Vừa mở mắt ra Ferrer đã nhổm dậy: cửa sổ con tàu vẽ một hình tam giác màu xanh – xám nhạt trên thành cabin. Trên chiếc giường ngủ nhỏ bé chật hẹp, quay lại phía thành tàu đối diện không dễ dàng gì, nhưng mãi rồi cũng quay lại được, Ferrer chỉ có ba mươi xăng-ti-mét đệm vừa đủ để nằm nghiêng, nhưng ít nhất thì sáng nay củng ấm hơn so với những buổi sáng khác. Anh ta định thay đổi tư thế nằm cho thoải mái hơn, cử động rất khẽ khàng, hy vọng có thể thay đổi được nhưng vô ích. Rồi cố gắng một lần nữa, cũng bằng chừng ấy cử động, nhưng mạnh thêm một chút để có phần đệm ấm hơn, rộng hơn nhưng một cú đẩy bất ngờ hất ngược anh ta ra phía sau: Ferrer ngã nhào ra khỏi giường. Cả sức nặng của cơ thể đè lên vai phải, tưởng trẹo vai, Ferrer run lập cập: mặt sàn lạnh khủng khiếp còn Ferrer thì trần như nhộng chỉ trừ chỗ đeo đồng hồ. Anh ta chống cả tay chân gượng đứng dậy, đưa tay lên cào mặt da đầy lông lá, rồi leo trở lại giường ngủ.
Ôi, mọi sự dường như đã thay đổi. Điều không dự kiến đã xảy ra. Trên chiếc giường ngủ lúc này, là cô y tá, một cô gái si tình đang trở mình và tiếp tục ngáy như sấm rền, giấc ngủ thật thoải mái. Làn da rám nắng của cô gái lúc này càng sẫm hơn, giàu màu sắc hơn lúc bình thường, một màu xám pha lẫn màu da cam. Hôm qua, chắc cô ta ngủ dưới đèn UV [8] lâu quá, tội nghiệp, và đã uống hơi quá chén một chút. Ferrer nhún vai, người vẫn run lên vì rét, anh ta nhìn đồng hồ, đã sáu giờ hai mươi phút sáng, đành khoác vội chiếc áo len.
Ferrer không cảm thấy thoải mái, nói thực như vậy, anh ta lo lắng thì đúng hơn. Lần cuối, anh ta đã đến phòng khám Feldman, một bác sĩ chuyên về tim mạch, ông ta đã lưu ý Ferrer phải cẩn thận với mọi loại thời tiết tới hạn: quá nóng hoặc quá lạnh, độ chênh lệch quá lớn, tất cả những điều đó là cực kỳ nguy hại đối với hệ thống động mạch vành. Cậu phải sắp xếp để có một cuộc sống ổn định phù hợp với thể trạng của cậu, Feldman đã nói như vậy. Không chỉ đoạn tuyệt hoàn toàn với chuyện hút thuốc là được mà đây là cả một chương trình rèn luyện sức khỏe, vệ sinh trong sinh hoạt cần được điều chỉnh ngay từ bây giờ. Thế nhưng Ferrer lại không cho ông bác sĩ biết chuyện đang sửa soạn một chuyến du ngoạn lên Bắc cực. Anh ta chỉ đề cập đến việc sắp tới có một chuyến đi công cán dài ngày, chứ không nói cụ thể đi đâu. Được thôi, ba tuần nữa hay một tháng cậu trở lại đây, Feldman nói, lúc đó là thời điểm cần phải làm điện tâm đồ cho cậu và tôi sẽ tìm ra những lý do để buộc cậu phải chấm dứt những điều ngu ngốc tai hại. Ferrer nhớ lại những lời cảnh báo ấy, đột nhiên như một cái máy, anh ta đặt tay lên vùng tim, áng chừng để kiểm tra xem tim mình có đập quá nhanh, quá chậm, hay là không được đều đặn, nhưng không, không thấy gì cả, mọi chuyện có vẻ êm xuôi cả.
