29
Gương mặt John Kilwood tròn trịa như một quả bóng, căng phồng như chực nổ tung, lưỡi thâm tím thò ra ngoài miệng, đôi mắt trợn ngược. Trên cổ John Kilwood có một sợi dây nylon. Sợi dây được buộc chặt vào một cái móc trên trần phòng tắm. John Kilwood cứ thế treo lơ lửng ở đó. Hắn chỉ mặc một chiếc quần ngủ, phía trên vấy bẩn bởi chất nôn.
Đây là một trong số tất cả những bức ảnh.
Còn rất nhiều bức ảnh khác, bao gồm cả những tấm chụp cận cảnh khuôn mặt, tất cả đều là ảnh màu, độ nhạy sáng cao. Tôi xem từng tấm một, cảm thấy khó chịu. Thanh tra Roussel đưa ảnh cho tôi từng tấm một. Chúng tôi đang đứng ở tầng hai trong căn nhà của John Kilwood tại Mougins, lại là một ngày nắng nóng gay gắt. Trong nhà có rất nhiều người, họ ra ra vào vào, đứng vây quanh Roussel và tôi. John Kilwood, kẻ đã khai nhận chi tiết hắn chính là hung thủ thực sự sát hại Herbert Hermann, đã lìa đời.
"Hắn tự treo cổ sao?" Tôi hỏi.
"Tuyệt đối không." Roussel nói, "Chúng ta hầu như vẫn chưa hiểu rõ điều gì, nhưng có một điểm chúng ta biết: Đây không phải tự sát. John Kilwood đã bị giết."
Mougins là một thị trấn nhỏ chỉ có ba ngàn dân, nằm trên một sườn đồi cao, từ đó có thể nhìn xa trông rộng ra dải đất giữa Grasse và biển cả. Chúng tôi lái xe qua cánh cổng có di tích thành cổ để tiến vào thị trấn nhỏ này, đi ngang qua bức tượng bán thân của một người đàn ông. Roger giải thích với tôi, đây là Chỉ huy trưởng Rami von Valy, ông hy sinh trong một cuộc viễn chinh tới Sahara vào thời điểm giao thế kỷ, sinh ra tại chính Mougins này. Căn nhà của John Kilwood tên là "Thiên Vũ". Nó tọa lạc trong một con hẻm rất hẹp, phía trước là quảng trường của một nhà thờ cổ kính xinh đẹp. Quảng trường khá nhỏ, trồng cây ngô đồng và vài cây cọ. Căn nhà ba tầng, hẹp và dài, cửa sổ rất cao, treo đầy rèm lụa đỏ thẫm. Toàn bộ căn nhà giữ tông màu đỏ.
Ngoài Roussel, Lacrosse, Kessler cùng các quan chức của đội án mạng, đội giám định và cảnh sát tư pháp thuộc phân cục trung tâm, còn có ba người khác có mặt. Roussel giới thiệu tôi với họ. Người thứ nhất tên là Maurice Fabre, đến từ Bộ Nội vụ ở Paris. Nhìn cách ăn mặc của ông ta có vẻ cấp bậc rất cao, mặc dù ông ta gần như im lặng suốt từ đầu, chỉ quan sát việc kiểm tra. Người thứ hai đến từ Bộ Tài chính ở Paris, tên là Michel Ricard, có mái tóc đen bù xù. Ông ta cũng gần như không hé nửa lời. Người thứ ba đến từ Lãnh sự quán Mỹ tại Nice, vì Kilwood là người Mỹ. Ông ta tên là Franz Ridgeway. Cuối cùng, còn có vị bác sĩ pháp y thấp lùn mà tôi đã quen mặt, bác sĩ Vernon. Nhân vật chính John Kilwood không còn ở đây nữa. Hắn đã được cho vào một chiếc bồn tắm kim loại và đưa tới Viện Pháp y. Những người tìm kiếm dấu vết và nhân viên đội giám định đi lại trong phòng, rắc bột than chì lên mép bàn, cốc và chai lọ để tìm dấu vân tay cùng nhiều thứ khác, liên tục chụp ảnh.
Không ai nói gì về vẻ ngoài của tôi, họ đang bận tâm đến những chuyện khác. Họ nói tiếng Pháp, người của Lãnh sự quán Mỹ nói rất vất vả, khả năng nghe rất kém. Một cảnh sát đi tới, liên tục rót cà phê đen vào cốc của những người đàn ông này. Tôi uống ba tách trà, lúc này cảm thấy dễ chịu hơn một chút.
Khi Lacrosse chào tôi, ông nói họ đã tìm tôi từ lúc năm giờ sáng. Nghĩa là, năm giờ sáng, Roussel và ông ta vào nhà, muốn đánh thức Kilwood vì lo lắng không biết Kilwood có uống quá nhiều thuốc ngủ hay không - quá nhiều đối với một cơ thể chứa đầy rượu whisky. Họ phát hiện gã say rượu đó trong phòng tắm, treo cổ trên cái móc này.
Tôi hỏi: "Trước đó các anh đã vào nhà chưa?"
"Vào thường xuyên," Lacrosse nói, "Có lúc là tôi, có lúc là thanh tra."
"Tôi cũng từng vào." Kessler nói.
"Thế nào?"
"Kilwood đang ngủ. Quản gia đi từ tám giờ. Bà ấy đến vào sáng nay, chúng tôi đã thẩm vấn bà ấy rồi thả cho về."
"Kể từ khi có bản khai nhận này, cả ngày hôm qua chúng tôi thay phiên nhau canh chừng hắn." Roussel nói, "Đối diện là 'Khách sạn Pháp', chúng tôi đặt bộ chỉ huy hiện trường ở đó. Chúng tôi chờ đợi các quý ông từ Paris tới. Chúng tôi đã thông báo cho Lãnh sự quán Mỹ từ sớm. Ông Ridgeway đến vào khoảng hai mươi hai giờ."
"Tôi cũng đã vào nhà vài lần, thấy Kilwood đang ngủ." Ridgeway nói bằng tiếng Pháp bập bẹ của mình.
"Như đã nói, tất cả chúng tôi đều liên tục vào xem." Lacrosse nói.
"Tại sao các anh không đánh thức và bắt giữ Kilwood?"
"Hắn vốn không nên bị bắt. Không có lý do để bắt. Chỉ là cảnh sát triệu tập. Lệnh triệu tập phải đợi hai vị quý ông từ Paris mang tới."
Fabre của Bộ Nội vụ nói: "Chúng tôi đã mất rất nhiều thời gian mới đạt được sự thống nhất trong việc này. Chúng tôi phải bàn bạc với Đại sứ quán Mỹ."
Ricard của Bộ Tài chính nói: "Vì vậy chúng tôi đã lỡ chuyến bay. Một chiếc máy bay của Không quân đã đưa chúng tôi tới Nice. Chúng tôi đi xe từ đó tới đây. Tiếc là không thể nhanh hơn. Chuyện này không phải chuyện nhỏ..."
"Tôi hiểu." Tôi nói.
"Tôi đã nói chuyện với ông Ricard rồi." Kessler nói. Hai người này thể hiện sự ngưỡng mộ đồng nghiệp lẫn nhau.
