“Khách sạn Austria” rất nhỏ và cũ kỹ, là một khách sạn giá rẻ. Bà Benis hẹn chúng tôi bốn giờ, chúng tôi đến đúng giờ, nhưng người gác cổng bảo rằng trong phòng bà Benis vẫn còn khách. Mọi thứ trong khách sạn này đều vô cùng chật hẹp, Angela và tôi ngồi vào một căn phòng không khí tù đọng, ngột ngạt. Tôi cố mở cửa sổ nhưng chốt đã bị kẹt cứng. Tôi bị đau đầu. Chiều hôm đó trời oi bức, một con ruồi béo cứ vo ve không ngừng trên mặt kính. Tôi ngày càng bồn chồn, đi ra hành lang, hỏi người gác cổng xem có thể mang cho chúng tôi chút gì uống không. Ông ta nói được, tôi gọi bia. Người gác cổng mang đến hai chai, rót đầy cốc. Bia đã ấm. Tôi muốn phàn nàn nhưng Angela lắc đầu, thế là tôi thôi, không uống bia nữa. Tôi bắt đầu đổ mồ hôi, cơn đau đầu tăng thêm. Angela tháo nhẫn cưới ra, cất đi.
“Không nên đưa ra bất kỳ gợi ý nào cho bà thầy bói.” Cô ấy nghiêm túc nói.
Bốn giờ rưỡi, một đôi vợ chồng trẻ cuối cùng cũng từ chiếc thang máy kiểu cũ lắc lư trong sảnh đi xuống. Tôi cứ tưởng hai người này chỉ đến đây để ngủ, nhưng họ trông như khách hàng của bà Benis, vì người gác cổng nói bây giờ chúng tôi có thể lên tìm bà ta. Ông ta khởi động một chiếc thang máy gỗ, lên tầng bốn, thang máy được lắp đặt trong một cái lồng sắt tối om, rung lắc, kêu cọt kẹt. Ông ta dẫn chúng tôi đến căn phòng bà Benis thuê. Trong phòng rất nóng, không khí ở đó cũng ngột ngạt kinh khủng. Trên giường nằm một con mèo lớn màu hổ phách. Bà Benis ngồi cạnh một chiếc bàn hình bầu dục ở giữa phòng, người béo mập, rất tầm thường. Trên bàn đặt một quả cầu pha lê lớn. Trước mặt bà ta trải ra một dãy bài. Angela và tôi ngồi cùng nhau, đối diện với bà Benis.
“Nói tôi là một bà thầy bói, đó là sai lầm.” Bà ta bắt đầu, “Mọi người đều nói như vậy, nhưng tôi không phải. Tôi là một phù thủy. Sau khi mắc bệnh viêm màng não lúc còn trẻ, tôi luôn không theo kịp ở trường, lúc nào cũng là người kém nhất lớp. Cuối cùng, một bác sĩ thần kinh kiểm tra cho tôi, vì tôi có đủ loại triệu chứng có thể xảy ra. Vị bác sĩ thần kinh đó nói với mẹ tôi rằng, tôi là một phù thủy, cả đời là vậy. Đối với một phù thủy, bà ta bao nhiêu tuổi không quan trọng. Tôi tám mươi sáu tuổi. Các người đã nghĩ đến chưa?”
“Chưa nghĩ đến.” Angela nói.
“Việc tôi làm rất tốn sức.” Bà Benis nói, “Mỗi ngày tôi không thể tiếp quá bốn khách hàng. Các người là những người cuối cùng. Sau khi chúng ta xong việc, tôi phải nằm nghỉ một tiếng.” Bà ta xoa thái dương. Chúng tôi không nói cho bà ta biết tên mình, cũng không nói cho bà ta biết mối quan hệ giữa chúng tôi.
“Người đàn ông trước.” Bà Benis nói, “Xin ông đặt một bàn tay lên bàn.” Tôi làm theo, bà ta mở mắt, dùng tay nhanh chóng chạm vào tay tôi. Tôi nhìn thấy dây thần kinh trên thái dương bà ta bắt đầu giật nảy. Tiếp theo, mắt bà ta gần như nhắm nghiền.
“Ông không phải người bản địa, thưa ông,” bà Benis nói, “nhưng ông sẽ định cư ở đây. Mãi mãi.”
“Khi nào?” Angela hỏi, vô cùng kích động.
“Xin đừng ngắt lời!” Bà Benis nói, nhưng bà ta vẫn trả lời câu hỏi này, “Năm nay sẽ đến mức độ đó. Ông có vướng bận, thưa ông... Tôi nhìn thấy ở một thành phố xa xôi có một người phụ nữ... Ông đã kết hôn, đúng không?”
“Đúng.”
Con mèo màu hổ phách kêu gừ gừ. Dưới lầu truyền đến tiếng ồn ào của giao thông bận rộn trên đại lộ Carnot.
“Nhưng ông đã rời bỏ vợ mình... Ông sẽ không bao giờ quay lại bên cô ấy nữa... Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy cô ấy nữa...”
Tôi liếc nhìn Angela. Cô ấy tỏ ra hoàn toàn bị thu hút, gần như không chú ý đến cái liếc nhìn của tôi. Cô ấy nhìn chằm chằm vào bà Benis đang nói chuyện một cách khô khan.
“Không, ông sẽ không bao giờ nhìn thấy vợ mình nữa... Đây là một người phụ nữ khác, ngay bên cạnh ông... Ông yêu người phụ nữ này, ông yêu người phụ nữ này... Hai người các người sẽ sống cùng nhau... Đúng... cùng nhau...” Bà ta dừng lại. Tôi thấy ngón tay bà ta tím tái. Điều này để lại ấn tượng sâu sắc cho tôi. Bà Benis khó nhọc nói: “Không gì có thể chia cắt hai người các người... Tôi nhìn thấy rất nhiều tiền...” Chà, tôi nghĩ. “Đúng, đúng, vì một việc nào đó ông sẽ nhận được một khoản tiền lớn.”
“Là việc gì?”
“Nó nằm trong bóng tối, tôi không thể nhìn thấy nó... Tôi cố gắng...” Mạch máu trên thái dương đập mạnh hơn, móng tay sắp chuyển sang màu đen. “Tôi nhìn thấy hồn ma... người chết... người bị hại... bên cạnh có rất nhiều tiền, rất nhiều tiền cho ông, thưa ông... Tôi nhìn thấy áo khoác trắng... rất nhiều áo khoác trắng... năm nay sẽ có một người chết, như vậy ông mới có khả năng kết hợp với người tình của mình... Không ai, không gì có thể chia cắt các người... Tôi nhìn thấy hạnh phúc... hạnh phúc rất lớn... mưa... mưa bão... một nghĩa trang... tôi không thể nhìn rõ nó, mưa quá lớn... đang chôn cất ai đó... nhìn thấy ông rồi, thưa ông, trong mưa...”
“Tất cả những điều này đều sẽ xảy ra trong năm nay?” Tôi hỏi, nghĩ đến việc Karin có sức khỏe rất tốt, liệu cô ấy có muốn tự sát không? Không, không phải Karin. Liệu tôi có chết vì cắt cụt chi không? Nhưng nghe nói sau cái chết này, tôi sẽ có được tình yêu của mình một cách hạnh phúc và tự do! Điều này không thể là tôi, cũng không thể là Angela.
“Người chết này, ông ta là ai?” Tôi hỏi.
“Điều này tôi không hiểu...” Benis lại dùng tay vuốt ve tay tôi, “Ông có liên quan đến điều tra không?”
“Ý bà hỏi là gì?”
“Giống như cảnh sát điều tra cái gì đó, chỉ là ông không làm trong cảnh sát.”
“Đúng.” Tôi nói.
“Ông sẽ không cần phải tiến hành loại điều tra này nữa. Ông sẽ có đủ tiền, rất nhiều tiền. Ồ, đúng rồi... người chết này... ông đợi chút... đây là một con đường... một chiếc xe hơi...”
“Một vụ tai nạn giao thông?”
Bà ta mở mắt. Khuôn mặt bà ta hốc hác xuống.
“Điều này tôi nói không rõ.” Bà ta nói, “Xin ông tha lỗi, đợi một lát, việc này thực sự rất mệt.” Bà ta rời đi, rót nước từ một chiếc bình thủy tinh bụng lớn vào một cái cốc, uống như thể khát khô. Vài phút sau bà ta hồi phục. Móng tay bà ta đã trở lại màu sắc bình thường. Bây giờ, Angela phải đặt một bàn tay lên bàn.