Lúc này Ferrer cảm thấy đỡ lạnh hơn, có vẻ dễ chịu trong chiếc áo len, cái của quý đáng thương của anh ta bị nhiễm lạnh co rút lên tận phía trên. Để xoay trở sao cho khá hơn, anh ta đưa mắt nhìn lên cửa sổ thành tàu. Một tia sáng lấp lánh xa xăm giống như tia nắng mặt trời đột ngột ló rạng, đang phản chiếu những cánh én biển chao liệng giữa những tầng không. Trong thứ ánh sáng hiếm hoi đó, Ferrer cho rằng con tàu đã đi qua phần đất bị biển lấn sâu nằm phía bên tay trái đảo Southampton xám xịt như một đống cuội cũ kĩ: con tàu sắp đi vào con lạch hướng tới vịnh Wager Bay: Ferrer cởi chiếc áo đen và quay trở lại giường nằm.
Có thể nhận xét một cách dễ dàng rằng thân hình của cô y tá Brigitte thật cân xứng, và thật quyết đoán gần như vừa khít với toàn bộ chiều rộng của chiếc giường đơn: không còn một chút chỗ trống để có thể chen vào dù chỉ nằm nghiêng. Thôi đành trông cậy vào lòng can đảm vậy, Ferrer chọn cách tiếp cận chiếc giường bằng cách nhảy bổ vào nằm lên người cô y tá bằng tất cả sự tế nhị vốn có. Nhưng Brigitte bắt đầu làu bàu có vẻ không ưng thuận lắm. Cô ta lẩn trốn và kháng cự, có lúc Ferrer nghĩ là sắp đạt tới mục đích, rồi do tình cảm hay vì bị đánh lấn từng bước, cuối cùng cô y tá chấp nhận cuộc tình. Chiếc giường ngủ chật hẹp đã không cản trở cuộc tình. Cả hai lần lượt kẻ nọ nằm lên kẻ kia thay đổi vị trí cho nhau, thậm chí phải đảo chiều, nhưng như thế cũng tốt chán. Cả hai thư thã tận hưởng bởi hôm nay là chủ nhật, họ xoắn tít vào nhau, tìm cách chinh phục nhau và chỉ ra khỏi phòng khi đã mười giờ sang.
Đó là một ngày chủ nhật, một ngày chủ nhật thật sự, điều này có thể nhận thấy giữa khoảng không một vài đàn chim cốc bay tản mạn, uể oải không giống như mọi khi. Khi trở lại đài chỉ huy, anh ta gặp một nhóm thủy thủ đang từ tháp chỉ huy đi xuống, trong đó có người điện báo viên vẻ mặt đang cố giấu sự bực tức. Nhưng chẳng mấy chốc nữa anh ta cũng sẽ đạt được mục tiêu như Ferrer, đối với anh chàng điện báo viên này, dù thế nào chăng nữa thì đây chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi, kẻ tình địch sẽ bị loại bỏ, dù hắn đã đạt được mục tiêu, hắn sẽ phải từ biệt thuyền trưởng, thủy thủ đoàn trên đài chỉ huy, quay lại phòng ngủ thu dọn va li rồi cuốn xéo.
Ferrer xuống tàu ở vịnh Wager Bay, nhanh chóng tiếp tục cuộc hành trình. Hôm đó, sương mù dày đặc, bầu trời như sà xuống giống như một mái trần thấp lè tè, che lấp tất cả mọi đỉnh núi xung quanh và cả những đài tháp cao nhất của những con tàu, nhưng đồng thời ánh sáng từ những ngọn đèn pha cũng rực rỡ hơn. Đặt chân xuống đất, Ferrer nhìn con tàu phá băng Des Groseillers như vỡ ra giữa đám sương mù đó, toàn bộ thân tàu đồ sộ như bị hòa tan ngay lối ngoặt rồi những đường nét của nó cuối cùng cũng biến mất ngay ở chỗ giao nhau.