Roussel nói: "Kilwood không thể trốn thoát, căn nhà này do hiến binh canh giữ. Về lý thuyết thì có khả năng, ai đó lẻn vào từ vườn, trèo qua tường - trên tường có cây thường xuân - nhưng khả năng này không cao lắm. Khả năng cao hơn là có kẻ nào đó ẩn nấp trong nhà mà chúng ta không phát hiện ra, làm xong việc rồi chuồn mất. Làm thế nào để thực hiện, tôi không thể tưởng tượng nổi."
"Tôi cũng không thể tưởng tượng nổi." Lacrosse nói, "Cuối cùng chúng tôi đành phải cố gắng đánh thức Kilwood - các quý ông từ Paris đã chờ cùng chúng tôi rất lâu rồi."
"Ngoài ra, khi phát hiện tử thi, tôi đã cùng vào nhà." Fabre nói. Sắc mặt ông ta vàng vọt, chắc chắn là gan có vấn đề.
"Tôi cũng vậy," Ricard của Bộ Tài chính nói, "Cùng với đồng nghiệp của tôi." Ông ta nhìn Kessler.
"Tại sao các anh lại nghĩ đây là mưu sát chứ không phải tự sát?" Tôi hỏi Roussel. Vừa nói, ông vừa đưa những bức ảnh đã rửa và phóng to cho tôi xem.
"Bác sĩ nói." Tất cả chúng tôi đều nhìn về phía bác sĩ pháp y, người thấp lùn, còn thấp hơn cả Lacrosse.
Bác sĩ Vernon giơ cánh tay mảnh khảnh của mình lên.
"Chuyện này đến trẻ con cũng nhìn ra, ông Lucas! Chúng tôi vừa tháo hắn xuống khỏi cái móc, tôi đã nhìn ra rồi. Hoàn toàn không có nghi vấn. Khi Kilwood bị treo lên móc, hắn đã chết rồi."
"Bác sĩ cho rằng," Lacrosse nói, "Kilwood bị siết cổ bằng dây nylon khi đang ngủ."
"Siết cổ, ôi chao, siết cổ." Vị bác sĩ thấp lùn nói.
"Thì ra hắn bị siết cổ."
"Ai mà biết được?" Vernon lại giơ cánh tay mảnh khảnh lên. Ông ta đi lại trong phòng tắm, trên tay cầm cốc cà phê. Phòng tắm rất rộng, tất cả chúng tôi đều đứng ở trong đó. Ông ta nhấp một ngụm nhỏ. "Tôi nói cho ông hay, trước khi tiến hành giải phẫu tử thi, tôi không thể nói gì về nguyên nhân cái chết. Nhìn bề ngoài, Kilwood trông như bị siết cổ."
"Được rồi." Tôi nói.
"Nhưng cái này cũng chẳng ích gì. Tôi phải mổ tử thi. Ông xem, ôi chao, cũng có thể là giả vờ bị siết cổ. Biết đâu Kilwood bị đầu độc. Hoặc chết do nhồi máu cơ tim. Hoặc vì bị siết cổ họng mà sợ chết khiếp."
"Được rồi, nhưng kiểu gì cũng phải có người treo hắn lên cái móc này chứ."
"Đương nhiên, ôi chao, đương nhiên rồi." Vernon chặn vị cảnh sát đang xách bình cà phê đi lại, "Tôi cần thêm một tách nữa. Cảm ơn rất nhiều. À, dễ chịu thật. Nếu hắn thực sự bị siết cổ, khi giải phẫu tử thi sẽ xuất hiện triệu chứng ngạt thở. Tôi nói với ông, chuyện này là khó chịu nhất, vì thực tế ông chẳng có bằng chứng nào cả. Khi bị siết cổ, tĩnh mạch cổ và động mạch cảnh bị tắc nghẽn, nhưng động mạch cột sống lại thông suốt. Kết quả là khuôn mặt xuất hiện ứ máu, sưng tấy, thâm tím, vân vân."
"Vậy khuôn mặt đó là thâm tím, sưng phồng." Tôi nói.
"Nó vốn dĩ đã như vậy rồi! Vì nghiện rượu. Kilwood nghiện rượu, chuyện này chúng ta đều biết. Nó không giống như màu tím và sưng tấy của một người bị siết cổ."
"Vậy nghĩa là hắn không bị siết cổ?" Tôi hỏi.
"Ai nói thế?" Vị bác sĩ thấp lùn cười khẽ, "Có lẽ khuôn mặt này là do nghiện rượu mà thâm tím sưng phồng. Khi hung thủ kéo Kilwood vào phòng tắm và treo lên, hắn chắc hẳn đã nới lỏng sợi dây nylon. Như vậy tình huống sẽ hoàn toàn thay đổi, sự sưng tấy và vết bầm tím do siết cổ họng gây ra sẽ vì thế mà biến mất."
"Quỷ tha ma bắt," người ở Lãnh sự quán Mỹ nói, "Đây chẳng khác nào trò đùa."
"Vì hung thủ làm mọi việc hoàn hảo như vậy, tại sao hắn còn phải ngụy tạo giả hiện trường treo cổ?" Tôi hỏi.
"Hắn cho rằng hắn làm chưa hoàn hảo. Hắn nghĩ làm thế mới không sơ hở. Hắn quả thật đã tính toán rất chu đáo, nhưng vẫn có lỗ hổng. Hắn không có kiến thức y học - tôi đã nói với ông rồi, đây là một trong những lĩnh vực hóc búa nhất."
"Nhưng ông vẫn khẳng định, Kilwood không phải tự sát."
"Khẳng định hoàn toàn!"
"Nhưng tại sao lại giết Kilwood? Sau bản khai nhận này thì đâu có lý do để làm vậy!" Tôi nói.
"Ai biết được bản khai nhận này chứ?" Vernon đắc thắng quay đầu nhìn, "Ờ, à! Dù là ai ẩn nấp trong căn nhà này - tôi có thể suy đoán, là một người đàn ông đã mưu sát Kilwood, hì hì hì - hắn chắc chắn không biết." Vernon tự đắc, "Nếu Kilwood thực sự bị siết cổ, tôi giải phẫu tử thi nhất định sẽ phát hiện xuất huyết trong kết mạc và da đầu, hơn nữa là xuất huyết lớn. Đương nhiên cũng có thể hoàn toàn không xuất huyết."
"Người này làm tôi phát điên." Người của Bộ Tài chính thì thầm với tôi, dùng khăn tay lau mặt.
"Sao lại có thể hoàn toàn không xuất huyết?" Lacrosse hỏi, mỉm cười nhàn nhạt, vẻ mặt tinh quái.
"Chuyện này phụ thuộc vào - còn cà phê không? Có à? Tuyệt quá. Làm ơn cho thêm một tách. Phụ thuộc vào công cụ siết cổ, chính là sợi dây đó, có bị kéo căng hay giữa chừng lại nới lỏng ra. Cảm ơn cà phê, ôi chao."
"Nghĩa là," tôi nói, "Nếu sợi dây kéo căng, vậy thì, ông sẽ tìm thấy rất nhiều máu."
"Hoàn toàn ngược lại! Nếu sợi dây kéo căng, cực kỳ chặt và đột ngột, tôi sẽ chẳng tìm thấy xuất huyết nào cả."
Người của Lãnh sự quán Mỹ phát ra tiếng: "Ồ!..."
"Vị này bị sao vậy?"