“Cô là người bản địa, thưa bà... Cô cũng sẽ ở lại nơi này... Lạy Chúa tôi... cô chính là người phụ nữ sẽ kết hợp mãi mãi với ông ấy!”
“Ngay trong năm nay sao?”
“Ngay trong năm nay,” bà Benis nói, “mãi mãi vĩnh viễn... Tôi nhìn thấy một lễ hội lớn... âm nhạc... mọi người mặc trang phục lộng lẫy... mọi người đang ăn mừng cái gì đó... đó là một quả pháo... bây giờ tôi nhìn thấy hai người các người rồi... cô rất hạnh phúc... cô hút thuốc quá nhiều... khi trời mưa, xin cô hãy cẩn thận, thưa bà... trong mưa rất dễ xảy ra chuyện...”
“Với xe cộ sao?”
“Cả với xe cộ... cô độc thân, không vướng bận... người chết đó lại xuất hiện, tôi không thể nhận ra ông ta... lại có rất nhiều áo khoác trắng... một phòng phẫu thuật... một cái chết, nó mở đường cho hai người các người...” Tôi nhìn thấy, móng tay của bà Benis lại chuyển sang màu xanh lam. “Đó là một nhà thờ nhỏ... hai người các người ở trong đó... một chiếc xe bị kéo ra từ dưới nước... một người chết ngồi sau vô lăng...”
“Ông ta là người chết đó, ông ta...”
“Điều này tôi không thể nhận ra... rất nhiều cảnh sát... tên cô có bắt đầu bằng chữ A không?”
“Có...”
“Mưa... mưa... cô phải cẩn thận với mưa... con số may mắn của cô là mười ba...”
Điều này thật tuyệt vời, tôi nghĩ. Bà Benis thực sự đã đưa ra cho Angela cùng một lời tiên đoán như bà ta đã nói với tôi. Ngay trong năm nay, chúng tôi sẽ mãi mãi kết hợp.
Cuối cùng, bà ta lại yêu cầu tôi rút bài từ những trò chơi khác nhau.
“Đây chỉ là để kiểm tra xem tôi nhìn có đúng không.” Bà ta nói. Tôi rút bài từ những quân bài khác nhau. Chúng có những hình vẽ và ký hiệu kỳ lạ mà tôi không biết. Có một lá bài cứ xuất hiện, bà Benis giải thích, đây là lá bài tử thần. Khi Angela rút bài, lá bài tử thần đó cũng cứ xuất hiện.
Cuộc trò chuyện kết thúc tại đây. Bà ta đòi năm mươi franc. Bà ta máy móc chào tạm biệt chúng tôi, trông có vẻ rất đau đớn. Chúng tôi đi chiếc thang máy rung lắc xuống lầu, lái xe đến khách sạn “Majestic”. Ở góc “của chúng tôi”, chúng tôi uống chai sâm panh “của chúng tôi” vào buổi tối, Angela lại đeo nhẫn vào.
“Em vô cùng chấn động.” Cô ấy nói, “Anh cũng vậy sao, Robert?”
“Đúng.” Tôi nói, nhìn xuống con đường có nhiều cây cọ và hoa và biển sau con đường đó, “Anh cũng vậy.”
Cả hai chúng tôi đều im lặng không nói gì.
Cuối cùng Angela nói: “Chúng ta quá đáng thật, lại đi tin lời một bà thầy bói.”
“Em chắc chắn chứ, thợ làm tóc của em không nói gì với người đàn bà này về chúng ta sao?”
“Em đã đặc biệt yêu cầu cô ấy đừng làm vậy. Cô ấy đã đảm bảo với em. Không, bà Benis không biết gì về chúng ta cả! Vì vậy em mới kinh ngạc như thế. Ví dụ, làm sao bà ta có thể nhận ra nghề nghiệp của anh?”
“Phải đấy, làm sao nhận ra được nhỉ?” Tôi nói.
Chúng tôi uống rượu, im lặng, rồi Angela nói với giọng gần như không thể nghe thấy: “Ước gì chúng ta đã không tìm đến người đàn bà đó, Robert.”
“Anh cũng vậy.” Tôi nói.
“Anh cảm thấy đau đớn, đúng không?”
“Đúng,” tôi nói, “rất đau đớn.”
“Giống như em. Nếu hai chúng ta năm nay còn hạnh phúc, mà một người khác chết đi, mở đường cho chúng ta, thì chỉ có thể là...”
“Đúng,” tôi nói, “chính là như vậy.”
“Nhưng em không muốn thế! Nếu việc này thực sự xảy ra, em tuyệt đối không thể chịu đựng được! Em... em cảm thấy như đây là trách nhiệm của em!”
“Anh cũng vậy. Vì thế, chúng ta mới đau đớn đến vậy.”
“Nếu bây giờ chúng ta tin vào những điều người đàn bà đó nói với chúng ta - rằng nó sẽ xảy ra, làm sao chúng ta có thể hạnh phúc được? Không, Robert, không, việc này em không chịu nổi!”
“Chúng ta vốn dĩ không tin người đàn bà này! Thợ làm tóc của em đã tiết lộ tất cả! Sau đó, người đàn bà này muốn nói với chúng ta vài lời hay ho, dù sao chúng ta cũng đã trả tiền cho bà ta.”
“Một vài lời hay ho.” Angela nói, toàn thân run rẩy.
“Chúng ta không tin bà ta! Tất cả những điều này đều là dối trá và lừa bịp, Angela! Chúng ta cứ như vậy cũng sẽ kết hợp và hạnh phúc - không có cái chết, không có áo khoác trắng.”
“Đưa anh đi gặp người đàn bà này, là lỗi của em. Nhưng em không biết bà ta sẽ nói gì.”
“Em phải quên nó đi, Angela.”
“Vâng,” cô ấy nói, “em phải quên nó đi. Ôi, Chúa ơi, em hy vọng em có thể quên nó đi, Robert!”
29
Biệt thự nhà Fabian ở khu Gabre, trên phố Cava. Tòa nhà lớn này được sơn màu vàng kim, nằm trong một khu vườn lớn. Phía hướng ra đường, những cây cối được cắt tỉa cẩn thận chắn tầm mắt của những kẻ tò mò. Đó là một biệt thự phong cách hiện đại, tối đa mười năm. Mọi thứ đều trông mới tinh, đắt tiền và sang trọng. Giữa các luống hoa có một hồ bơi hình quả thận. Tôi bấm chuông ở cổng vườn, báo tên mình qua hệ thống liên lạc, nói rằng tôi đã hẹn với ông Fabian lúc mười một giờ. Thế là có tiếng vo ve, cánh cổng bật mở, tôi có thể vào trong. Tôi đi qua khu vườn có những cây cọ rất đẹp hướng về phía ngôi nhà. Một người hầu mặc đồ trắng đón tôi.
“Xin ông ngồi bên hồ bơi, thưa ông Lucas, chỉ một lát thôi.”
“Tôi không thể vào nhà sao?”
“Xin ông hãy làm ơn, đợi ở bên hồ bơi.”
Vậy thì tôi sẽ làm ơn. Bên hồ bơi có những chiếc bàn trắng, ghế mây và ghế nằm. Tôi ngồi vào một chiếc ghế mây để đợi. Tôi đợi không chỉ một lát, kéo dài hai mươi phút, mới có người từ trong biệt thự đi ra. Đó không phải Fabian, mà là vợ ông ta, Bianca, cô gái “Lido” ngày trước. Cô ta dáng người mảnh khảnh, tự tin đi về phía tôi. Tôi đón cô ta. Bianca mặc một chiếc áo choàng tắm trắng. Cử chỉ quá thân mật, bán buôn ngày hôm nay không thấy đâu nữa. Cô ta tỏ ra kiêu ngạo lạnh lùng - điều này cũng hơi quá đáng.
“Chào ông, ông Lucas.”
“Chào bà. Tôi muốn nói chuyện với chồng bà. Tôi hẹn với ông ấy lúc mười một giờ, bây giờ là...”
“Chồng tôi không thể nói chuyện với ông.”
“Cái gì?”