Ferrer nhanh chóng rời khỏi cảng Wayger Bay: ở đây chỉ có mươi chiếc nhà nhỏ, mái tôn lượn song đã hoen rỉ có trổ những cửa sổ ánh lên màu đất son bụi bặm. Những ngôi nhà nép mình quanh một cột cờ dựng đứng, một vài đường phố sơ sài vừa đủ để hiểu đây là con phố, lối đi chật hẹp ngoằn ngoèo, mặt đường gồ ghề bởi những lớp băng bẩn thỉu đọng lại, nhiều đống tuyết bịt cả lối đi, các ngã ba ngã tư được trải những tấm kim loại dày hoặc bê tông, những mảnh nhựa lâu ngày cứng queo. Một lá cờ mở căng cứng còng như một đường thẳng băng, tuyết bám đầy theo chiều ngang, lá cờ bất động trên đỉnh cột, bóng cột đổ dài tới tận chân lá cờ hiệu sân bay trực thăng.
Sân bay trực thăng nhỏ bé này nằm gần bên một ga hàng không nơi Ferrer sẽ lên máy bay để đến Port Radium, trên chiếc máy bay nhãn hiệu Saab 340 Cityliner chở khoảng sáu người nhưng trên khoang lúc này ngoài Ferrer ra chỉ có một kĩ sư không lưu thuộc trạm khí tượng Eureka. Năm mươi phút sau máy bay tới Port Radium, cũng như ở Wager Bay, giống như đám anh em không hợp nhau, Ferrer gặp những người hướng dẫn. Họ là dân địa phương, một người tên là Angoutretok và người kia là Napaseekadlak, cả hai khoác những tấm chăn lông được làm bằng chất liệu synchilla, những bộ quần áo lót giữ nhiệt bằng chất liệu capilène, bộ quần áo của họ có chất phát quang và găng tay được trang bị hệ thống sưởi ấm. Họ là dân thuộc huyện Tultoyatuk bên cạnh, dáng người cả hai gần như nhau, nhỏ bé nhưng béo mập, chân ngắn và bàn tay rất nhỏ, gương mặt ngũ giác không có râu, nước da vàng, gò má lồi và tóc cứng, đen và răng thì trắng nhởn. Sau khi làm quen với nhau, họ đưa Ferrer về phía lũ chó kéo xe.
Bầy chó săn ngồi chồm hổm phía trong tường rào vây quanh một con đầu đàn, những con chó lông xồm, bẩn thỉu, màu lông đen ngả màu vàng hoặc vàng, bám đầy chấy rận và tính nết của chúng thật khó chịu. Nếu chúng tỏ ra không mấy thiện cảm với những người đàn ông này, thì họ cũng chẳng yêu quý gì chúng, chẳng bao giờ vuốt ve chúng, lũ chó cũng có vẻ không thân thiện với nhau lắm: những ánh mắt nhìn nhau chỉ bộc lộ sự thèm khát và nganh tị. Ferrer nhanh chóng hiểu ra rằng không có con nào trong đám chó này có thể giao lưu được với con người. Khi một con trong đàn bị gọi – mỗi con được đặt cho một cái tên – nó quay lại rồi lập tức quay đi nếu không nhìn thấy cái gì có thể ăn được. Khi bị buộc phải làm việc, nó không phản ứng gì cả, người ta thường dùng con đầu đàn để bắt cả đàn làm việc. Con đầu đàn này ý thức được tầm quan trọng của nó, cho nên hay lên mặt, chỉ đáp lại tiếng gọi bằng nửa con mắt, con mắt nổi giận trong cơn stress, con mắt lơ đễnh của cô thư kí đang ngồi sửa sang móng tay.
Họ trang bị súng carabine Savage 116FFS, ống nhòm 15x45 IS có thiết bị ổn định hình ảnh, dao và roi. Con dao của Napaseekadlak thật tuyệt vời, rất mềm dẻo, rất bền và cán xốp cầm trong tay rất vừa khéo. Còn dao của Angoutretok không phải là một con dao truyền thống, đó là một con dao White hunter II Puma, cán bằng Kraton.