"Sổ mũi." Roussel nói, "Tại sao lại hoàn toàn không xuất huyết?"
"Vì lúc đó tất cả mạch máu đều đột ngột đóng lại, máu không lên được. Chuyện này rõ như ban ngày, nhóc con, đúng không?"
"Rõ như ban ngày." Roussel nói, "Xin thứ lỗi, bác sĩ."
"Nhưng cũng có thể sợi dây bị kéo mạnh một cái! Hung thủ cũng không siết cổ Kilwood trên giường - nếu là siết cổ - mà là ở trong phòng tắm. Hãy nhìn vết nôn cạnh bồn tắm đó đi. Chúng ta không tìm thấy trên giường. Như vậy, cái chết xảy ra trong phòng tắm. Kẻ sát nhân này tính toán cũng đủ thông minh, nhưng vẫn chưa đủ tầm." Vernon uống cà phê, rồi đi lại, tiếp tục giảng giải, "Cũng có thể là sụn thanh quản bị tổn thương."
"A ha." Tôi nói.
"Nhưng cũng chưa chắc! Một tác nhân kích thích, đây là siết cổ, như đã nói rồi. Nếu là siết cổ, tôi thừa nhận, có một số bằng chứng chứng minh điều này. Tôi phát hiện một vết hằn rõ rệt dưới sụn thanh quản. Nó kéo dài theo mặt phẳng, vùng cổ rất rõ. Tôi cũng có thể phát hiện gãy xương trong sụn giáp và sụn nhẫn khi giải phẫu tử thi."
"Được, được!" Lacrosse mỉa mai đầy hả hê.
"...Nhưng tôi không bắt buộc phải làm. Trong hầu hết các trường hợp đều không phát hiện ra kiểu gãy xương này."
"Gã này làm tôi không chịu nổi." Người của Lãnh sự quán Mỹ nói. Vernon mỉm cười với ông ta như một đứa trẻ.
"Xin hãy quên nguyên nhân cái chết đi, bác sĩ. Còn thời gian tử vong thì sao? Ông có thể nói gì về điều đó không?" Roussel hỏi.
"Đúng, đây cũng là một chuyện khó nói rõ. Khó, rất khó..."
"Tại sao lại khó? Ông đến lúc năm giờ rưỡi. Khi ông nhìn thấy Kilwood, tử thi đã cứng chưa?"
"Có thể cho tôi chút đường không... Cảm ơn. Ban đầu là cứng cục bộ, cơ hàm dưới. Cổ và cánh tay, chân và bàn chân vẫn chưa."
"Vậy nghĩa là khi ông đến, Kilwood chết chưa đầy năm tiếng."
"Đây chính là vấn đề."
"Sao lại là vấn đề?" Roussel thì thầm, "Sau năm tiếng thì tử thi đã cứng hoàn toàn rồi."
"Ông nói vậy! Người khác không nói thế. Nhưng được rồi, nhiệt độ bình thường thì năm tiếng. Chỉ là nhiệt độ trong căn nhà này không bình thường, đặc biệt là trong phòng tắm. Trong phòng tắm rất ấm, các anh đều đồng ý với tôi đúng không? Được rồi. Có lẽ, khi tôi tới, Kilwood đã chết năm tiếng rồi, nhưng vì ấm nên chưa cứng toàn thân, nhóc con ạ. Ngoài ra - cứng tử thi vốn dĩ không bắt đầu từ hàm dưới, mà từ tim - tôi chưa giải phẫu tử thi thì sao có thể khẳng định?"
"Chúng tôi biết, năm giờ sáng Kilwood dù thế nào cũng đã chết. Vì lúc này chúng tôi phát hiện ra hắn. Ông đến đây lúc năm giờ ba mươi. Có vết hoen tử thi không?" Lacrosse hỏi.
"Tôi không phát hiện ra."
"Vậy nghĩa là Kilwood chết chưa đầy ba tiếng..."
"Đợi đã, nhóc con, đợi đã... Khi một người bị siết cổ nhanh chóng, máu tuy chảy nhanh hơn - nhưng trong hai mươi bốn giờ đầu nó vẫn là chất lỏng, vì vậy trong trường hợp này vết hoen tử thi xuất hiện muộn, mặc dù..."
Ricard của Bộ Tài chính rên rỉ thành tiếng.
"Được rồi, bác sĩ thân mến," Roussel nói nhẹ nhàng, "Xin hỏi - với những dè dặt và không chắc chắn này, Kilwood sớm nhất chết vào lúc nào, muộn nhất là lúc nào?"
"Chuyện này tôi không thể đưa ra thời gian chính xác cho các anh! Chẳng ai làm được cả!"
"Thời gian không chính xác."
Vernon lầm bầm: "Không chính xác - ý ông là, ông cho phép tôi sai lệch một tiếng?"
"Đúng."
"Vậy tôi phải nói, Kilwood không chết trước không giờ ba mươi, cũng không chết sau một giờ ba mươi. Nghĩa là..."
"...Hắn đã chết từ lúc hai mươi ba giờ ba mươi, nhưng cũng có khả năng đến hai giờ ba mươi mới chết, hiểu rồi, bác sĩ thân mến." Roussel nói.
"Tôi thành một thằng ngốc rồi." Người Mỹ nói.
Vernon không biết một chữ tiếng Anh nào, vui vẻ gật đầu với ông ta.
Lacrosse nói với tôi: "Ngoài ra, chúng tôi đã giao tất cả chữ viết tay của ông cho chuyên gia của chúng tôi."
"Kết quả thế nào?"
"Mặc dù chữ viết trong thư đe dọa đã được ngụy trang, nhưng chuyên gia hoàn toàn loại trừ việc có bất kỳ nét chữ nào trùng khớp với chữ trong thư đe dọa." Louis Lacrosse nói.
Tôi quay phắt người, bước ra khỏi phòng tắm, đi qua căn phòng để ra ban-công. Tôi hít một hơi thật sâu. Tôi buộc phải bám chặt vào lan can. Nếu tôi còn nghe thêm một giây nữa thôi, tôi sẽ phải vào bệnh viện tâm thần mất. Tôi nhìn ra thung lũng xanh thẳm của Grasse. Trong không khí rung động, sắc màu rực rỡ của tất cả các vườn hoa nhà máy nước hoa cũng đang rung động, tím, đỏ, vàng, xanh, trắng và cam. Đó là một cảnh tượng vô cùng xinh đẹp, cả đời này tôi chưa bao giờ đau khổ đến thế.
30
"Karin," tôi nói với vợ mình, "Anh muốn ly hôn."
"Anh nói lại lần nữa xem." Vợ tôi nói. Cô ấy mặc một chiếc áo choàng ngủ, chỉ chải đầu qua loa, không trang điểm. Cô ấy không biết tôi sẽ về nhà, chỉ chuẩn bị một miếng phô mai và bia cho bữa tối. Chúng tôi ngồi đối diện nhau ở góc ăn uống trong phòng khách rộng lớn, lúc này là chín giờ tối. Phòng khách thắp bốn chiếc đèn sàn cao, có chao đèn lụa hình chuông rộng màu vàng kim.
Tôi nói: "Anh muốn ly hôn, Karin. Anh rất xin lỗi, nhưng anh không còn yêu em nữa, không thể tiếp tục sống với em. Anh muốn rời xa em."
"Vì người đàn bà khác?"