Cô ta đi qua người tôi, tiếp tục đi về phía hồ bơi. Tôi đi theo sau cô ta. Bianca cởi áo choàng tắm bên hồ bơi. Cô ta mặc một bộ bikini nhỏ làm bằng vải trắng phát sáng. Cô ta trông có vẻ hơi khiêu dâm. Cô ta ngồi vào một chiếc ghế sofa, kéo lại một chiếc bàn nhỏ có thể di chuyển được với nhiều ngăn kéo, lấy kem chống nắng từ một ngăn kéo ra. Cô ta vừa nói chuyện vừa bôi lên những phần cơ thể không bị vải che phủ, phần bị vải che phủ rất ít.
“Chồng tôi sẽ không tiếp ông, ông Lucas.” Cô ta tự đắc nói, điều này mang lại cho cô ta sự khoái cảm thực sự. Cô ta bôi dầu lên da mình bằng những động tác lớn.
“Lời này có ý gì?”
“Ý này nghĩa là ông ấy không muốn giao thiệp với ông. Tôi cũng vậy, ông Lucas. Tôi chỉ giúp chồng tôi thực hiện cuộc trò chuyện cuối cùng này với ông.” Cô ta để từng từ tan chảy trên đầu lưỡi, cánh mũi cô ta phập phồng, tất cả những điều này đối với cô ta chắc chắn cũng giống như cực khoái vậy.
“Bà, bà nghe đây, tôi không hề vui vẻ gì khi đến đây...”
“Tôi cũng không.” Cô ta nói.
“...bởi vì tôi muốn làm rõ cái chết của ông Hermann.”
“Đây là việc của cảnh sát. Nếu là người của cảnh sát đến, chồng tôi sẽ tiếp. Không tiếp ông. Xin hãy bôi lưng cho tôi.”
Nghe như một mệnh lệnh.
Tôi không nhúc nhích.
“Ông không nghe thấy sao? Tôi nói muốn ông bôi lưng cho tôi.”
“Điều này tôi nghe thấy,” tôi nói, “nhưng tôi sẽ không làm vậy. Tôi xin bà bây giờ hãy nói thẳng ra, chuyện gì đã xảy ra ở đây.”
“Nói thẳng, rất sẵn lòng.” Bianca Fabian nói, “Theo chúng tôi biết, ông đã kết hôn ở Đức.”
“Phải. Thế thì sao?”
“Ở Cannes đây, ông sống cùng bà Delphia, giống như ông đã kết hôn với cô ấy vậy. Ông đi khắp nơi với cô ấy, hai người các người -” cô gái Lido cuối cùng cũng nói ra miệng, “ôm hôn cuồng nhiệt ở nơi công cộng. Ông tặng cô ấy nhẫn cưới, mặc dù ông vẫn chưa ly hôn. Ông sống ở nhà bà Delphia. Ông có mối quan hệ yêu đương với cô ấy, cả thành phố đều đang bàn tán về việc này. Nếu bà Delphia không bận tâm đến điều này - đó là việc của cô ấy. Ông cũng không bận tâm đến xã hội sao?”
“Đúng.” Tôi nói, thầm nghĩ, bây giờ âm mưu bắt đầu rồi.
“Điều này tôi không tin.” Bianca nói, “Nếu tôi yêu cầu ông bôi lưng cho tôi, thì ông sẽ làm chứ?”
Tôi cầm kem chống nắng, bôi lên tấm lưng mịn màng, xinh đẹp của cô ta. Cô ta thoải mái vươn người vặn vẹo. Cô ta đã chiến thắng.
“Chúng tôi không phải những kẻ hợm hĩnh, ông Lucas. Chúng tôi chúc hai người hạnh phúc.”
“Vậy sao, các người làm vậy sao?”
“Đương nhiên là vậy. Đặc biệt là tôi. Người phụ nữ nào không hiểu một tình yêu vĩ đại chứ? Nhưng đây là một việc khác. Một người làm xấu hổ nhục nhã với một người phụ nữ như bà Delphia, người như vậy không thể nói chuyện với chồng tôi. Địa vị của chồng tôi cấm ông ấy làm như vậy.”
“Ồ, cấm sao?”
“Đúng, cấm.”
“Bây giờ liên quan đến giết người. Liên quan đến nhiều vụ giết người, bà Fabian.”
“Chính vì liên quan đến việc rắc rối như vậy, ông không còn là đối tác trò chuyện của chồng tôi nữa. Ông trộn lẫn nhiệm vụ của mình và cuộc sống riêng tư của mình vào nhau, ông Lucas. Loại chuyện này thật không thể tưởng tượng nổi. Đúng, chỗ này cũng bôi, xin lỗi, à, thật thoải mái.” Tôi ném kem chống nắng lên bàn nhỏ. Tôi cảm thấy máu dồn lên mặt. Tôi nói: “Vậy thì tôi phải yêu cầu thanh tra Roussel và giám sát Laclos, thay tôi đến đây nói chuyện với chồng bà.”
“Không phản đối ông làm vậy.” Bianca kéo phần trên của bộ bikini xuống sâu, cầm kem chống nắng lên, bắt đầu bôi lên da ngực của cô ta. Lúc này, mảnh vải mỏng manh kia trượt xuống hết. Cô ta để lộ ngực ngồi trước mặt tôi - chỉ một lát, rồi cô ta lại kéo phần trên lên. “Ông không nhìn thấy gì cả, đúng không?”
“Nhìn thấy, đương nhiên là nhìn thấy.” Tôi tức giận nói.
“Đẹp không đẹp?” Bianca Fabian hỏi. Đôi mắt cô ta nheo lại thành khe hẹp. Người phụ nữ này rất giỏi trò này. Rõ ràng cô ta đã diễn xong, vì cô ta hét vào mặt tôi: “Ông có thể đi được rồi! Ông, ông Lucas!”
Tôi không chào hỏi, quay người đi, đi qua bãi cỏ, đi lên con đường rải sỏi dẫn đến cổng vườn. Một lát sau tôi lại quay người nhìn lại, Fabian đã đi đến bên cạnh vợ ông ta. Cả hai người họ tiễn tôi bằng ánh mắt.
Ngực của Bianca lúc này lại không còn gì che đậy nữa.
30
Tôi đi xuyên qua biệt thự, đi một quãng rất dài, cho đến khi tôi đến một quán bar nhỏ. Tôi bước vào, gọi một ly rượu hồi, gọi điện đến khách sạn “Majestic”. Có tin nhắn để lại cho tôi không?
“Có, thưa ông.” Một người gác cổng nói, giọng ông ta nghe có vẻ kích động một cách kỳ lạ, “Ông Laclos đã gọi điện đến. Một khi ông liên lạc, xin hãy đến bến cảng cũ ngay lập tức.”
“Đến văn phòng của ông ấy sao?”
“Không, trực tiếp đến bến cảng cũ. Ông sẽ nhìn ra đi đâu.”
“Lời này có ý gì?”
“Theo tôi biết, ở đó đã xảy ra một vụ tai nạn giao thông.” Người gác cổng nói. Ông ta mang lại cho người ta một ấn tượng mơ hồ mà tôi không thể giải thích được.
Tôi gọi điện cho một chiếc taxi, khi tôi uống hết ly rượu hồi của mình, một chiếc xe dừng lại trước cửa quán bar nhỏ. Ở cửa có một tấm rèm hạt, khi tôi đi xuyên qua nó, nó kêu lanh lảnh khẽ khàng.
“Đến bến cảng cũ.” Tôi bảo tài xế.
“Được, thưa ông.”
Bến cảng cũ đã bị cảnh sát phong tỏa. Ở đây chen chúc rất nhiều người xem náo nhiệt. Ban đầu cảnh sát không chịu cho tôi qua. Tôi báo tên mình, đưa hộ chiếu ra.
“Xin lỗi, ông Lucas. Những người đứng đầu ở phía trước đó. Xin...”
Đây là ở phía tây bến cảng nội đô, trên bến cảng Saint-Pierre. Tôi nhìn thấy tòa nhà màu đỏ nhạt của “Cảnh sát an ninh”, sòng bạc mùa đông đó, ở phía đối diện - cách khá xa. Bến cảng rất lớn. Từ bến cảng nhỏ ở giữa có tàu máy chạy đến quần đảo Lérins, rất nhiều tàu đánh cá và tàu lớn hơn đậu ở đó. Tôi nhìn thấy, hai chiếc cần cẩu đi qua. Dây cáp thép của chúng biến mất trong nước. Xung quanh đậu rất nhiều xe cảnh sát. Tôi phát hiện ra Laclos, Roussel và Dillman trong đám đông.
“Chuyện gì đã xảy ra?”
Laclos lao về phía tôi.
“Tạ ơn Chúa!” Ông ta kích động ôm chặt lấy tôi, “Ông còn sống! Hóa ra là một lời nói dối!”
