Anh đi đây, Ferrer nhỏ nhẹ, tạm biệt em. Anh để lại cho em tất cả. Anh đã quyết định rồi, anh đi đây. Suzanne nhìn xuống mặt đất, ánh mắt vô định, thẫn thờ lướt khắp căn phòng rồi dừng lại vô cớ nơi ổ điện. Félix Ferrer đặt chìa khóa lên bậc cửa lối ra vào, cài nốt hàng cúc áo măng-tô, bước ra ngoài rồi đưa tay nhẹ nhàng khép cánh cửa lại.
Ra đến ngoài, Ferrer không ngoái nhìn chiếc xe của Suzanne đang đỗ lặng lẽ dưới ngọn đèn đường đỏ quạch, cửa kính xe phủ mờ hơi nước, mà lặng lẽ rảo bước về phía bến tàu điện ngầm Corentin-Celton cách đó khoảng sáu trăm mét. Tối chủ nhật tuần đầu tháng một, mới chín giờ mà chuyến tàu gần như vắng tanh. Cả toa khoảng chục người đàn ông đơn độc, và Ferrer, từ hai mươi lăm phút lại đây, trở thành một trong những người đàn ông như thế. Anh ta có vẻ hài lòng tìm được một khoang ghế trống như đã đặt chỗ trước vậy và cảm thấy rất thoải mái được ngồi một mình như thế trong tàu điện ngầm. Tối nay, Ferrer hầu như không bận tâm tới bất cứ điều gì, hoàn toàn thư giãn, kể cả việc chia tay với Suzanne, một người đàn bà cực kỳ khó tính. Ferrer đã chuẩn bị đón nhận cơn thịnh nộ của Suzanne, cô ta sẽ phản ứng quyết liệt, la hét đầy hăm dọa và lăng mạ nặng nề, nên Ferrer không áy náy một chút nào nhưng chính sự thanh thản ấy lại là nguyên nhân khiến cho anh ta phiền lòng.
Đặt chiếc hòm nhỏ đựng quần áo và vài thứ lặt vặt khác xuống bên cạnh, Ferrer ngước mắt nhìn những tấm biển quảng cáo, cố gắng giải mã những thông tin về đất cát và bất động sản. Một lúc sau, quãng giữa bến Vaugirard và Volontaire, Ferrer mở hòm lấy cuốn sách quảng cáo danh mục bán đấu giá các tác phẩm nghệ thuật cổ truyền Thổ Nhĩ Kỳ, lật xem từng trang cho tới khi tàu đến bến Madeleine, anh ta bước xuống tàu.
Xung quanh nhà thờ Madeleine, những vòng hoa kết bằng bóng đèn điện nâng giữ những ngôi sao đã tắt ngấm treo lủng lẳng trên những đường phố lúc này còn quạnh vắng hơn cả trong tàu điện ngầm. Những cửa kính trang hoàng lộng lẫy của những cửa hiệu sang trọng gợi lại cho lữ khách qua đường vô tình rằng họ vẫn đang sống với những ngày lễ hội cuối năm. Cô độc trong chiếc áo măng tô, Ferrer đi vòng qua nhà thờ hướng về phía một con số chẵn trên phố Arcade.
Ferrer phải mở hết hàng cúc áo để lấy cuốn sổ ghi mã số mở cửa ra vào khu chung cư, tay trái thò vào lấy cuốn sổ để tận túi trong, tay phải móc cặp kính trong túi ngực. Cánh cửa được mở ra, Ferrer bỏ qua thang máy, nhằm cầu thang thường bước đại lên. Anh ta leo lên đến tầng sáu, không đến nỗi đứt hơi như tôi tưởng, bước đến trước một cánh cửa sơn màu gạch đỏ cẩu thả, có hai thanh nẹp đứng, chứng tích ít nhất của hai lần cạy cửa đột nhập vào phòng. Trên cánh cửa, không ghi tên chủ nhân, chỉ có một bức ảnh đóng đinh ghim, các góc đã bong ra phồng lên, in hình thi thể của Manuel Montoliu, dũng sĩ đấu bò tót gốc gác nông phu, bị con bò Cubatio đâm thủng tim, hình như đó là bìa một cuốn sách đề ngày 1 tháng 5 năm 1992: Ferrer khẽ khàng gõ hai lần lên chỗ tấm ảnh đó. Trong lúc chờ đợi, Ferrer nhẹ nhàng luồn mấy ngón tay phải sang cánh tay trái, chỗ cổ tay nổi đầy những đường gân và mạch máu xanh chằng chịt dưới làn da trắng. Một mái tóc màu nâu rất dài, gương mặt nữ chủ nhân chưa quá tuổi ba mươi, cao không dưới một mét bảy lăm, tên là Laurence, mở cửa phòng, không chào hỏi gì, mỉm cười với Ferrer rồi đưa tay khép cánh cửa lại. Sáng ngày hôm sau, khoảng mười giờ, Ferrer quay trở lại xưởng vẽ.