"Vì người đàn bà khác."
"Trên mặt anh có miếng phô mai," vợ tôi nói, "Lau đi. Lần trước anh về, em đã biết rồi. Anh không lừa được em đâu."
"Anh yêu người phụ nữ này, Karin." Tôi nói, cảm thấy mình hèn hạ, và quả thực là vậy, nhưng tôi không còn lựa chọn nào khác, tôi đã suy nghĩ thấu đáo trên máy bay rồi. "Anh yêu người phụ nữ này." Tôi nói.
"Con đĩ đó, lại đi dan díu với đàn ông đã có vợ."
"Cô ấy không biết anh đã kết hôn. Sau này anh mới nói với cô ấy."
Karin uống cạn cốc bia, rót thêm cốc mới. Cô ấy châm một điếu thuốc, nheo mắt nhìn tôi.
"Thế là cô ta nói, nếu anh không nói rõ ràng với vợ mình, giải quyết cho sạch sẽ, thì cô ta không qua lại với anh nữa, đúng không?"
"Không, không phải chuyện đó."
"Ôi dào, đừng có nói dối nữa, đồ chó hèn nhát!"
"Không phải chuyện đó. Hoàn toàn khác."
"Thế nào? Thế nào? Sao lại hoàn toàn khác?"
"Cái này không quan trọng. Khác nhau."
"Anh nghĩ mọi chuyện đơn giản quá rồi." Vợ tôi, Karin, nói.
"Không, anh không nghĩ đơn giản quá." Tôi nói, "Nếu anh nghĩ đơn giản quá, thì mấy năm trước anh đã chia tay em rồi."
"Tại sao chứ?"
"Vì chúng ta đã kết thúc từ mấy năm trước rồi. Vì anh không còn yêu em, và em cũng chẳng còn yêu anh mấy năm nay rồi, em nói thật đi."
"Em luôn yêu anh. Em sẽ luôn yêu anh, dù anh có là con lợn." Vợ tôi, Karin, nói.
"Đó không phải sự thật." Tôi nói.
"Đó là sự thật." Karin nói, nói xong liền khóc, khóc không thành tiếng. Cô ấy tiếp tục hút thuốc, uống bia, nước mắt không ngừng chảy xuống khuôn mặt xinh đẹp của cô ấy, như chuỗi hạt đứt dây. Chúng tôi nói chuyện không lớn lắm. "Anh biết gì về em? Anh biết em yêu anh đến nhường nào không? Khi nào anh quan tâm đến em? Anh chỉ quan tâm đến mấy con đĩ trong lũ đĩ đó thôi. Là con đĩ ở Cannes, đúng không?"
"Người phụ nữ này sống ở Cannes." Tôi nói.
"Con đĩ Cannes này có gì đặc biệt?" Vợ tôi, Karin, hỏi, "Cô ta trên giường giỏi lắm sao? Cô ta giỏi hơn em nhiều lắm sao?"
"Anh chưa từng ngủ với cô ấy." Tôi nói.
"Đồ nói dối. Chưa từng ngủ với cô ta, mà lại muốn ly hôn với vợ. Con đĩ Cannes này làm gì với anh? Cô ta có thủ đoạn gì đặc biệt? Bây giờ, anh già rồi, đương nhiên phải dan díu với loại đàn bà như thế. Đúng, anh đang ở độ tuổi thích hợp cho mấy chuyện này. Nói đi, nói đi, nói đi, mau nói đi, con đĩ của anh làm thế nào? Cô ta có chiêu trò bí mật gì?"
"Anh chưa từng ngủ với cô ấy."
"Anh chưa từng ngủ với cô ấy!" Cô ấy nhại lại lời tôi, "Đồ thiên thần vô tội. Cô ta bảo anh tuyệt đối không được thừa nhận chuyện này à?"
"Đó là sự thật." Tôi nói.
"Sự thật! Thì ra cô ta làm tốt hơn. Thế thì tuyệt quá. Anh và tình yêu của anh dành cho con đĩ. Anh chắc chắn đã phát điên vì người phụ nữ đó rồi. Với mấy con đĩ khác, anh vẫn còn về nhà để nghỉ ngơi. Nhưng lần này thì khác."
"Lần này mọi thứ đều khác." Tôi nói, "Người phụ nữ này không phải đĩ."
"Một hiệp sĩ cao quý mặc giáp sáng loáng." Karin nói, vén một lọn tóc vàng trên trán. Cô ấy vẫn khóc, nhưng nói rất bình tĩnh. "Lần này không phải đĩ. Đột nhiên, ngay lập tức. Chắc chắn rồi. Không phải đĩ, đúng không?"
"Không."
"Không phải đĩ? Đĩ! Đĩ! Đĩ Cannes!"
"Em câm miệng đi." Tôi nói.
"Muốn em câm miệng? Em? Nếu em không câm thì sao? Thế nào? Anh định đánh em à? Anh định giết em à? Vậy mà muốn em câm miệng! Cô ta đẹp hơn em sao?"
Tôi không trả lời.
"Em hỏi cô ta có đẹp hơn em không!"
"Có." Tôi nói.
"Tuyệt lắm." Vợ tôi nói, "Cô ta trẻ hơn em sao?"
"Không quan trọng."
"Thế là rõ rồi. Anh biết anh là gì không? Anh là đống phân lớn nhất trên thế giới này của Chúa. Anh biết chúng ta kết hôn bao lâu rồi không? Mười năm."
Tôi lo cô ấy sẽ nói câu đó. "Em đã dành mười năm đẹp nhất đời mình cho anh." Karin nói. Thế là cô ấy đã nói ra rồi.
"Dành tặng." Tôi nói.
"Đúng!" Cô ấy đột nhiên hét lên như điên, "Dành tặng! Ai chăm sóc anh, ai đợi anh? Thường là đợi mấy tháng trời, xấu đi già đi, bây giờ lại muốn vứt bỏ như một tờ giấy sao? Ai đã từ chối bao nhiêu người đàn ông đáng yêu, để chấp nhận anh? Lúc đó có bao nhiêu người đáng yêu, anh biết mà. Em? Là em! Tay em đeo nhẫn của anh. Là anh đeo nó vào tay em. Anh đã hứa với em, anh sẽ luôn ở bên em, dù lúc giàu sang hay nghèo khó, dù ốm đau hay khốn cùng, cho đến..."
"Không. Chúng ta không kết hôn trong nhà thờ," tôi nói, "Chỉ đến phòng đăng ký kết hôn thôi. Karin, xin hãy nhớ lấy."
"Bởi vì em không muốn đi nhà thờ! Em cũng chẳng bao giờ muốn đeo nhẫn! Giờ thì anh đã hiểu tại sao rồi! Cha mẹ tội nghiệp của anh đã cảnh báo anh về em, nhất là cha. Giờ họ đã mất cả rồi. Anh chẳng còn ai cả, chỉ còn mỗi em. Ngay cả em anh cũng không còn nữa, em cách anh hàng ngàn cây số, lúc nào cũng xa xôi như thế, anh cảm nhận được rõ ràng điều đó, nhưng ít nhất em còn về nhà. Mỗi khi em về, người ở đây lại nói rằng anh có một người vợ, chồng cô ta suốt ngày đi công tác, sức khỏe lại không tốt, ngủ thì hay la hét. Giờ anh mới hiểu, tại sao em lại la hét khi ngủ rồi."