“Lời nói dối gì?”
Roussel và Dillman đi tới, khuôn mặt họ cũng tỏ ra vô cùng nhẹ nhõm.
“Chúng tôi nhận được một cuộc điện thoại nặc danh.” Roussel nói.
“Nói thế nào?”
“Người gọi điện nói, ông và xe của ông đã rơi xuống bến cảng nội đô.”
“Tôi?”
“Đúng, ông.”
“Ai lại nghĩ ra loại chuyện này?”
“Chúng tôi không biết, đó là một người đàn ông, đương nhiên đã cải trang giọng nói. Dù sao chúng tôi cũng lập tức xuất phát, bắt đầu tìm kiếm ở đây. Nước nhờn nhờn, bẩn bẩn, nhưng trong bến cảng nội đô quả nhiên có một chiếc xe. Là người nhái phát hiện ra.”
Một thợ lặn chui lên từ dưới nước. Anh ta đeo mặt nạ, trên lưng mang bình oxy. Anh ta ra hiệu cho tài xế cần cẩu.
“Họ đang thực sự buộc chặt dây cáp thép rồi.” Roussel nói.
“Họ là ai?”
“Dưới đó còn một thợ lặn nữa. Dây cáp thép cứ bị trượt ra. Chúng tôi hy vọng lần này thành công.” Thợ lặn lại biến mất trong làn nước nhờn nhợt. Tôi nghe thấy, hai chiếc cần cẩu bắt đầu hoạt động. Dillman đứng bên cạnh tôi. Anh ta trông mệt mỏi rã rời, không nói một câu nào.
Tất cả chúng tôi đều nhìn chằm chằm vào dây cáp thép, nó động đậy rồi. Tài xế cần cẩu kéo chúng lên vô cùng cẩn thận. Một lát sau, trong làn nước bẩn thỉu lộ ra nắp động cơ của một chiếc xe, rất nhanh, toàn bộ chiếc xe đã treo lơ lửng trên không trung, nước từ trong xe chảy ra ngoài. Đó là một chiếc Chevrolet cũ màu xanh lục đậm. Cần cẩu rung lắc. Chiếc xe di chuyển về phía chúng tôi, xoay qua đỉnh đầu chúng tôi, rồi hạ xuống, lạch cạch một tiếng, nhẹ nhàng rơi xuống bến cảng. Bên trong xe vẫn đang chảy nước ra ngoài. Chúng tôi vội vã chạy qua. Cửa sổ bên cạnh ghế lái đã được quay xuống. Một người đàn ông ngồi sau vô lăng,瘫 ra một đống, đầu tựa vào đệm. Ông ta vẫn nắm chặt vô lăng. Người này tóc thưa thớt, dáng người thấp béo. Trên thái dương trái có một lỗ nhỏ. Phía sau đầu ông ta bị lật tung ra, đó là nơi viên đạn bắn xuyên qua. Khi tôi nhìn thấy cái đầu vỡ nát này và óc não, tôi cảm thấy buồn nôn, dính đầy khắp nơi, sau đó tôi lớn tiếng nói: “Đây là Danon!”
“Ông ta là ai?” Laclos hỏi.
“Alain Danon, ông sẽ nhớ ra thôi! Gã ở ‘Cung điện Paris’ đó, ông ta ở trong căn hộ mà đáng lẽ Nicole Meunier đang đợi tôi. ‘Cung điện Paris’! Nơi tôi bị đánh! Nicole Meunier, cô ta muốn bán sự thật cho tôi!”
“Ông chắc chắn đây là Danon chứ?” Dillman hỏi. Anh ta lần đầu tiên lên tiếng, buồn bã, chậm chạp.
“Chắc chắn tuyệt đối! Gã này, sau đó gã trốn cùng với cô Meunier kia, mất tích rồi. Ông còn nói, không thể tìm thấy ông ta. Ông không nhớ sao, ông Laclos?”
"Tôi nhớ rõ như in." Người đàn ông thấp bé nói, "Giờ thì hắn lại xuất hiện rồi."
"Đúng vậy." Russell nói, gã nghiêng người nhìn vào trong xe, "Hắn bị bắn chết bởi đạn Dum-dum từ súng ngắn cỡ nòng lớn, giống hệt như Alain." Gã nhìn Dillman, "Đối với báo giới, đây cũng chỉ là một tai nạn nhỏ, phải không?"
"Đây là án mạng." Gaston Dillman bình thản nói, "Hãy nói với báo giới như vậy. Án mạng trong thế giới ngầm. Một kẻ sống bám vào gái mại dâm bị bắn chết. Có lẽ là thanh trừng giữa hai băng đảng. Thế là đủ rồi chứ?"
"Thế nào cũng đủ cả." Russell phẫn nộ nói, "Mọi thứ, thưa ông Dillman. Luôn là ông bảo chúng tôi chuyện gì đã xảy ra, rồi chúng tôi cứ thế mà truyền đạt lại."
Gaston Dillman chằm chằm nhìn gã, nhìn lâu đến mức Russell không thể chịu nổi ánh mắt đó nữa, đành quay đầu đi chỗ khác.
31
Tôi gọi một chiếc xe tuần tra của cảnh sát đưa mình đến khách sạn "Majestic", gửi một bức điện tín mã hóa cho Gustav Brandenburg. Tôi báo cáo cho ông ta những sự kiện mới nhất và yêu cầu chỉ thị. Khi có người gọi tôi nghe điện thoại, tôi vừa mới làm thủ tục gửi điện tín tại quầy tổng đài xong. Tôi bước vào bốt điện thoại, nhấc ống nghe treo trên tường lên.
"Tôi là Robert Lucas."
Một giọng phụ nữ, run rẩy, gần như không nghe rõ, nói: "Chúng ta quen nhau, thưa ông. Tôi từng muốn bán thứ gì đó cho ông - tại quầy bar trong khách sạn của ông, ông còn nhớ chứ?"
Nicole Monnier! Tôi không thể nào không nhận ra giọng nói này.
"Một đóa hồng đỏ." Tôi nói.
"Đúng." Giờ tôi nghe thấy cô ta đang khóc. "Ông có biết chuyện gì đã xảy ra không?"
"Tôi rất lấy làm tiếc." Tôi nói.
Tiếng nức nở càng lớn hơn.
"Chẳng lẽ tất cả đều vô ích sao? Anh ấy đi rồi, chỉ còn lại mình tôi, tất cả đều công cốc rồi sao? Không, không, không! Ông còn muốn mua thứ gì không, thưa ông?"
"Tất nhiên."
"Vậy ông phải đến chỗ tôi. Càng sớm càng tốt, vì tôi không thể ở nơi này lâu được. Tôi phải rời đi, đi thật xa, nhưng vẫn phải để ông có được thứ ông muốn trước đã. Tôi có nó, tất cả những gì ông cần."
"Cô đang ở đâu?"
"Ở Fréjus. Xin ông hãy gọi một chiếc taxi đến đây. Đi một mình! Tôi cảnh báo ông đấy! Nếu ông dẫn theo bất kỳ người nào của cảnh sát, nếu có ai bám đuôi ông, tôi sẽ không ở đây nữa. Tôi nói thật lòng đấy. Ông cũng phải vậy."
"Tôi sẽ đi một mình."
"Xin đừng nói với bất cứ ai về chuyến đi này!"
"Không nói với ai cả. Tôi nên đến đâu?"
"Số 121 đường Salvarelli, tìm Jules Luret. Nhưng ông không thể đi xe đến thẳng trước cửa nhà được. Hãy bảo tài xế taxi đưa ông đến Quảng trường Cũ. Ông có quen Fréjus không?"
"Không."
"Vậy ông phải hỏi thăm, không xa đâu. Nếu ông không xuống xe ở Quảng trường Cũ, lúc ông đến nơi tôi sẽ không còn ở đó nữa. Tôi cảnh báo ông đấy!"
"Cô đã nói câu đó một lần rồi."
"Tôi đang nghiêm túc đấy."
"Tôi sẽ làm theo lời cô."
"Xin hãy mang theo tiền."
"Bao nhiêu?"
"Một trăm nghìn. Lẽ ra chúng tôi muốn nhiều hơn, một triệu cơ. Nhưng tôi không thể chờ đợi thêm được nữa, tôi phải đi, có một trăm nghìn là tôi thỏa mãn rồi... Giờ thì Alain đã chết, tôi chẳng còn thiết tha gì nữa... Tôi không cần một triệu đâu."
