Tôi Đi Đây

Lượt đọc: 424 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11

Lễ tang của Delahaye không được tổ chức, chỉ có lễ ban phước lành tại một nhà thờ nhỏ trong vùng Alesía, vào cuối buổi sáng. Khi Ferrer đến nơi thì đã thấy rất đông người tụ tập ở đó nhưng không nhận ra người quen nào cả. Ferrer không nghĩ Delahaye lại còn đủ cả bố mẹ và bạn bè đông đến như vậy, nhưng có thể đó là những con nợ cũng nên. Kín đáo, Ferrer tìm một chỗ trống trong góc nhà thờ, không phải trong dãy ghế cuối cùng cũng không phải phía sau một cây cột mà là dãy ghế gần phía cuối và không quá xa cây cột.

Những người này vừa mới tới nơi, họ đang đi lại lộn xộn, và một số khác đang đi vào: để tránh những ánh mắt, Ferrer cúi xuống ngắm nhìn đôi giày của mình nhưng sự thanh thản của anh thật ngắn ngủi: len lỏi ngược dòng người đang đi vào, một người đàn bà xanh xao má trũng sâu đến gặp Ferrer: vợ góa của Delahaye. A, Ferrer thốt lên, anh ta không biết và cũng không bao giờ nghĩ rằng Delahaye đã lấy vợ. Tốt thôi, anh ta đã có vợ, thế thì tốt cho anh ta thôi.

Tuy nhiên, vợ Delahaye cho biết cô ta và Delahaye từ sáu năm nay đã ly thân, ai ở nhà nấy, mặc dù nhà của hai người rất gần nhau, đúng thế. Dù đã thỏa thuận với nhau một cuộc sống như vậy, nhưng cứ ba ngày một lần họ gọi điện cho nhau và trong trường hợp ai đó vắng nhà thì mỗi người đều có chìa khóa của nhau để đến chăm sóc cây cảnh trồng trong nhà và nhận giúp thư từ. Nhưng một tuần nay, cô ta lo lắng không biết vì sao Delahaye lại im lặng, sau nhiều lần đắn đo, cô quyết định đến nhà anh ta và trông thấy thi thể Delahaye nằm còng queo giữa tấm thảm trong phòng tắm. Đó là một vấn đề đáng lưu tâm đối với những người sống độc thân, cô ta kết luận kèm theo ánh mắt vẻ dò hỏi. Đúng thế, Ferrer tán thành. Rồi bà vợ Delahaye, cô ta nói tiếp, đã được nghe rất nhiều lần anh ấy nói về Ferrer, Louis-Philippe rất quý mến anh, cô ta khẩn thiết đề nghị Ferrer đến ngồi bên cô ta ở hàng ghế đầu tiên. Rất sẵn lòng, anh ta nói một cách giả dối, và miễn cưỡng đi đến. Nhưng đây là lần đầu tiên, Ferrer thú nhận, anh ta dự một cuộc hành lễ như thế này, đây là dịp tốt để anh ta mục kích một đám tang diễn ra như thế nào.

Thực tế thì cũng khá đơn giản. Quan tài để trên cái mễ, có chân ở phía trước. Phía cuối quan tài, có đặt một vòng hoa. Vị cha cố đứng ở phía sau cánh trái và người đón khách đứng ở mặt trước cánh phải – thân hình vạm vỡ, mặt đỏ au của ông bác sĩ tâm lý, giọng nhỏ nhẹ, ăn vận quần áo đen, tay phải cầm que rảy nước phép. Rồi có nhiều người đến dự lễ. Khi gian chính nhà thờ gần như chật cứng im phăng phắc, cha cố cất giọng đọc vài câu cầu nguyện, tiếp theo là sự tỏ bày lòng thành kính đối với người quá cố, sau đó, cha cố mời mọi người vào viếng, họ lần lượt đi đến kính cẩn nghiêng mình trước linh cửu, rồi cầm que vẩy nước phép cầu cho vong hồn người quá cố được bình an, mọi người có thể tự chọn cách tỏ bày lòng thương tiếc. Buổi lễ diễn ra khá ngắn ngủi và chẳng mấy chốc đã kết thúc, Ferrer chăm chú theo dõi đám người đang cúi đầu trước linh cữu của Delahaye, thì người vợ của người quá cố cấu vào tay, hất cằm chỉ vào cái quan tài đồng thời đôi lông mày nhíu lại. Ferrer nhíu mày tỏ vẻ không hiểu gì cả, người đàn bà góa lại phải nhíu mày và hất cằm chỉ vào quan tài một lần nữa, đồng thời bấm vào cánh tay anh ta mạnh hơn và đẩy mạnh anh ta lên phía trước. Hình như đến lúc Ferrer cũng phải làm như mọi người. Anh ta đứng lên, mọi người dồn mắt về phía anh ta, Ferrer tỏ ra lúng túng nhưng cố trấn tĩnh dấn bước lên. Anh ta không biết phải làm như thế nào, bởi chưa bao giờ anh ta phải làm như vậy.