"Đừng có nói nhảm," anh nói, "Anh đã la hét mấy năm nay rồi. Người đàn bà đó là sau khi anh đến Cannes anh mới quen."
"Cô ta tên gì?"
Anh im lặng.
"Muốn tra ra chuyện này, cũng chẳng khó khăn gì."
"Đúng, không khó chút nào," anh nói.
"Em sẽ tra ra cho bằng được," vợ anh, Karin nói, "Đến lúc đó em sẽ xử lý con điếm đó, anh cứ đợi đấy mà xem. Em sẽ làm cho nó phải cuốn xéo khỏi Cannes."
"Em định làm gì?"
"Đó không phải việc anh cần lo! Phá hoại một cuộc hôn nhân! Chỉ vì một con điếm! Đồ khốn kiếp..."
"Anh đã nói với em rồi, cô ấy không biết anh đã kết hôn. Anh chưa từng ngủ với cô ấy."
"Em cũng sẽ hủy hoại cả anh! Đến tìm Gustav ấy! Đến công ty ấy! Em sẽ kể hết chuyện của anh cho họ nghe! Để xem anh còn giữ được cái công việc mỹ miều này không, cái nghề vừa đi công tác vừa đi tìm điếm này."
"Em không thể hủy hoại anh mà không tự hủy hoại chính mình," anh nói, "Em còn phải sống chứ, đúng không? Chúng ta cần tiền, dù có kết hôn hay không. Em không muốn chết đói, phải không?"
"Đồ súc vật đê tiện," cô nói, "Tôi khinh bỉ anh. Tôi khinh bỉ anh từ tận đáy lòng, khinh bỉ đến chết."
"Hãy để anh đi, Karin. Anh cầu xin em," anh nói, "Anh xin em đấy. Chúng ta không còn sống cuộc sống vợ chồng nữa rồi. Hai ta còn có thể làm gì khác đây? Anh hứa với em, sẽ luôn chăm sóc em, anh sẽ..."
"Ôi chao, nhìn anh ta kìa! Anh thật là cao thượng quá nhỉ. Chết tiệt thật! Ngả mũ kính phục! Một quý ông! Thế ra anh định tiếp tục chăm sóc tôi sao, đồ lợn? Anh không muốn vứt bỏ tôi rồi chạy trốn. Anh không muốn nói rằng, hãy tự tìm việc mà làm đi, cô còn trẻ, còn khỏe, còn có thể làm việc."
"Em cũng có thể mà," anh nói.
"Tại sao tôi phải đi làm?" cô hỏi, "Tôi chưa từng làm gì sai cả. Là anh muốn đi, chứ không phải tôi. Pháp luật vẫn còn đó."
"Anh biết điều đó."
"Tạ ơn trời, vẫn còn luật pháp bảo vệ phụ nữ."
Anh rời nhà xác ở Mogens rồi lái xe về lại Cannes. Tại khách sạn "Majestic", anh tìm thấy một bức điện tín của Gustav Brandenberger, yêu cầu anh lập tức trở về Düsseldorf. Anh tắm rửa, cạo râu, thu dọn túi du lịch, rồi mặc bộ âu phục thường ngày mà Angela đã chọn cho anh. Chuyến bay tiếp theo qua Paris để đến Düsseldorf phải ba tiếng rưỡi nữa mới khởi hành, thế là anh ngồi xuống cái sân hiên vắng lặng. Vì nắng gắt, ở đó dựng rất nhiều ô. Tại "góc của chúng ta", cái góc mà Angela và anh từng ngồi, anh uống một chai sâm panh. Nhưng tâm trạng anh càng lúc càng tồi tệ, anh không thể chịu đựng nổi khi ngồi ở cái góc này nữa. Anh đi vào sảnh, định gọi điện cho Angela. Nhưng rồi lại thôi. Anh ngồi trong sảnh hai tiếng đồng hồ, cứ muốn gọi nhưng cuối cùng vẫn không gọi. Anh không đủ can đảm. Trong túi áo khoác của anh là hai chiếc khuyên tai kim cương. Anh mân mê chúng, rồi định vứt đi. Lúc này anh nhận ra, mình sắp suy sụp thần kinh đến nơi rồi. Anh gọi một chiếc taxi, đi đến Nice, ra sân bay. Ở đó anh lại tiếp tục chờ, và ở Nice anh cũng uống sâm panh.
Khi họ thông báo gọi chuyến bay của chúng tôi, anh lảo đảo bước ra xe. Anh ngước nhìn lên khán đài như một kẻ ngốc, nhưng tất nhiên Angela không có ở đó. Anh vấp chân, suýt ngã khi lên xe. Mọi người đều nhìn anh, nhận ra anh đã say. Sau đó, trên máy bay, họ vẫn nhìn anh, dù anh ngồi rất yên lặng, không uống thêm gì nữa, chỉ nghĩ rằng giờ đây mình phải chia tay với Karin. Những người đó, họ cứ nhìn anh mãi, có lẽ trên mặt anh có vết bẩn gì chăng.
Sau đó, anh bắt taxi về nhà, gọi điện cho Gustav. Ông ấy vẫn còn ở văn phòng, bảo anh chín giờ sáng mai tới gặp. Rồi chúng tôi ăn bánh mì kẹp phô mai, Karin và tôi, uống bia. Sau đó anh nói với cô ấy rằng anh yêu một người đàn bà khác và muốn chia tay, cô ấy đã đáp lại, tất cả đúng như những gì anh đã viết đến đây. Thời tiết ở Düsseldorf trở nên rất ấm áp, một đêm oi bức, chúng tôi mở toang cửa sổ.
Vợ anh, Karin, lấy một chiếc khăn tay từ trong áo choàng ngủ ra, lau nước mắt, hỉ mũi, rồi rất bình tĩnh hỏi: "Về mặt kinh tế, anh tính sao?"
Khoảnh khắc này lòng anh rối như tơ vò. Nhìn xem, anh đầy tội lỗi trở về nhà, bắt đầu cuộc trò chuyện này. Anh biết, mình là một con lợn vì muốn rời bỏ vợ chỉ vì một người đàn bà khác. Anh tự nhủ, chỉ có một con lợn mới làm chuyện như vậy. Nhưng anh buộc phải làm, không còn lựa chọn nào khác. Anh yêu Angela quá nhiều, đến mức không thể chịu đựng thêm một đêm nào nữa dưới cùng một mái nhà với Karin. Dẫu vậy, anh sợ cuộc trò chuyện này, sợ những cơn cuồng loạn và những lời mê sảng về tình yêu. Những lời cầu xin, van nài, thề thốt. Có vẻ như đàn ông hoàn toàn hiểu lầm về những người phụ nữ có cuộc hôn nhân bất hạnh với mình. Họ nghĩ rằng, những người phụ nữ ấy, khi bị bỏ rơi vì một người đàn bà khác, họ sẽ tự sát, suy sụp, buông xuôi. Bởi vì mặc cho tất cả, họ vẫn yêu chồng mình. Nhưng có vẻ không phải như vậy.
"Về mặt kinh tế, anh tính sao?" vợ anh, Karin, hỏi một cách thực tế và lạnh lùng.
Lúc này, cảm giác tội lỗi của anh đột nhiên biến mất.