Tôi có trong tay những tấm séc du lịch trị giá ba mươi nghìn Mark Đức mà Gustav Brandenburg đưa cho, lần trước trước khi khởi hành ông ta lại đưa thêm cho tôi hơn năm mươi nghìn Mark. Tôi đủ khả năng.
"Tôi có séc du lịch." Tôi nói.
"Không được." Nicole Monnier nói, đột ngột ngừng khóc, "Không dùng séc. Tôi đã bảo ông rồi, tôi phải rời đi. Séc ông có thể báo phong tỏa, hoặc ông có thể rút quá số dư. Tôi cần tiền mặt. Ông hãy đi đổi séc đi. Làm ơn làm theo lời tôi, nếu không thì ông đừng có đến làm gì."
"Ngân hàng đóng cửa vào buổi trưa. Tôi phải đợi đến hai giờ mới đổi được séc. Vậy chiều tôi sẽ đến tìm cô. Xin cô đừng mất kiên nhẫn."
"Tôi sẽ không mất kiên nhẫn đâu. Từ giờ trở đi, mỗi bước ông đi đều bị giám sát đấy, thưa ông. Ông hiểu chuyện này chứ? Tôi không muốn kết cục giống như Alain..." Giọng nói im bặt.
"Tôi hiểu." Nói xong, tôi cúp máy.
Tôi suy nghĩ một chút rồi gọi cho Angela. Cô ấy đang vẽ tranh.
"Chiều nay anh phải đi. Tối em đợi anh nhé."
"Khi nào?"
"Anh chưa biết chính xác thời gian."
"Quan trọng lắm phải không?"
"Anh nghĩ vậy."
"Cẩn thận nhé. Robert, làm ơn hãy cẩn thận!"
"Anh sẽ chú ý, tối gặp lại." Tôi nói rồi cúp máy.
Trước bữa trưa, tôi lên sân thượng, ngồi vào cái bàn ở góc "của chúng tôi" dưới bóng một mái che lớn, nhâm nhi rượu Gin pha Quinine, thầm nghĩ rằng hôm nay, chỉ vài tiếng nữa thôi, cuối cùng tôi cũng sẽ biết được sự thật về cái chết của Hermann. Tôi có một cảm giác rất chắc chắn. Biết được sự thật vào hôm nay, kết thúc vụ án này, chân trái của tôi vẫn còn sáu tháng. Trong sáu tháng tới sẽ xảy ra chuyện gì đây? Tôi nghĩ, những lời đồn đại về Angela và tôi đã lan truyền khắp Cannes. Bianca Fabian sẽ không từ thủ đoạn nào để chà đạp tình yêu của chúng tôi. Tôi nghĩ, khi tối về nhà, mình sẽ có cả một tá chuyện để kể cho Angela nghe.
Đồ uống rất lạnh, tôi đã yêu cầu cho thêm thật nhiều đá vào ly.
32
Fréjus cách Cannes khoảng ba mươi cây số. Tài xế taxi của tôi đi theo đường cao tốc bờ biển xanh Esterel, anh ta lái rất nhanh. Rời khỏi Cannes, chúng tôi đến Mandelieu, đi vào thung lũng Argentière. Chúng tôi băng qua ranh giới giữa Tanneron và Esterel, đi qua một con đập lớn ở phía dưới.
Tài xế taxi quay nửa người lại nói: "Malpasset. Ông nhớ chứ?"
"Nhớ gì cơ?"
"Năm 1959," anh ta nói, "ngày 2 tháng 12, một con đập trên ngọn núi đó bị vỡ. Hơn bốn trăm người chết."
"Đúng," tôi nói, "giờ tôi nhớ ra rồi, hồi đó người ta hay nhắc đến con đập gần Fréjus."
"Đấy," anh ta nói, "chúng ta sắp đến nơi rồi."
Anh ta quả là một tài xế taxi kiệm lời.
Chúng tôi đến thung lũng sông Reyran, sau đó, đường cao tốc xuyên qua vùng núi Esterel hoang vắng hiu quạnh. Những tảng đá đỏ rực cháy dưới ánh mặt trời. Cách Fréjus vài cây số, đường cao tốc kết thúc. Chúng tôi lái lên một con đường rộng lớn. Thành phố nằm cao hơn sông Reyran khoảng hai mươi mét, cách biển một cây số rưỡi. Tôi nhìn thấy một nhà thờ lớn kiểu Gothic và những lâu đài cổ rất đẹp. Tài xế rất vội. Chúng tôi nhanh chóng đi qua nhiều đống đổ nát, đoán chừng là từ thời La Mã - một nhà hát lộ thiên hình tròn, một cây cầu dẫn nước khổng lồ, chắc chắn phải cao hai mươi mét, bắc ngang qua thung lũng. Chiếc taxi băng qua bãi đất trống, xóc nảy chạy về phía một bức tường giữa đống đổ nát. Tài xế dừng lại ở đây.
"Xong rồi, Quảng trường Cũ đây, thưa ông."
Tôi xuống xe, trả tiền. Lúc về Cannes tôi muốn gọi một chiếc taxi khác. Tôi đứng trên quảng trường vắng lặng, đối diện với bức tường đổ nát, chờ xem có chiếc xe nào khác xuất hiện không, nhưng mọi thứ đều tĩnh mịch. Thành phố đang ngáy ngủ trong cái nóng buổi trưa. Tôi thử vận may đi ngược lại con đường chúng tôi đã đi đến quảng trường, thấy đó là đường Cannes. Dưới bóng một ngôi nhà, một người tàn tật đang ngồi trên mặt đất. Anh ta thiếu mất một chân, đang kéo đàn violin. Trước mặt anh ta đặt một chiếc mũ. Tôi chăm chú nhìn xuống mặt đường nhựa một lúc lâu, nếu người này có hai chân, thì cái chân bị thiếu đáng lẽ phải nằm ở đó. Anh ta thiếu chân trái. Tôi ném vài đồng xu vào chiếc mũ trống không, hỏi đường đến phố Salvarelli. Anh ta không ngừng kéo đàn, chỉ dẫn cho tôi. Tôi đi dọc theo đường Cannes về phía thành phố một đoạn, rồi rẽ trái vào đại lộ Paul Vernelin. Từ đây tôi có thể phóng tầm mắt nhìn ra phong cảnh tuyệt đẹp của Saint-Raphaël và Esterel.
Tôi dừng chân, thưởng ngoạn phong cảnh tuyệt đẹp đó, vì chân trái của tôi lại bắt đầu đau. Tôi nuốt hai viên thuốc rồi tiếp tục rẽ trái, sau đó rẽ phải vào phố Porte. Ở phía bên trái một quảng trường nhỏ, tôi nhìn thấy cổng thành. Đây là tàn tích của một công trình chắc chắn từng rất hùng vĩ. Người kéo đàn bị cụt chân đã kể cho tôi nghe về nó, nói rằng nó được xây dựng từ thế kỷ thứ tư, do người La Mã xây dựng. Chỗ hiện là bức tường đổ nát đó, trước kia từng là bến tàu. Ngay sau đó tôi đã đến phố Salvarelli. Ngoài gã ăn mày ra, tôi không thấy một bóng người, chỉ có hai con chó và một con mèo, chúng nằm trên nền nhựa đường dưới bóng những ngôi nhà cũ. Con mèo nằm rất yên tĩnh, hai con chó thè lưỡi, thở hổn hển đầy khó nhọc. Tất cả cửa chớp của các cửa sổ đều đóng kín. Tôi cảm thấy mình như đang rơi vào một thành phố chết.
Số nhà 121 chỉ có hai tầng, sơn một màu xanh xấu xí. Biển số nhà ghi đây là Tiệm giặt ủi hơi nước Luret. Cửa chính đóng chặt. Tôi đập mạnh vào tấm gỗ, đứng dưới nắng gắt, lấy khăn tay lau mồ hôi trên gáy và trán. Tôi đập cửa ít nhất năm phút mới có tiếng bước chân từ phía bên kia lại gần. Một giọng đàn ông vang lên: "Ai đó? Vui lòng cho biết tên."
"Robert Lucas."
Một chiếc chìa khóa xoay trong ổ, cửa mở ra. Một gã khổng lồ trẻ tuổi đứng trước mặt tôi, mặc áo thun bó, quần đùi, tất và giày, cơ bắp cuồn cuộn. Gã chắc chắn cao hơn tôi hai cái đầu.