Người chủ lễ trao cho Ferrer cái que rảy nước phép, Ferrer cầm lấy mà không biết chắc chắn là mình đã cầm đúng chiều chưa, rồi đưa que vảy nước phép lên không theo một nguyên tắc lễ nghi nào cả. Anh ta vung que làm một vài vòng tròn và bán khuyên, một tam giác, một dấu thập ngoặc Saint-Andre, rồi đi vòng quanh quan tài trước những cặp mắt kính kinh ngạc của mọi người. Anh ta không biết khi nào phải dừng lại và không biết phải dừng lại như thế nào cho tới khi đám đông bắt đầu cất tiếng rì rầm và rồi người chủ lễ phải nắm lấy tay áo kéo anh ta về chỗ ngồi ở hàng đầu. Giật mình và ngạc nhiên bởi cú kéo tay khá mạnh của người chủ lễ, Ferrer nâng cao cái que vảy nước phép trên cao, đột ngột buông ra: cái que rơi xuống đụng vào nắp quan tài bật lên một tiếng kêu khô khốc.

Về sau vì quá xúc động, lúc từ trong nhà thờ bước ra, Ferrer nhìn thấy người góa phụ của Delahaye đang trò chuyện với một người đàn bà trẻ: Thoáng vài giây, Ferrer nhận ra đó là Louise. Mặc dù cả hai đứng nói chuyện quay lưng về phía Ferrer, nhưng nhận ra anh ta đang nhìn họ nên cả hai chuyển ánh mắt về phía anh ta. Ferrer phải luồn lách giữa đám đông đứng thành từng nhóm nhỏ như từ trong rạp hát đi ra, tìm lối đi về phía họ. Mọi người quay lại nhìn bởi ai cũng nhận ra người diễn viên của cảnh cầm que rảy nước ban phép ban nãy.

Ferrer im lặng nên Louise chủ động nói ngay rằng cô ta chẳng có tin gì về Victoire cả. Người góa phụ, cũng không được vài lời thăm hỏi, nên bộc bạch rằng Delahaye ra đi là cả một khoảng trống lớn không có cái gì có thể bù đắp nổi. Buổi lễ kết thúc, cô ta nói một cách hứng khởi, hình như là có cái gì đó không thể tưởng tượng nổi là từ nay Delahaye không bao giờ trở lại nữa. Trong khi chờ đợi hoàn tất thủ tục khai tử, họ hẹn gặp nhau lần nữa ngoài nghĩa trang trong tiệc trà. Cứ như bị triệu tập lên công sở, Ferrer không thể lẩn tránh được. Đó là chuyện mai táng còn bây giờ phải trở về nhà ở phố Amsterdam cái đã rồi trở lại dự tang lễ mai táng sau. Một chiếc phong bì lớn màu be nhét dưới cửa ra vào, thường thì người ta đưa thư không đến vào giờ này, cho nên dấu hiệu ngày càng làm cho Ferrer lo lắng thêm gấp bội. Trên phong bì ghi rõ ràng tên và địa chỉ người nhận, còn nội dung thư là những thông tin liên quan đến con tàu Nechilik .

Qua 118 độ kinh tuyến và 69 vĩ độ bắc, cách vòng cực Bắc về phía bên kia khoảng hơn một trăm kilomet và chưa đến một nghìn dặm tính từ cực Bắc có lực hấp dẫn, xác thuyền đắm ở vịnh Amundsen, tại điểm giới hạn cực Bắc của vùng đất Tây-Bắc. Thành phố gần nhất là Port Radium. Ferrer kiểm tra lại thông tin trên tập bản đồ.