"Dĩ nhiên là anh để lại căn nhà cho em," anh nói, "Anh sẽ dọn đi. Đi đâu cũng được, vào khách sạn. Anh chưa biết nữa." Thật ra anh đã biết rồi, nhưng giờ anh không nói thẳng. "Anh có ba ngàn Mark, có thể đưa ngay cho em hai ngàn tám. Anh vẫn trả tiền thuê nhà, bảo hiểm các thứ, em sẽ có đủ tiền để sống cho đến khi chúng ta nhận được phán quyết chính thức."
"Phán quyết chính thức là gì?"
"Nếu chúng ta ly hôn."
"Ai bảo tôi muốn ly hôn? Tôi chưa hề nói câu nào như thế. Anh rất muốn vậy, nhưng tôi không đồng ý. Một câu cũng không. Giờ tôi phải nói chuyện với luật sư của mình. Trước đó tôi sẽ không nói gì cả. Thế anh đưa tôi bao nhiêu?"
Anh đưa ra một con số khá cao so với tình trạng của mình.
"Quá ít! Như thế sao tôi duy trì cuộc sống được. Việc này rất hợp ý anh nhỉ. Bắt tôi cầm mấy đồng lẻ mà chết đói, còn anh thì đưa cho con điếm Cannes của anh tiêu xài xa hoa trong hai ngày là hết sạch."
"Anh cũng chỉ có lương thôi," anh nói, "Anh không có tài sản gì cả."
"Anh có một tài khoản ngân hàng."
"Em biết trong đó có bao nhiêu mà."
"Tài khoản đứng tên anh. Tôi chỉ có quyền ký tên. Nếu tôi rút sạch chỗ đó, anh tính sao?"
"Em sẽ không làm thế đâu," anh nói, "Để tránh bị đuối lý." Anh nói vậy, dự định sáng sớm mai sẽ cấm Karin sử dụng tài khoản này.
"Cổ phiếu ở Thụy Sĩ, trong đó cũng có một nửa thuộc về tôi," Karin nói, "Tôi có thể bay tới Zurich, bán một nửa đó đi."
"Em có thể làm thế," anh nói. Kỳ lạ là anh chẳng hề bận tâm về số cổ phiếu ở Thụy Sĩ. Ngày mai anh cũng phải đi tìm luật sư của mình. Ông ấy là luật sư và cũng là bạn của anh suốt hai mươi năm nay. Anh phải bàn bạc với ông ấy.
"Giờ tôi không nói gì nữa," Karin nói, "Anh đừng dụ tôi vào bẫy. Tôi phải nói chuyện với luật sư của mình. Ông ấy sẽ bảo tôi phải làm gì. Anh nghĩ gì vậy? Muốn tôi nói đồng ý ngay hôm nay để anh cưới con điếm Cannes của anh? Để anh muốn cưới con điếm nào cũng được? Anh đừng hòng lấy được một lời từ miệng tôi. Giờ tôi phải nghĩ cho bản thân mình. Tôi cần sự an toàn - nếu tôi không có được gì khác. Số tiền chúng ta có, là tiền của chúng ta, không phải của riêng anh."
"Đúng vậy," anh nói, "Chúng ta có tài sản chung. Tuy nhiên, tiền em tiết kiệm cũng không phải của riêng em. Nó cũng là của chúng ta."
Giờ đây, khi chúng tôi chỉ nói về tiền bạc, chúng tôi nói rất bình tĩnh và lạnh nhạt, giọng nhỏ nhẹ, không nhìn vào mắt nhau.
"Được rồi, đồ lợn," Karin nói, "Anh định làm gì?"
"Anh dọn đi, ngay bây giờ."
"Nực cười. Đồ đạc của anh thì sao?"
"Anh mang theo, chỉ mang những thứ cần thiết nhất thôi."
"Mang bằng cách nào?"
"Để trong xe của anh."
"Đó là xe của chúng ta!" Karin hét lên.
Anh đứng dậy.
"Anh định đi đâu?"
"Thu dọn đồ đạc," anh nói, "Trễ rồi."
Đến lúc này cô lại khóc. Cô chạy từ bên cạnh anh vào phòng riêng, đóng sầm cửa lại, anh nghe thấy tiếng cô nức nở. Tiếp theo anh nghe thấy cô khóc lóc suốt cả một tiếng đồng hồ.
31
Anh cởi áo khoác, tháo cà vạt, đi vào phòng thay đồ, trước tiên lấy ba chiếc vali lớn từ ngăn trên cùng của tủ quần áo. Trên máy bay, anh đã viết vào một mảnh giấy tất cả những thứ mình phải mang theo. Mảnh giấy đó như sau:
Những chiếc cúc áo bằng mai rùa, giày
Sổ tay điện thoại con ngựa nhỏ Sicilia, đơn bảo hiểm
Máy đánh chữ, sổ séc, đồng hồ báo thức du lịch
Âu phục, giấy tờ xe, đài radio nhỏ
Quần áo thay, tài liệu, máy ảnh Minox
Cà vạt, tiền Pháp, áo mưa
Danh sách này thật nực cười, nhưng anh vẫn làm theo nó để thu dọn. Anh bắt đầu bằng việc thu dọn cả một vali đầy áo sơ mi, đồ lót, tất, giày và cà vạt. Một đống đồ lớn. Mỗi khi anh dừng lại nghỉ một chút, anh lại nghe thấy tiếng Karin nức nở. Tiếng khóc của cô càng lúc càng lớn.
Anh đi vào phòng chứa đồ, tìm thấy một cái thùng lớn bên trong có lót bông, mang vào phòng ngủ, cẩn thận bọc những con voi bằng bông, rồi lấy báo bọc lại, từng cái một. Sau đó là con ngựa nhỏ nhiều màu sắc. Rồi đến chiếc đài radio bán dẫn nhỏ, nó vẫn nằm ở đầu giường anh, dù chúng tôi có một bộ dàn âm thanh cao cấp, anh vẫn rất thích nó. Cuối cùng là máy ảnh Minox. Anh thu gom những tài liệu cá nhân để trong bàn viết, sổ tay điện thoại riêng, giấy tờ xe, cúc áo mai rùa, ghim cà vạt và ba chiếc đồng hồ vào một chiếc túi du lịch. Anh mang theo tất cả đồng hồ của mình, điều này đặc biệt nực cười. Những chiếc đồng hồ đó, kể cả chiếc anh đang đeo trên tay, đều là Karin tặng anh.
Thu dọn xong, anh mang vali và thùng giấy xuống dưới. Xe của anh đỗ trước tòa nhà. Anh dùng thang máy, đặt vali vào cốp xe. May mà cốp rất lớn, nhưng vẫn không đủ. Một chiếc vali và túi du lịch đặt ở ghế sau, thùng giấy đựng voi đặt ở ghế trước bên cạnh ghế lái. Anh phải lên xuống mấy lần. Lần thứ hai, cửa đối diện mở ra, bà Hartwig, hàng xóm của chúng tôi, đứng đó.
"Chào buổi tối, ông Lucas."
"Chào buổi tối," anh nói, định bước tiếp, nhưng bà ta đi theo anh.
"Ông đang làm gì thế? Ông dọn đi à?"
"Tạm thời dọn đi, vâng, bà Hartwig." Từ trong nhà có thể nghe thấy tiếng Karin nức nở.
"Vợ tội nghiệp của ông..."
