. Nếu được, mong ông nhanh chóng quay về."
"Chúng tôi không cần ông ở đây lúc này," Roussel nói, "Nếu ông muốn đi..."
"Tôi phải đi. Đó là cấp trên của tôi."
"Hiểu rồi. Có vẻ như chuyện này bây giờ đã lớn rồi," Roussel nói.
Lúc này chúng tôi đều chưa biết, ông ấy đã nói đúng đến mức nào.
32
Hai bức điện tín là do Gustav Brandenberger gửi đến. Tôi yêu cầu người gác đêm lấy chìa khóa két sắt của tôi từ két của phòng bảo vệ, lấy sổ mật mã ra, ngồi xuống sảnh trống không để dịch điện tín. Bức điện đầu tiên yêu cầu tôi đáp chuyến bay sáng chủ nhật về Düsseldorf, sau khi đến nơi lập tức tới văn phòng của Brandenberger trình diện. Nội dung bức điện thứ hai là: Tìm mọi cách bảo vệ người biết chuyện và vật chứng.
Tôi đọc lại lần nữa.
Bức điện này được gửi lúc 19 giờ 45 phút. Tôi nghĩ, nếu tôi ở khách sạn và đọc được nó, có lẽ Vialla vẫn còn sống. Sau đó tôi suy nghĩ: Chúng tôi có thể bảo vệ hắn bằng cách nào? Không phải bảo vệ hắn, tôi nghĩ, mà là bảo vệ vật chứng. Brandenberger làm sao mà biết rõ mọi chuyện như vậy?
Tôi đốt bức điện, để những mảnh giấy cháy sém rơi vào gạt tàn, rồi nghiền nát nó, sau đó cho sổ mật mã vào két sắt của mình, lấy hộ chiếu và toàn bộ tiền ra, nói với người gác cổng rằng ngày mai tôi phải bay tới Düsseldorf, nhưng tôi muốn giữ phòng.
"Đã xong xuôi cả rồi, thưa ông. Giữ phòng cho ông, ông sẽ sớm quay lại đây thôi."
"Sao ông biết?"
"Chúng tôi cũng nhận được một bức điện tín." Ông đưa cho tôi một cuốn sổ nhỏ, "Đây là vé máy bay của ông, thưa ông. Chúng tôi đã đặt một chỗ trên chuyến bay của Air France theo yêu cầu. Nó sẽ cất cánh từ Nice lúc 9 giờ. Ông sẽ bay qua Paris, đến Düsseldorf lúc 12 giờ 25 phút. Chúng tôi đã chuyển mọi thứ vào tài khoản của ông."
Tôi cảm ơn ông, đặt lại chìa khóa vào két, nhìn ông khóa lại. Sau đó tôi đi thang máy lên phòng, cởi bỏ quần áo, tắm nước nóng lạnh xen kẽ. Trong phòng chất đầy các hộp - bộ vest, áo sơ mi và quần của tôi đã được gửi đến. Tôi mở tất cả ra, cất quần áo vào. Tôi để bộ vest nhẹ màu be ra ngoài, cùng với một chiếc cà vạt mà Angela chọn. Tôi sẽ mặc chúng lên máy bay. Tôi nằm trần trên giường, cố gắng ngủ, nhưng tôi lại tỉnh táo lạ thường, liền bật chiếc radio nhỏ đầu giường. Một giọng nữ mềm mại đang hát: "Đây là một vở kịch hoàn hảo." Tôi tắt đi. Bây giờ là 2 giờ 20 phút, tôi nhìn đồng hồ, ban đêm tôi vẫn luôn đeo lại nó. Điện thoại reo lên.
Là Angela gọi tới.
"Tôi vừa gọi, nhưng ông không có nhà. Có chuyện... chuyện gì xảy ra vậy, Robert? Có phải chuyện gì nghiêm trọng không?"
"Đúng," tôi nói, "một chuyện vô cùng nghiêm trọng."
"Chuyện gì?"
Tôi kể cho cô ấy nghe.