Đối với vùng cực, mỗi người có thể có cách xác định riêng, đó là những vùng đất rất khó thể hiện cụ thể trên bản đồ. Không bao giờ người ta có thể tìm thấy được vị trí chính xác của chúng. Từ hai vị trí chỉ chọn lấy một thôi. Trước hết người ta có thể tạm coi những địa cực là ở những điểm cao nhất và thấp nhất của hình cầu cổ điển, đường xích đạo được coi là đường trung tuyến nằm ngang. Nhưng ở vùng đất này mọi đặc điểm địa hình được nhìn từ một mặt cắt nằm ngang, do đó không thể nào nhìn thấy được đầy đủ, kết cục, những thông tin thu lượm được không thỏa mãn yêu cầu. Người ta có thể nhìn các địa cực từ phía trên chẳng hạn như từ một máy bay: những bản đồ địa hình như vậy đã xuất bản. Nhưng cách diễn đạt về các châu lục lại không theo thông lệ bình thường cho nên rất khó hiểu, thế nên, loại bản đồ này cũng không có giá trị thực tiễn cao. Tóm lại, vị trí địa lý các vùng địa cực vẫn rất khó hình dung theo mặt phẳng nằm ngang. Địa hình vùng địa cực bắt buộc người ta phải suy nghĩ, tưởng tượng đồng thời với rất nhiều khoảng cách và chiều kích thước khác nhau, nó đòi hỏi phải giải quyết rất nhiều vấn đề phức tạp trong việc xuất bản bản đồ. Tốt nhất là phải có một quả địa cầu, nhưng lúc này Ferrer lại không có. Cuối cùng anh ta đã tìm ra được những đặc điểm của vùng này: rất xa, rất trắng, rất lạnh. Sau một hồi suy nghĩ, ít nhiều đem lại cho Ferrer một số kết quả về vùng địa cực, bây giờ là lúc phải quay lại nghĩa trang. Ferrer ra khỏi nhà, một mùi thơm xông vào mũi: mùi nước hoa của người láng giềng cùng cầu thang.

Bérangere Eisenmann là cô gái cao lớn, tính tình vui nhộn, rất thích dùng nước hoa, đúng là cô ta rất vui tính, và hơi lạm dụng nước hoa: Ngay hôm Ferrer để ý tới cô ta, chỉ trong vòng vài giờ, mọi việc xem ra đã “xuôi chèo mát mái”. Cô ta sang nhà Ferrer uống vài ly rượu, rồi cả hai ra phố ăn tối. Cô ta nói tôi để cái túi lại đây có được không? Anh ta nói được chứ, cứ để túi của chị lại đây đi. Rồi buổi tối vui vẻ đầu tiên qua đi, Ferrer bắt đầu cảm thấy nghi ngại: những người đàn bà quá dễ gần gũi thường gây ra những vấn đề rắc rối, nhất là những người láng giềng cùng chung cầu thang. Không phải do các bà ấy hay thường xuyên lui tới, điều này nếu xảy ra thì có lẽ cũng tốt thôi, nhưng cái chính anh ta lại quá chủ động thăm hỏi họ, dù đôi khi miễn cưỡng. Tất nhiên, mọi sự đều có lí do của nó. Đương nhiên, cần phải biết rõ người ta cần cái gì.

Nhưng trước hết, ngay lập tức, vấn đề nước hoa được đặt ra. Extatics Elixir là loại nước hoa có mùi chua và hắc khủng khiếp, một thứ mùi đặc biệt pha trộn hương loại hoa cam cùng với mùi cống rãnh, làm cho anh ta ngạt thở. Mỗi lần Bérangère sang nhà, ngay sau đó anh ta phải lau rửa nhà rất kĩ càng. Phương thuốc tương đối hiệu nghiệm khi mùi nước hoa như lặn vào trong da thịt, là phải thay ga trải giường, khăn tắm, ném tất cả quần áo và máy giặt – chứ không vứt vào trong giỏ đựng đồ bẩn vì nếu làm như vậy, mùi nước hoa sẽ nhanh chóng lây lan sang tất cả mớ quần áo bẩn trong giỏ. Ferrer cũng mất rất nhiều thời gian để thông gió cho căn phòng, phải mất rất nhiều giờ sau, thứ mùi đặc biệt đó mới tan đi, nhưng thực tế thì cái mùi đó không bao giờ tan hết được. Mùi nước hoa đó hình như mạnh đến nỗi chỉ cần Bèrangère nhấc máy gọi là mùi hương có thể chạy theo đường dây tràn đến chiếm lĩnh cả căn phòng.