"Vâng," anh nói, "Xin bà thứ lỗi, bà Hartwig."
"Ông làm thế là không công bằng, ông Lucas. Ông có một người vợ tốt như vậy..."
"Bà Hartwig..."
"Chuyện gì thế, ông Lucas?"
"Bà hãy lo việc của bà đi."
Bà ta nói một câu "Đồ vô liêm sỉ" rồi bỏ đi, đóng sầm cửa lại. Khi anh bắt đầu chuyển những bộ âu phục cùng với móc treo xuống, anh cảm thấy bà ta đang nhìn mình qua mắt mèo trên cửa. Chúng rất nặng. Anh đổ mồ hôi trong cái nóng ẩm ướt. Chân và bàn chân anh đau nhức. Anh uống thuốc, không có tác dụng. Công việc này thật mệt mỏi, anh rất muốn nghỉ ngơi, nhưng không được. Anh treo âu phục ở ghế sau, treo không hết thì đặt lên vali. Trên phố có vài người tò mò nhìn anh, họ ra ngoài hóng mát. Anh lớn tiếng nguyền rủa. Áo sơ mi, quần, tất cả đều dính bết, mồ hôi từ tóc chảy qua trán xuống mặt. Cuối cùng anh cũng làm xong. Xe bị quá tải, nhún xuống. Anh lại đi thang máy lên một lần nữa, mở cửa phòng ngủ. Anh ném xấp tiền một trăm Mark, tổng cộng hai ngàn tám trăm Mark lên tủ. Karin nằm ngang trên giường, mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà, gào khóc, nức nở không ngừng.
"Đây là số tiền đầu tiên. Ngay khi biết mình ở đâu, anh sẽ thông báo cho em," anh nói.
Cô im lặng không nói gì.
"Sống tốt nhé, Karin," anh nói, "Nếu có thể, xin em hãy tha thứ cho anh."
"Muốn tôi tha thứ cho anh? Không bao giờ. Tuyệt đối không! Chúa sẽ trừng phạt anh! Đồ khốn!"
Làm thế này cũng chẳng có ý nghĩa gì. Giờ anh phải đi nhanh thôi. Anh bước về phía cửa, đột nhiên nghe thấy Karin bật dậy khỏi giường, chạy theo anh. Anh đi đến cửa. Khi anh bước vào hành lang, Karin đuổi kịp anh. Cô ôm lấy anh, gào lên: "Ở lại! Ở lại! Anh đừng làm thế! Anh đừng làm thế!"
"Anh phải đi, hãy tha thứ cho anh," anh nói, gỡ cô ra. Cửa đối diện mở ra, bà Hartwig lại đứng đó. Vừa nhìn thấy bà ta, Karin liền hét lên: "Bà Hartwig, chồng tôi bỏ tôi rồi!" Nói xong, cô lao vào vòng tay bà Hartwig, co giật khóc lóc, nghe rất đáng sợ.
"Nhìn là biết rồi," bà Hartwig nói khi anh bước vào thang máy, "Nhưng ông không cô độc đâu. Ông vẫn còn bạn bè. Chồng tôi và tôi cũng là bạn của ông. Bà Lucas tội nghiệp, đáng yêu. Chồng bà rồi sẽ hiểu ra thôi. Chồng bà, anh ta sẽ phải kinh ngạc đấy!"
Anh nhấn nút xuống, thang máy trượt xuống. Anh nghe thấy Karin đột nhiên gào thét khản đặc sau lưng mình: "Tội phạm! Đồ lợn! Con chó tội nghiệp! Anh sẽ phải chịu sự trừng phạt của tôi! Tôi sẽ làm cho anh trắng tay!"
Anh còn nghe thấy tiếng la hét xen lẫn của bà Hartwig, anh không hiểu bà ta nói gì. Anh mệt đến thở không ra hơi, mồ hôi chảy ròng ròng, chân đau nhức. Anh nghĩ, tất cả những điều này bây giờ nên là sự bắt đầu chứ không phải kết thúc. Anh khoác áo vest lên vai. Anh xuống đến tầng hầm, đóng cửa phòng sau lưng, đây là lần cuối cùng trong đời anh bước qua cánh cửa này, đúng vậy, lần cuối cùng.
32
Anh lái xe rất cẩn thận, vì tâm trạng anh đang kích động, lo sợ xảy ra tai nạn. Anh lái xe về phía sân bay Lohausen ở ngoại ô. Ở đó có khách sạn "Intercontinental" của Düsseldorf, công ty bảo hiểm toàn cầu luôn sắp xếp cho tất cả khách hàng và người đến thăm ở đó. Anh quen người gác cổng, quản lý và tổng giám đốc. Chúng tôi được hưởng giá ưu đãi. Sau khi hạ cánh, anh đã gọi cho tổng giám đốc, nói với ông ấy rằng anh sẽ đến, vì anh muốn chia tay vợ. Anh hỏi ông ấy xem có thể cho anh một căn phòng lớn với nhiều tủ quần áo không - thời gian không xác định. Chúng tôi đã thống nhất về giá cả. Thời tiết vẫn rất oi bức. Đêm nay trời không mát lên được. Khi anh đến khách sạn "Intercontinental", anh vẫn đang đổ mồ hôi không ngừng. Lần này là nhân viên khách sạn giúp anh mang tất cả đồ đạc lên lầu - lên một căn hộ lớn tuyệt đẹp ở tầng tám. Quả nhiên có đủ chỗ để đặt đồ lót và âu phục của anh. Văn phòng quản lý cho người đặt hai chai sâm panh trong sảnh cho anh, nhưng anh lại chẳng có tâm trạng uống sâm panh. Anh gọi quầy bar mang lên một chai rượu whisky, nhiều đá và nước soda. Anh bắt đầu lấy đồ ra khỏi vali, vừa uống rượu vừa dần dần bình tĩnh lại. Anh cởi sạch đồ, dù phòng có bật điều hòa, nhưng anh hoàn toàn không thích nghi được với lao động chân tay. Anh uống rượu, treo âu phục lên, sắp xếp quần áo thay và mọi thứ khác. Những con voi và con ngựa nhỏ anh đặt trên hai kệ lớn dựa tường ở sảnh. Anh nghĩ, giấy tờ sáng mai phải gửi vào két sắt khách sạn. Sau đó anh phải rút tiền từ ngân hàng, đóng băng tài khoản, không cho Karin rút tiền. Đây lại là một hành vi đê tiện nữa, nhưng anh không muốn mạo hiểm. Khoảng hai giờ sáng, cuối cùng anh cũng thu dọn xong. Anh mệt lử, ngồi đó một cách trống rỗng, thở dốc. Chân anh đau dữ dội. Anh tiếp tục uống rượu, cảm thấy say. Tất cả những gì anh có thể nghĩ là: anh đã rời bỏ Karin rồi. Anh không biết giờ phải làm sao. Nhưng anh đã rời bỏ Karin rồi.
Sau đó anh gọi điện cho cô. Cô bắt máy ngay. Anh nghe thấy tiếng bà Hartwig và chồng bà ta, họ rõ ràng đang ở bên cạnh vợ anh.
"Karin, anh đang ở khách sạn 'Intercontinental'," anh nói.
"Ồ." Cô nói xong liền cúp máy.