"Robert Lucas à?" Gã hỏi.
"Có người đang đợi ông."
"Ai?"
"Cô Monnier."
"Ông tả cô ấy xem."
Tôi cố gắng mô tả cô ta. Khi tôi nhắc đến hàm răng xấu, gã khổng lồ gật đầu.
"Ông đi theo tôi." Gã đóng cửa sau lưng tôi, dẫn tôi qua một sân trong hình tứ giác, nơi để một chiếc xe tải cũ và nhiều máy móc gỉ sét hư hỏng, rồi dẫn tôi đến một cầu thang. Cầu thang nối lên một hành lang, chạy quanh toàn bộ sân trong ở tầng hai. Tôi thấy cửa chính và cửa sổ của các căn phòng đều hướng về phía hành lang này. "Cánh cửa đầu tiên sau khi ông lên trên. Gõ cửa ba cái, hai ngắn một dài."
Tôi leo lên chiếc cầu thang sắt gỉ sét. Mỗi bậc thang bằng sắt đều kêu lạch cạch, hành lang phía trên là bằng đá. Tôi dừng lại trước cánh cửa đầu tiên, gõ hai ngắn một dài. Cửa mở ngay lập tức. Nicole Monnier đứng trong khung cửa. Tôi lại nhận ra cô ta, nhưng cố gắng không để lộ sự kinh ngạc của mình. Cô ta không trang điểm, sắc mặt xám ngoét, mái tóc đen rũ xuống từng lọn. Đôi mắt khóc nhiều nên sưng đỏ. Giờ đây, Nicole Monnier không còn khóc nữa. Trên mặt cô ta phủ một lớp mặt nạ đờ đẫn. Trông cô ta như một bà lão.
"Mời ông vào." Nicole Monnier nói. Tôi bước vào một căn bếp thấp, bẩn thỉu và bừa bộn. Chúng tôi tiếp tục đi vào một căn phòng bẩn thỉu không dọn dẹp, bên trong đặt một chiếc giường đôi. Phía trên giường treo một bức tranh sơn dầu Chúa Jesus bị đóng đinh trên thánh giá. Có hai chiếc ghế không vững, một cái tủ và một cái bàn. Cửa chớp của cửa sổ đóng kín, trong phòng tối om và rất nóng. Nicole mặc một chiếc áo khoác màu xám, tôi nhận ra bên trong cô ta không mặc gì cả. Cô ta lập tức đi tới. Tôi cởi giày chân trái ra vì chân tôi đau dữ dội hơn.
"Chúng ta ngồi xuống đi." Nicole nói.
Chúng tôi ngồi xuống mép chiếc giường chưa dọn, trên chiếc ghế không vững bên cạnh bàn. Trên bàn chất đầy ảnh. Tôi cũng thấy một chiếc máy ghi âm nhỏ. Dây của nó nối thẳng vào ổ cắm gần đó.
"Chuyện đã xảy ra thực sự khiến tôi rất lấy làm tiếc." Tôi nói.
"Tôi cũng vậy." Nicole nói, "Alain là một tên khốn, nhưng tôi đã từng yêu anh ấy. Giờ anh ấy chết rồi, để lại mình tôi cô độc." Lúc này, khi nói chuyện, cô ta không còn cố che giấu hàm răng xấu xí của mình nữa.
"Cô định làm gì?"
"Rời đi." Cô ta nói, "Ông tưởng tôi đang đợi họ đến giết nốt tôi sao? Người ở đây là bạn của chúng tôi, căn nhà này thuộc về họ. Nhưng giờ tôi không thể ở lại được nữa."
"Cô muốn đi đâu?"
"Đi đâu cũng được. Đi thật xa, rời khỏi nước Pháp. Thế nên tôi cần tiền, ông mang đến chưa?"
"Rồi."
"Cho tôi xem."
Tôi cho cô ta xem những xấp tiền mặt tôi để trong chiếc túi da, chiếc túi là món quà Angela tặng.
"Ông có thuốc lá không?"
"Tôi không hút thuốc nữa." Tôi nói.
"Vậy cũng chẳng sao." Cô ta nói, "Vào việc chính đi. Ông đang vội, đúng không?"
"Đúng."
"Tôi cũng vậy." Nicole nói, "Ông nghe cho kỹ đây. Lần đó, khi tôi nói với ông ở khách sạn 'Majestic' rằng tôi có toàn bộ sự thật để bán, tôi cũng nói thật đấy. Lúc đó chúng tôi đã có nó rồi, Alain và tôi. Alain cử tôi ra mặt thương lượng với ông. Tôi đã định tiếp ông trong phòng suite ở 'Paris Palace', kể cho ông nghe tất cả, nhưng chúng tôi đã thấy ông bị đánh tơi tả thế nào."
"Các người đã thấy - Alain và cô?"
"Tôi đã nói rồi đấy. Thế nên Alain nghĩ, giờ không được, nguy hiểm quá. Nếu giờ anh ấy lên đó biết được mọi chuyện, làm ầm ĩ lên, thì chúng tôi lộ tẩy. Khi đó họ sẽ biết anh ấy biết được từ đâu."
"Họ là ai?"
"Những kẻ khác." Nicole nói.
"Những kẻ nào khác?"
"Trời đất, ông đợi chút đi!"
"Xin cô thứ lỗi."
"Thôi bỏ đi. Thần kinh tôi không tốt. Của ông cũng vậy, phải không?"
"Đúng."
"Tôi cũng nghĩ vậy." Người phụ nữ đó nói. Cô ta từng xinh đẹp biết bao trong ký ức của tôi, giờ lại cực kỳ tiều tụy. "Tất cả chuyện này tồi tệ quá, với ông cũng vậy. Phải làm sao đây? Tôi phải đi, vì thế tôi cần tiền của ông. Ông cần sự thật. Dù sao thì lúc đó Alain nói: 'Thế này không được. Để tôi tiếp gã này. Cô không có mặt.' Nhân tiện nói luôn, khi sau đó Alain dẫn ông đi xem nhà, tôi đang ở trong một cái tủ. Cái tủ gương trong phòng ngủ, ông nhớ chứ?"
"Chỗ đó tôi không nhìn vào trong." Tôi nói.
"Phía sau nó có một cánh cửa đẩy, sau cửa là một căn phòng nhỏ, nhìn từ bên ngoài không thấy được. Nó nằm giữa hai bức tường."
"Nếu tôi không bị đánh gục, các người sẽ nói chuyện với tôi trong phòng ngủ, còn Alain sẽ trốn trong căn phòng nhỏ sau tủ, đúng không?"
"Khi ông có khách, các người luôn làm vậy à?"
"Không phải lúc nào cũng vậy. Thường thôi. Khi chúng tôi muốn tống tiền ai đó, hoặc khi tôi sợ hãi. Dù sao thì sau khi ông đến thăm, Alain sợ rồi, nghĩ rằng chúng tôi phải trốn một thời gian. Chúng tôi chạy trốn khắp nơi, cuối cùng đến đây. Alain từ đây liên lạc với Seberg."
"Với ai?"
"Seberg, gã trong ngân hàng Hermann ấy, người mà ông quen!"
"Tất nhiên là tôi quen hắn. Nhưng Alain quen hắn..."
"Alain quen tất cả bọn họ, cả băng nhóm đó. Đó chính là thứ chúng tôi muốn bán cho ông. Ông không phải là một trong số họ! Alain luôn bảo quá nguy hiểm. Ông không nguy hiểm, ông sẵn lòng trả tiền - vì lợi ích của công ty ông." Nicole vuốt lại mái tóc xơ xác của mình. "Alain hồi đó đã nói thế. Sau đó anh ấy tự tin quá, muốn tống tiền Seberg một triệu, ít nhất là một triệu, ám chỉ Seberg qua điện thoại. Họ định gặp nhau ở bến tàu cũ, đêm hôm qua. Tất nhiên là Alain không mang theo thứ đó."
Nicole nhìn chằm chằm vào đôi bàn tay mình, sơn móng tay đã bong tróc, bàn tay rất bẩn. "Thôi bỏ đi." Cô ta nói.
Chân tôi bớt đau một chút.
"Cô nghĩ Seberg đã bắn chết Alain?"
"Chắc chắn không phải đích thân hắn! Chúng có người của chúng, một chuyên gia." Cô ta nghiêng người về phía trước, "Ông xem này, thưa ông, Alain và Argo là bạn, nhiều năm rồi."
"Ai?"