Một khoảng lặng dài. Tôi nghĩ, tôi rất muốn biết câu nói đầu tiên của cô ấy sẽ là gì. Cuối cùng cô khẽ nói: "Anh ấy là một người tốt. Kể từ đó, chúng tôi chỉ là bạn, nhưng là những người bạn thực sự. Tôi đau buồn cho cái chết của anh ấy. Anh ấy yêu mẹ mình biết bao. Ngày mai tôi sẽ đến thăm mẹ anh ấy, chăm sóc bà. Bây giờ bà ấy chỉ còn lại một mình."
"Cô gọi điện có chuyện gì không?" tôi hỏi.
"Vì - cuộc sống vẫn luôn tiếp diễn, thật đáng sợ, phải không? Tôi muốn nói, bạn gái của tôi, Pascale, rất muốn tổ chức một bữa tối cho tất cả mọi người. Tám giờ ngày kia. Ông thấy có tiện không?"
"Rất tiện! Cô đợi chút. Ngày mai - hôm nay - tôi phải bay tới Düsseldorf."
"Bao lâu?" Trời ơi, cô ấy lập tức hỏi như vậy! Tôi nghĩ, cảm thấy tim mình đập thình thịch.
"Tôi không biết. Sẽ không lâu đâu. Nếu lâu quá ngày kia, tôi sẽ gọi điện kịp thời để bàn về bữa tối. Nhưng tôi hy vọng, đến lúc đó tôi đã quay lại rồi. Tôi vô cùng hy vọng."
"Ông đi Düsseldorf vì cái chết của Vialla sao?"
"Đó cũng là một lý do."
"Máy bay của ông cất cánh lúc nào?"
"9 giờ 15 phút cất cánh từ Nice."
"Vậy tám giờ tôi sẽ đón ông ngoài khách sạn."
"Không cần! Chỉ còn năm tiếng rưỡi nữa thôi! Không, tôi sẽ gọi taxi."
"Ông đừng gọi taxi. Tám giờ tôi đến. Chúc ngủ ngon, Robert."
"Chúc ngủ ngon, Angela, cảm ơn cô," tôi nói, rồi gác máy.
Nhưng đêm nay sẽ không còn yên tĩnh nữa.
Tôi khoác áo choàng ngủ, đi ra ban công, ngồi xuống, hút thuốc, hết điếu này đến điếu khác. Tôi quá kích động, không thể ngủ được. Từ 4 giờ 30 phút, bầu trời trên biển sẽ sáng dần lên, màu sắc thay đổi trong chớp mắt. Trên đường Thập Tự và trong khách sạn đều im phăng phắc. 4 giờ 45 phút điện thoại lại reo. Lại là Angela.
"Ông không ngủ được, phải không, Robert?"
"Không ngủ được."
"Tôi cũng không ngủ được."
"Tội nghiệp Vialla."
"Không chỉ là tội nghiệp Vialla," cô nói, "Điều này ông cũng rất rõ."
"Đúng," tôi nói, "tôi rất rõ."
"Khi tôi gọi điện, ông đang làm gì?"
"Tôi đang ngồi trên ban công ngước nhìn bầu trời, nó đang sáng dần lên."
"Tôi cũng đang làm điều tương tự. Tôi ngồi trên sân thượng, nhìn bầu trời. Dây điện thoại của ông cũng dài lắm phải không?"
"Khá dài."
"Vậy ông cầm điện thoại, quay lại ban công đi, rồi lại ngước nhìn bầu trời."
Tôi làm theo.
"Ông đang ngồi chứ?"
"Đúng."
"Bây giờ cả hai chúng ta đều đang ngước nhìn bầu trời," Angela nói.
"Đúng," tôi nói. Nói xong tôi im lặng không nói gì. Trong ống nghe có tiếng xào xạc. Bầu trời từ màu xám xịt, sau đó chuyển sang màu xám cát, bây giờ đang từ màu đỏ gạch chuyển sang màu nâu, màu xanh táo, rồi thành màu vàng kim ngày càng rực rỡ. Những ngôi nhà trắng bên đường Thập Tự đang xoay vòng lấp lánh trong ánh vàng này. Chúng tôi cứ ngồi như vậy một lúc, ống nghe áp vào tai tôi, Angela cũng ngồi như vậy, ống nghe áp vào tai cô ấy. Không ai nói một lời nào. Sau đó, một vầng mặt trời đỏ rực từ dưới biển phun trào lên.
"Vậy tám giờ gặp nhé," Angela nói, nói xong liền gác máy -