Ra khỏi Port Radium, họ nhập vào một đoàn diễu hành nhỏ. Đây đó vài tảng băng tuyết sụt xuống, vỡ ra tung tóe trên những tảng đá giống như mảng bọt bên thành thùng bia bốc rỗng. Mọi người nhanh chóng tiến lên, họ bị chao lắc mạnh trên chiếc xe trượt bởi mặt đất lòi lõm. Ban đầu, Ferrer cố gắng nói vài điều gì đó với những người hướng dẫn, chủ yếu là với Angoutretok, anh ta biết chút ít tiếng Anh, còn Napaseekadlak chỉ biểu hiện thái độ bằng nụ cười mà thôi. Một điều đặc biệt là ở khu vực này, khi nói, giọng nói phát ra, chỉ ngân vang được một khoảng ngắn rồi bị bóp méo: những lời nói như bị đóng băng ngay lại giữa không khí, sau đó chỉ cần chìa bàn tay ra, lập tức những lời nói ấy rơi xuống, lả tả, lời nói nhẹ nhàng tan ra giữa những ngón tay trước khi tắt ngấm trong tiếng nấc.
Muỗi, muỗi nhiều vô kể, tấn công dồn dập nhưng thật may mắn là chúng rất dễ dàng bị giết chết. Trong những vùng đất như thế này, trên thực tế loài vật không hiểu biết gì về con người, chúng không hề cảnh giác với họ: bàn tay vung lên, nhưng những con muỗi không tìm cách lẩn tránh. Giết bao nhiêu cũng không ngăn nổi chúng tiếp tục cuộc chiến, hàng chục con tấn công ào ào, đốt xuyên qua áo quần nhất là vùng gần vai, đầu gối là những chỗ vải bị kéo căng ra. Giả thiết họ muốn chụp một bức ảnh thì có lẽ cũng không sao chụp nổi vì chúng bám dày đặc che lấp cả ống kính. Nhưng họ không có máy ảnh, họ đến đây không phải để chụp ảnh. Để bịt những lỗ thoát khí trên chiếc mũ, họ vừa bít vừa xua, đập vào hai bên sườn. Một lần họ trông thấy một con gấu trắng thấp thoáng ở phía xa nên không có cơ hội chiêm ngưỡng được tính hung dữ của nó.
Lũ chó chính là những kẻ mới gây ra lắm chuyện. Chẳng hạn một buổi sáng, Ferrer bị hất tung ra khỏi xe trượt rơi tõm vào một đống tuyết, chiếc xe bị mất thăng bằng tiếp tục chạy loạng quoạng. Đáng lẽ phải dừng lại, thì lũ chó cứ tưởng là chúng được tự do, đồng loạt chạy nháo nhào ra mọi hướng. Chiếc xe trượt cuối cùng bị đổ nghiêng rồi kẹt lại ngang đường, lũ chó chịu đứng im ở đầu dây kéo, nhưng ngay lập tức chúng cất tiếng sủa om sòm cắn xé nhau ầm ĩ. Ferrer cố gắng chống tay đứng dậy phủi quần áo. Angoutretok tìm cách trấn an lũ chó bằng roi vọt nhưng chẳng ăn thua gì, càng kích động chúng hăng tiết thêm: thật khó khăn mới làm cho chúng bình tĩnh trở lại, con chó đầu tiên bị đánh đòn phản ứng ngay lập tức cắn vào con bên cạnh, rồi con bên cạnh lại cắn con tiếp theo, cứ thế lũ chó xâu xé lẫn nhau, cuộc xung đột mỗi lúc một lan rộng, không kiểm soát được. Phải rất vất vả họ mới làm chủ được tình hình. Đoàn người lại tiếp tục lên đường. Ngày hè ở địa cực kéo dài, không bao giờ có đêm.