"Trời đất, Argo, gã người Algeria ở Boka ấy!"
"Hóa ra là hắn! Xin lỗi, chuyện gì vậy?"
"Một ngày nọ Argo đến tìm Alain, bảo anh ấy: 'Ông nghe này, có một mụ người Ý, muốn tôi giúp mụ ta lấy thuốc nổ, số lượng lớn. Trả mười nghìn.' Từ lúc đó, Alain bắt đầu quan tâm đến chuyện này."
"Từ lúc đó?"
"Đúng, từ lúc đó. Alain của tôi, anh ấy quen rất nhiều người. Ông hiểu mà, những người liên quan ấy. Đấy, anh ấy theo sát vụ này, chú ý xem mụ y tá lấy thuốc nổ làm gì. Ban đầu mụ ta chẳng sử dụng gì cả. Gã Hermann này đến Cannes, hoàn toàn sụp đổ. Alain cũng quan sát gã. Theo dõi gã khi gã lái xe chạy tới chạy lui - tìm Fabian, tìm Kilwood, tìm gã đồng tính Towell, tìm Tenedos, tìm Sagantana. Hermann không ngừng lái xe đi tìm những người này."
"Chỉ tìm họ thôi sao?"
"Câu này nghĩa là gì?"
"Cô có quên ai không?"
Cô ta suy nghĩ, rồi lắc đầu.
"Trapp thì sao?" Tôi hỏi.
"Ôi, hắn!" Nicole nói, "Đúng, hắn cũng có giao dịch làm ăn với Hermann, nhưng hắn không liên quan đến chuyện này. Tôi chắc chắn! Ông sẽ hiểu ngay tại sao. Hermann cứ chạy tới chạy lui như thế, cũng đến thăm bạn gái ông là bà Delphia. Bà ấy cũng không liên quan, chỉ là vẽ một bức chân dung cho hắn thôi. Đấy, tôi đã nói rồi, Alain quen rất nhiều người. Anh ấy quen một gã người Ý, cũng quen người hầu của Tenedos, gã Vittorio đó. Alain và Vittorio đã nói chuyện với nhau, Vittorio căm thù vợ chồng Tenedos."
"Đúng, vì Tenedos là tỷ phú."
"Không," Nicole nói một cách mạnh mẽ, "không phải vì chuyện đó!"
"Vậy vì sao?"
"Vì Tenedos là một con lợn! Một con lợn giống như kẻ sát nhân! Ông hiểu mà, Vittorio có thái độ rất rõ ràng về công lý và bất công, về thiện và ác. Thế nên, gã cũng nói gã muốn giúp Alain, không lấy một xu. Chỉ có gã mới giúp hạ gục được Tenedos, con cá mập này. Hắn để tủ lạnh sau cây đàn piano trong phòng khách, đêm đêm cùng mụ vợ già lấy trứng cá muối và sâm panh từ trong đó ra, con lợn nhát gan này! Vì hắn sợ, nếu hắn phô trương sự giàu sang của mình trước mặt họ, những người hầu dưới sự kích động của Vittorio sẽ giết chết hắn."
"Vittorio kích động những người hầu sao?"
"Chẳng cần thiết phải làm thế. Ông tưởng họ tự mình không có suy nghĩ gì chắc? Nhưng Tenedos sẽ không bị họ giết. Vittorio và những người hầu không phải là kẻ sát nhân. Kẻ sát nhân là người khác."
"Tôi không hiểu." Tôi nói.
"Ông đừng vội. Tôi giải thích cho ông. Tôi giải thích hết cho ông nghe. Vittorio căng một sợi dây mảnh trong phòng khách, lắp thiết bị ghi âm ẩn. Khi Hermann lại đến phòng khách nói chuyện với Tenedos, Vittorio ở trong phòng mình - dây điện nối thẳng đến đó - đã bật một chiếc máy ghi âm. Chính là cái đó đấy. Một cuộn băng đã ghi lại nội dung cuộc nói chuyện của Tenedos với Hermann. Băng ở trong này." Cô ta mở máy, "Ông tự nghe cái này đi. Thiếu phần đầu, Vittorio không bật kịp. Nhưng thế cũng đủ rồi." Cô ta nhấn một nút. Một giọng đàn ông vang lên...
"...Đã nói với ông hai lần rồi, tôi sẽ nói với ông lần thứ ba: Tôi không biết gì về công việc làm ăn bất hạnh của các người cả! Chuyện này tôi cũng đã nói với tất cả những người khác, đặc biệt là gã Kilwood kia. Cho đến đêm đó, tại 'Frankfurt Palace', người ta nói với tôi, tôi vẫn không hề biết gì. Ngày hôm đó tôi còn thức trắng đêm chạy đến ngân hàng, kiểm tra bộ phận ngoại hối. Đây là lần đầu tiên, lần đầu tiên đấy, ông hiểu không, Tenedos? Tôi được biết, nhiều năm nay, Kilwood nhân danh tất cả các người, lén lút sau lưng tôi làm những vụ gian lận bẩn thỉu lên tới hàng trăm triệu với Seberg! Nhân danh tất cả các người! Thế nên tôi mới chạy đến đây! Seberg, tên khốn này, tôi đã gửi điện tín sa thải hắn, chỉ tiếc là tôi không thể công khai ra ngoài."
"Giọng của Hermann." Nicole thì thầm.
Đây là một lời giải thích ngớ ngẩn, nhưng tôi gật đầu. Tôi cúi người trên máy ghi âm, giọng nói vang lên lúc này, tôi nhận ra, nó thuộc về Tenedos. Dưới đây là nội dung cuộc đối thoại giữa hai giọng nói này mà tôi ghi lại từ loa của máy ghi âm.
Tenedos: "Những gì ông yêu cầu, đúng là điên rồ! Ông không thể rút lại các giao dịch bảng Anh mà không để bất cứ ai phát hiện ra."
Hermann: "Tôi làm được! Tôi làm được!" Giọng nói nghe tuyệt vọng và lúng túng. Chính người này cũng không tin vào những gì mình nói, "Tôi phải đăng ký lại tất cả các con số, tôi phải sửa lại sổ sách cũ... Các người phải giúp tôi, vì tôi không để các người hủy hoại danh tiếng của tôi!"
Tenedos: "Tôi nói cho ông biết, không ai tin ông không biết gì về những giao dịch này đâu."
Hermann: "Tôi đang nói với những người trong cuộc có liên quan! Tôi có bạn bè là chủ ngân hàng trên khắp thế giới, những người giỏi nhất. Họ sẽ làm chứng, hành vi côn đồ của một tổng đại diện toàn quyền không có lương tâm, tự mình lãnh đạo bộ phận ngoại hối của ngân hàng lớn này. Hắn có thể thực hiện những giao dịch kiểu này bất cứ lúc nào mà không để chủ ngân hàng biết!"
Tenedos: "Xin ông đừng hét lớn như thế!"
Hermann: "Tôi còn phải gào to hơn nữa! Các người đã không bù đắp cho tôi khoản lỗ trong thương vụ vay vốn này. Seberg đã làm cái trò bẩn thỉu đó, cố tình giữ lại số bảng Anh mà không giao cho Ngân hàng Liên bang. Các người muốn hủy hoại tôi. Các người hy vọng rằng sau khi tôi hiểu ra mọi chuyện, tôi sẽ rơi vào đường cùng rồi tự bắn một viên đạn vào đầu mình. Như thế thì ngân hàng sẽ thuộc về các người và con lợn Seberg đó, vì các người có thể lái xe cán chết em gái tôi bất cứ lúc nào. Tôi yêu cầu các người, ngay bây giờ phải cùng tôi bù đắp khoản tổn thất này. Điều này tôi cũng đã nói với Killwood rồi."
Tenedos: "Vậy hắn ta trả lời thế nào?"
Hermann: "Hắn chỉ cười, bảo tôi cứ đi tự sát cho rồi."
Tenedos: "Chuyện đó cũng chỉ là buồn cười mà thôi."
Hermann: "Phải không? Buồn cười sao? Để xem, ai mới là kẻ cười! Tôi nói lần cuối cùng đây, Tenedos, tôi yêu cầu bù đắp khoản lỗ bằng đồng Mark Đức. Ngay lập tức! Bởi tất cả các người! Vì Killwood ra chỉ thị cho Seberg là do các người ủy thác."
Tenedos: "Bốn triệu chắc chắn không lấy được mạng của một kẻ như ông đâu."