Trước khi gặp Bèrangère Eisenmann, Ferrer chưa bao giờ biết loại nước hoa Extatics Elixir này tồn tại. Lúc này đây, mùi nước hoa vẫn sực nức suốt đoạn hành lang đi qua để tới chân cầu thang máy, chỗ tấm thảm chùi chân: mùi hoa thoát ra từ lỗ tra chìa khóa, những khe hở bên mép cửa, mùi hương đeo đuổi anh ta tới tận nhà. Tất nhiên Ferrer có thể gợi ý cho Bèrangère thay đổi loại nước hoa khác nhưng lại ngại, và tất nhiên anh ta có thể tặng cho cô một loại nước hoa mình ưa thích nhưng những lập luận trái chiều làm cho anh ta thay đổi ý định, làm thế thì rồi lại quá gắn bó với cô ta, phiền toái lắm, a, đúng rồi, lạy Chúa, Bắc cực muôn năm.

Thôi, phải đến nghĩa trang Auteuil cái đã. Đó là một nghĩa trang nhỏ vuông vức, phía tây có một bức tường bao kín mít và phía bắc, phố Claude-Lorrain, với tòa công sở đồ sộ. Hai phía còn lại là những tòa nhà, mọi cửa sổ đều hướng ra phía nghĩa trang. Đây không phải là những khu nhà sang trọng như những ngôi nhà trên những con phố đẹp đẽ, mà đây là những dãy nhà thuộc loại HLM [10] , cửa sổ được cải tạo lại, từ những cửa sổ ấy, trong sự im lìm của khu nghĩa địa, những mụn vải bay như những mảnh khăn, rơi xuống, những tiếng ồn phát ra từ khu nhà bếp hoặc phòng tắm, ống thoát nước, những tiếng la hét om sòm cổ vũ những trò chơi điện tử, tiếng cãi cọ và la hét của con trẻ.

Một giờ trước khi những người đến dự lễ mai táng có mặt, ở đây không đông người như ở nhà thờ Alésia, một người đàn ông đi đến gặp bà gác cửa của một trong những dãy nhà ở đây, phía lối vào trên phố Michel-Ange. Người đàn ông cố đứng thẳng người, nói năng kiệm lời, gương mặt vô cảm và lạnh băng, anh ta mặt một bộ comle xám còn mới. Tôi không muốn đến xem căn phòng trên tầng năm, nghe nói người ta muốn cho thuê, anh ta nói, chính tôi đã gọi điện cho bà hôm thứ hai nói sẽ đến xem căn phòng đó. A, vâng, bà gác cổng nhớ lại, tên ông là Baumgarten phải không? …tner, người đàn ông chữa lại, Baumgartner. Tôi có thể lên xem căn phòng được không? Tôi không làm phiền bà chứ, tôi lên xem qua rồi sẽ quyết định có thuê hay không. Bà gác cổng trao chìa khóa căn phòng cho anh ta vài thứ và toàn màu sẫm, cũ rích, một cái ghế băng nhỏ hiệu Clic-Clac có những vết rạch màu nâu sủi lên chứng tỏ chiếc ghế làm bằng chất liệu đáng ngờ, một chiếc bàn bằng foocmica sứt mẻ, rèm cửa cứng quèo bám đầy bụi dầu mỡ và những tấm ri đô màu xanh dấp dính. Điều lạ là người đàn ông bước qua căn phòng mà không nhìn bất cứ thứ gì trong phòng, đi thẳng về phía cửa sổ. Anh ta mở hé cửa, đứng lấp ló phía sau cánh cửa, về một bên, từ bên ngoài không ai có thể thấy được, anh ta đứng khuất phía sau tấm ri đô. Từ vị trí đó, anh ta chú ý quan sát quang cảnh cuộc mai táng, sau đó lặng lẽ quay xuống gặp bà gác cổng, trả lời bà là không, căn phòng này không phù hợp với tôi, tối và ẩm ướt quá. Bà gác cổng cũng thừa nhận như vậy, có lẻ phải tu sửa lại thôi.

Thật tiếc, Baumgartner lai nói, bởi vì anh ta muốn tìm một căn hộ ngay trong khu chung cư này, người giới thiệu mô tả rất khác so với căn hộ anh ta vừa xem. Bà gác cổng không phải là người khó tính, ưa kiếm chuyện, chúc anh ta may mắn tìm được căn hộ như ý. Baumgartner quày quả bước đi xem một căn phòng khác nằm đầu đại lộ Exelmans. Đương nhiên, Baumgartner không thuê căn phòng ở phố Michel-Ange nữa.

« Lùi
Tiến »