Anh ngồi trước cửa sổ trong phòng khách, nhìn ra bầu trời đêm, nhìn về phía sân bay. Ở đó có rất nhiều ánh đèn trắng, đỏ và xanh, ánh đèn chiếu sáng đường băng như ban ngày. Thỉnh thoảng lại có một chiếc máy bay cất cánh hoặc hạ cánh. Đây chắc hẳn là máy bay chở thư, anh nghĩ. Hoặc là những chuyến bay quá cảnh, chúng bay từ rất xa đến và còn phải bay một quãng đường dài nữa. Máy bay đôi khi bay sát sạt khách sạn, lạ là không nghe thấy tiếng gầm rú của chúng - giống như máy bay ở Cannes vậy, chúng hạ cánh xuống Nice.
Các chương trình truyền hình đã kết thúc từ lâu, vì vậy anh mở chiếc đài radio nhỏ của mình. Kim tần số chỉ vào đài mạng lưới quân đội Mỹ tại Frankfurt, đài quân đội Mỹ đó. Bài hát đầu tiên anh nghe thấy là giọng của Bob Dylan, chính xác là vậy. "...Câu trả lời đó, bạn của tôi, đang bay trong gió. Câu trả lời đang bay trong gió..." Anh lập tức tắt máy, tiếp tục uống rượu, nghĩ về Angela. Cơ thể anh đau nhức vì khao khát cô.
Bốn giờ sáng anh đã say mèm. Thế là anh yêu cầu nối máy đến Cannes. Một lát sau Angela bắt máy. Anh nói chuyện hơi khó khăn, nhưng đặc biệt rõ ràng. Ban đầu cô không nhận ra.
"Em không muốn qua lại với anh nữa," cô nói, "Anh đang ở đâu? Ở khách sạn 'Majestic' à? Sao giờ này anh lại gọi?"
"Anh đang ở Düsseldorf," anh nói.
"Ở đâu?"
"Ở Đức. Ở Düsseldorf." Lần này chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp. Angela còn đang mơ màng, không thể nói tiếng Đức.
"Anh không ở Cannes?"
"Không. Anh buộc phải về."
"Anh không gọi trước cho em."
"Anh không đủ can đảm."
"Hôm qua cảnh sát hình sự đã đến chỗ em. Họ tìm anh. Sau khi anh rời khỏi chỗ em, anh đã biến mất. Anh đi đâu vậy?"
"Đi đến một quán bar, rồi đến chỗ một con điếm," anh nói, "Kilwood đã bị giết."
"Chuyện đó em biết. Anh nghĩ ở đây đã xảy ra chuyện gì nào? Phóng viên, phóng viên. Từ khắp thế giới. Luật sư của Kilwood. Cảnh sát Mỹ. Nhưng mọi thứ đều được giữ bí mật. Báo chí chỉ đưa tin về vụ giết người, rõ ràng là để tránh một vụ bê bối. Ôi, Robert, sao anh lại lừa dối em?"
"Anh đã nói sự thật với em."
"Vâng, đến cuối cùng. Nhưng ban đầu anh đã nói dối."
"Giờ anh không nói dối nữa, Angela," anh nói, "Anh không ở bên vợ anh nữa. Anh đã rời bỏ cô ấy..."
"Ôi, lạy Chúa," Angela nói.
"Anh gọi từ một khách sạn," anh nói cho cô biết đó là khách sạn nào, cho cô số điện thoại.
"Đợi đã. Đợi đã. Em phải lấy kính của em đã... lấy chút đồ để viết... số là bao nhiêu?"
Anh nói lại từ đầu, cô ghi chép lại.
"Anh đã rời bỏ vợ mình, để em thấy, anh nói thật với em. Anh không còn yêu vợ mình nữa, đã lâu rồi không còn yêu nữa. Ngày mai anh sẽ tìm luật sư - ý anh là hôm nay - để nộp đơn ly hôn. Dĩ nhiên, anh chịu trách nhiệm về việc ly hôn."
Angela nghe xong im lặng một lúc lâu, anh thậm chí còn tưởng cô đã cúp máy.
"Angela!"
"Ừm." Giọng cô nhỏ như tiếng thì thầm, "Anh lại đến đây nhé, Robert..."
"Được, Angela, được," anh nói, lúc này cơn đau trong cơ thể anh tiêu tan, như thể bị một phép màu thổi bay đi.
"Khi nào anh đến?"
"Anh còn chưa rõ."
"Sớm không?"
"Anh sẽ cố nhanh nhất có thể. Nhưng anh còn chưa biết nhanh đến mức nào. Anh có việc ở đây. Tối mai anh lại gọi cho em, được không?"
"Anh gọi lúc nào cũng được," Angela nói, "Sáng, tối, đêm, rạng sáng, giống như bây giờ vậy. Em sẽ luôn ở nhà, đợi điện thoại của anh. Anh cảm thấy thế nào?"
"Kinh khủng," anh nói, "Rất hạnh phúc, hạnh phúc vô cùng. Cả hai đều có."
"Em cũng vậy," Angela nói, "Em cũng vậy, Robert. Nhưng đặc biệt sợ hãi. Chúng ta làm thế này là không đúng."
"Chẳng có gì không đúng cả, anh nói với em, cuộc hôn nhân của anh chỉ còn lại vẻ ngoài giả tạo."
"Vâng, điểm này bây giờ em tin rồi. Nếu không thì bây giờ em cũng chẳng thèm để ý đến anh. Nhưng điều đó vẫn không đúng."
"Không phải đâu," anh nói.
"Là có đấy!" Angela nói, "Chúa sẽ trừng phạt chúng ta vì điều đó."
"Vì chúng ta yêu nhau?" anh hỏi.
"Anh biết tại sao mà," Angela nói, "Anh không thể đánh cược với Chúa được."
"Nhưng anh cũng không thể làm cách nào khác, chỉ có thể làm thế này," anh nói, "Kể từ khi anh yêu em, không thể được nữa, Angela."
Lại một khoảng lặng vô tận. Ống nghe điện thoại phát ra tiếng nhiễu.
Sau đó cô nói: "Em cũng không thể, Robert," Angela nói, "Em cũng không thể làm cách nào khác."
"Mọi thứ sẽ có lợi cho chúng ta," anh nói. Cô im lặng không đáp.
"Em không tin sao?"
"Không," cô nói, "nhưng em thực sự muốn tin vào điều đó. Anh say rồi, đúng không?"
"Đúng," tôi đáp, "say dữ dội."
"Em ước gì mình cũng có thể say," Angela nói, "Vậy thì để tối mai nói tiếp. Em đợi điện thoại của anh, Robert. Em..." Rồi đường dây đột ngột ngắt quãng. Tôi cân nhắc việc gọi lại một cuộc nữa, nhưng sau đó tôi bỏ cuộc. Tôi ngồi đó, gác hai chân lên bàn, uống rượu và nhìn ra vô số ánh đèn trên phi trường. Những ánh đèn ấy khiến tôi nhớ về Cannes. Một chiếc máy bay bay thẳng qua phía trên khách sạn. Tôi thấy đèn hiệu của nó nhấp nháy lao thẳng về phía mình, sau đó phi công đột ngột kéo cao độ, nhưng tiếng động cơ phản lực nghe rất khẽ. Tôi bỗng thấy mọi thứ đều không chân thực, chẳng có chút gì chân thực cả —