Hermann: "Không, nhưng tám triệu thì có! Nếu tôi trả lại tất cả số bảng Anh cho ông với giá cũ, chuyển nhượng toàn bộ các thương vụ vay vốn sang cho các người, thì tôi cần số tiền đó. Tám triệu là con số tôi không thể chịu đựng nổi. Tất nhiên, tôi sẽ không bao giờ làm ăn với các người dù chỉ một chút nữa! Công ty Code có thể tìm ngân hàng khác."
Nicole nhấn nút "dừng".
"Còn phải nói chuyện kiểu này thêm một lúc nữa," cô nói. "Hermann gào thét, Tenedos thì quanh co, né tránh, không nói 'có' cũng không nói 'không'. Dù sao thì Alain cũng đã điều tra ra, có thể khẳng định: Hermann thực sự không biết gì về những giao dịch này, bằng chứng tốt nhất cho việc đó chính là thái độ kích động của ông ta." Nicole tua nhanh đoạn băng rồi dừng lại. Cô tìm kiếm, cuối cùng tìm thấy phần mở đầu của cuộc đối thoại thứ hai, nói: "Sau khi Hermann đến thăm Tenedos, gã người Hy Lạp này lại tiếp đón một vị khách khác, Sagantana. Họ lại nói chuyện trong phòng khách. Vittorio lại bật một cuộn băng khác. Vài câu đầu lại bị thiếu." Cô mở loa.
Tôi nghe thấy cuộc đối thoại này...
Sagantana: "...Mọi thứ theo kế hoạch, người anh em thân mến. Hermann đã chui vào bẫy của chúng ta, không còn gì tốt hơn thế nữa. Bây giờ làm gì tiếp theo, chúng ta đã bàn rồi. Tôi chỉ nhắc lại lần nữa vì thời gian không còn nhiều. Chúng ta tạm thời đừng từ chối thẳng thừng việc giúp đỡ Hermann. Hãy để hắn đến Corsica trước. Sau đó, khi hắn quay về, chúng ta sẽ thông báo tình hình cho hắn."
Tenedos: "Hắn sẽ không quay về đâu."
Sagantana: "Nếu trời giúp thì sẽ không, với điều kiện: bây giờ mỗi người làm đúng phần việc của mình trong chuyện này. Ông nói, ông đã để một người tuyệt đối tin cậy lấy thuốc nổ từ chỗ cô y tá. Người này tuyệt đối tin cậy chứ?"
Tenedos: "Tuyệt đối."
Sagantana: "Vì lợi ích của chúng ta, tôi chỉ có thể hy vọng là như vậy. Bây giờ tôi chỉ có thể hy vọng bất cứ ai trong chúng ta, khi đóng góp một phần vào hành động chung này, đều có thể thuê được một người hoàn toàn đáng tin cậy."
"Vì một vụ mưu sát chung," tôi nói.
Nicole gật đầu.
Tenedos: "Chuyên gia của tôi chế tạo thiết bị nổ hẹn giờ này. Mọi công đoạn, trừ phần điện. Phần đó do Towell phụ trách. Người của hắn lắp đặt phần điện để vật này có thể hoạt động. Nhưng phải thấy rằng vẫn có khả năng, ai đó lỡ lời hoặc muốn lỡ lời — một người trong chúng ta, ông đừng giận, hậu quả sẽ rất nghiêm trọng, một trong số những người đang hợp tác với chúng ta bây giờ, họ đều là lũ lưu manh — vì tồn tại khả năng đó, Killwood và ông chịu trách nhiệm thuê một sát thủ chuyên nghiệp, hễ ai có nguy hiểm là lập tức ra tay trừ khử."
Sagantana: "Chúng tôi đã tìm được một người như vậy."
Tenedos: "Hắn là ai?"
Sagantana: "Chuyện này tôi sẽ không nói với ông. Tôi chỉ nói, hắn là kẻ giỏi nhất. Tuyệt đối sẽ không có chút nghi ngờ nào đổ lên đầu hắn. Nhưng tôi không nói tên hắn cho ông biết. Ông cũng đừng nói tên người của ông cho tôi."
Tenedos: "Được, ông đừng nói cái tên chết tiệt đó. Chỉ cần sát thủ này biết nghe lời là được."
Sagantana: "Hắn biết nghe lời, điểm này ông cứ yên tâm!"
Tenedos: "Hai người Pháp mà Hermann gặp ở Corsica thì xử lý thế nào?"
Sagantana: "Clément và Abel sao?"
Tenedos: "Đúng."
Sagantana: "Chẳng liên quan gì đến họ cả. Hermann không thể nào giao dịch với họ, hoặc đưa ra dù chỉ một chút hứa hẹn, chừng nào hắn chưa giải quyết xong với chúng ta. Chính hắn đã nói với chúng ta, chuyến đi Corsica lần này là hơi thở cuối cùng để cứu mạng. Một khi hắn đã lên đường, chúng ta chẳng cần phải cân nhắc gì nữa. Tai nạn, tự sát, mưu sát — chỉ cần mỗi người chúng ta đều tham gia, mỗi người làm phần việc của mình, thì sẽ không bao giờ tra ra được. Chỉ cần sát thủ đó làm việc hiệu quả, kế hoạch loại bỏ Hermann của chúng ta sẽ thành công."
Nicole lại dừng băng. Cô tắt máy.
"Một vụ mưu sát chung," cô nói, "vâng, thưa ông, chính là như vậy. Mọi thứ đều thành công! Vụ nổ, sát thủ, Viala bị trừ khử, đoán chừng là vì hắn tìm ra manh mối dẫn đến gã người Algeria, kẻ tên Argo đó. Cô y tá bị giết vì cô ta có nguy cơ tiết lộ mọi chuyện. Họ cố gắng thủ tiêu ông, vì ông không còn là một kẻ gây khó chịu đơn thuần nữa. Họ đã giết Alain của tôi sau khi anh ấy đe dọa Seberg. Tôi luôn nói với Alain, anh ấy không nên giao dịch với những kẻ đó mà nên làm việc với ông, thà kiếm ít tiền còn hơn! Anh ấy không nghe lời tôi. Anh ấy chưa bao giờ nghe lời tôi. Kết cục là anh ấy chết..." Cô im lặng, nhìn tôi, ánh mắt như thể cô hoàn toàn không nhìn thấy tôi vậy. Bọn trẻ đang nô đùa dưới sân. Tôi nghe thấy tiếng cười vui vẻ của chúng.
"Đây là những bức ảnh gì?" tôi hỏi.
"À," Nicole lục lọi trong đống ảnh, "Alain đã bỏ nhiều công sức cho việc này. Anh ấy tìm ra kẻ lắp ráp phần đầu của thiết bị nổ hẹn giờ. Sau lưng mỗi bức ảnh đều có tên và địa chỉ." Cô đưa ảnh cho tôi, rồi cầm lấy một tấm khác, "Người này làm phần điện, tên và địa chỉ cũng ở mặt sau." Cô đẩy một xấp ảnh từ trên chiếc bàn bẩn thỉu qua, "Đây là ảnh họ gặp gỡ, cửa hàng của họ, cách họ mang theo đồ đạc lên đường. Alain đã hoàn thành một việc vô cùng phi thường."
"Việc gì?"
"Khi du thuyền 'Moonlight' neo đậu tại cảng Conto, luôn có hai thủy thủ ngủ trên boong. Alain vận động các cô gái điếm, thành công khiến những thủy thủ đó đưa họ lên tàu, uống rượu và ngủ lại đó. Alain đã lén ở trên tàu suốt mấy đêm liền. Anh ấy chờ đợi kẻ mang thiết bị nổ hẹn giờ đến và lắp đặt nó. Anh ấy chờ suốt ba đêm mới đợi được. Một kẻ đã đến. Alain đi chân đất lẻn theo hắn xuống buồng máy."
"Dưới đó chắc là không có đèn."
"Không có. Nhưng Alain có một chiếc máy ảnh hồng ngoại. Tia hồng ngoại là không thể nhìn thấy bằng mắt thường, nhưng nó đủ để chụp những bức ảnh hạng nhất. Alain đã chụp được kẻ giấu thiết bị nổ vào buồng máy. Chính là cô ta." Nicole đưa cho tôi bức ảnh cuối cùng.
Tôi nhìn thấy Hilde Hermann, người được gọi là 'Hilde Kim cương', em gái của Herbert Hermann. Cô ta đang ở trong buồng máy của một con tàu, bận rộn lắp đặt một chiếc hộp nhỏ—